Xuất khẩu ống thép gặp khó tại Canada

(HQ Online)- Cơ quan biên phòng Canada (CBSA) đã thông báo kết luận cuối cùng về phá giá trong cuộc điều tra bán phá giá đối với một số sản phẩm ống thép hàn các bon có xuất xứ hoặc nhập khẩu từ Việt Nam, với biên độ phá giá đưa ra dao động khá lớn từ 3,0%-54,2%.

Theo Cục Phòng vệ thương mại (Bộ Công Thương): Ngày 16/1 vừa qua, Cơ quan biên phòng Canada (CBSA) đã thông báo kết luận cuối cùng về phá giá trong cuộc điều tra bán phá giá đối với một số sản phẩm ống thép hàn các bon (CWP- carbon steel welded pipe) có các mã HS 7306.30.00.10; 7306.30.00.20; 7306.30.00.30 có xuất xứ hoặc nhập khẩu từ Việt Nam.

Theo kết luận này, biên độ phá giá dành cho các nhà sản xuất, xuất khẩu của Việt Nam tham gia trả lời bản câu hỏi điều tra là 3,0%-26,1%. Biên độ phá giá dành cho các nhà sản xuất, xuất khẩu khác là 54,2%.

CBSA cũng cho biết cơ quan có thẩm quyền sẽ tiếp tục điều tra về vấn đề thiệt hại của ngành sản xuất trong nước. Trong trường hợp kết luận tồn tại thiệt hại, Canada sẽ ban hành lệnh áp thuế vào ngày 15/2 tới.

Trước đó, vụ việc này được khởi xướng điều tra vào ngày 20/7/2018 với thời kỳ điều tra từ 1/7/2017-30/6/2018. Nguyên đơn của vụ việc là Công ty Novamerivan Steel Inc.

Nguồn:baohaiquan

Hải quan Quảng Ngãi tặng quà Tết cho bàn con miền núi Trà Xinh

(HQ Online)-Thực hiện chương trình “Tết yêu thương – Xuân Đoàn kết 2019”, Đoàn thanh niên Chi cục Hải quan khu công nghiệp Quảng Ngãi- Cục Hải quan Quảng Ngãi vừa phối hợp với Công ty TNHH VSIP Quảng Ngãi trao tặng 80 phần quà cho bà con khó khăn miền núi thuộc xã Trà Xinh, huyện Tây Trà.  

Mỗi phần quà trị giá 500.000 đồng do sự chung tay góp sức của Công ty TNHH VSIP Quảng Ngãi và nguồn kinh phí tiết kiệm được từ hoạt động bán trái cây gây quỹ từ thiện của Đoàn Thanh niên Chi cục Hải quan khu công nghiệp Quảng Ngãi.

Theo chị Nguyễn Thị Thanh Hương, Bí thư Chi đoàn, với mong muốn mang đến chút tình xuân ấm áp và tấm lòng của đoàn viên thanh niên đến với bà còn miền núi, Đoàn thanh niên Chi cục Hải quan khu công nghiệp Quảng Ngãi kết hợp cùng với Công ty TNHH VSIP Quảng Ngãi tổ chức chương trình này vào dịp Tết Nguyên đán.

“Những phần quà tuy nhỏ nhưng thể hiện tấm lòng chia sẻ với bà con vùng xa xôi miền núi, với mong muốn góp phần để bà con có hoàn cảnh khó khăn của xã Trà Xinh đón Tết cổ truyền được ấm áp hơn”- Chị Hương chia sẻ.

Nguồn:baohaiquan

Xuất khẩu thủy sản 2019: Nhiều cơ hội từ giảm thuế quan

(HQ Online)- Năm 2019, các DN thủy sản sẽ có nhiều cơ hội đẩy mạnh xuất khẩu thủy sản do hưởng lợi thuế quan khi Hiệp định Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) đã chính thức có hiệu lực với Việt Nam. 

Xóa bỏ từ 97% đến 100% dòng thuế nhập khẩu

Theo Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu thủy sản Việt Nam, ngày 14/1/2019, Hiệp định CPTPP đã chính thức có hiệu lực với Việt Nam. Như vậy, Việt Nam đã trở thành quốc gia thứ 7 thực thi Hiệp định này. Ngoài hai hiệp định thương mại tự do (FTA) đa phương thế hệ mới là CPTPP và EVFTA thì các hiệp định FTA khác cũng được dự báo sẽ mang lại nhiều cơ hội thuế quan cho các DN thủy sản Việt Nam.

Các nước CPTPP cam kết xóa bỏ hoàn toàn từ 97% đến 100% số dòng thuế nhập khẩu đối với hàng hóa có xuất xứ từ Việt Nam, tùy theo cam kết của từng nước. Như vậy, gần như toàn bộ hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam, trong đó có thủy sản XK vào các nước CPTPP khác sẽ được xóa bỏ thuế nhập khẩu hoàn toàn ngay khi Hiệp định có hiệu lực hoặc theo lộ trình.

Chẳng hạn, Australia, thuế về 0% ngay khi hiệp định có hiệu lực với tất cả sản phẩm thủy sản (thuế cơ bản vốn là 0% trừ cá ngừ sọc dưa chế biến HS160414 giảm từ 5% xuống 0%)

Canada, tất cả hàng thủy sản về 0% ngay. Trong đó, các sản phẩm thủy sản hun khói có lợi thế do thuế giảm từ 4% về 0%; Chile, sản phẩm thủy sản đều được giảm từ 6% về 0% ngay.

Mexico, một số sản phẩm giảm từ 10-20% về 0% ngay. Một số sản phẩm cá: hồi, rô phi, thu, giò, kiếm, tôm… giảm theo lộ trình 5-10 năm; New Zealand, tất cả sản phẩm thủy sản thuế về 0% ngay. (Một số sản phẩm surimi và cá hộp giảm từ 5% về 0%).

Nhật Bản, hầu hết sản phẩm chế biến đang chịu thuế cơ bản 4,8 – 10,5% được giảm về 0% ngay, trừ sản phẩm từ cá trích, cá thu có lộ trình 6 năm và sản phẩm có gạo có lộ trình 11 năm. Sản phẩm HS03 bao gồm cá ngừ vây xanh, cá ngừ mắt to, cá ngừ albacore, cá hồi, cá trích, cá thu, cá cơm, cá kiếm, cá tuyết, cá minh thái lộ trình giảm thuế 6 – 11 năm…

EVFTA: Thuế thủy sản về 0% trong vòng 3-4 năm

Cuối tháng 10/2018, Ủy ban châu Âu (EC) đã thống nhất thông qua việc trình lên Hội đồng châu Âu để chấp thuận ký chính thức Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam – EU (EVFTA) dự kiến vào cuối năm 2018 và trình Nghị viện châu Âu phê chuẩn đầu năm 2019. Nhiều chuyên gia phân tích cho rằng, ngành thủy sản sẽ hưởng lợi ngay khi EVFTA có hiệu lực khi 90% dòng thuế đánh vào các mặt hàng thủy sản xuất khẩu qua EU sẽ giảm về 0% trong 3 – 4 năm (mức thuế nhập khẩu vào EU hiện tại khoảng 14%).

Khoảng 840 dòng thuế suất cơ sở (chiếm 50% số dòng thuế) đối với sản phẩm thủy sản hiện đang mức từ 0-22% (trong đó phần lớn thuế cao từ 6-22%) sẽ giảm về 0% khi Hiệp định có hiệu lực; 50% số dòng thuế cơ sở còn lại từ 5,5-26% sẽ về 0% sau từ 3-7 năm. Riêng sản phẩm cá ngừ đóng hộp và surimi, EU dành cho Việt Nam hạn ngạch thuế quan lần lượt là 11.500 tấn và 500 tấn.

VJEPA: Có 64/330 dòng thuế về 0% ngay; 28 dòng thuế (chiếm 71% XK gồm tôm sú, tôm chế biến, ghẹ, cua…) thực chất về 0%, các dòng còn lại vốn đã 0% hoặc hưởng 0% theo GSP.

Có 8 dòng thuế có lộ trình 3 năm từ mức thuế MFN 3,5% – 7,2%, chiếm 8% XK thủy sản bao gồm động vật thân mềm, cá đông lạnh.

Năm 2019, hoàn thành lộ trình cắt giảm thuế – cơ hội cho DN tận dụng tốt hơn ưu đãi thuế 0% đối với tất cả các dòng sản phẩm thủy sản.

Theo Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu thủy sản, để tận dụng được các cơ hội mà các FTA sẽ mang lại, các DN thủy sản cần nắm vững cam kết của Việt Nam; Tăng cường hợp tác giữa các doanh nghiệp, chú trọng liên kết chuỗi để nâng cao năng suất, chất lượng, kiểm soát tốt an toàn vệ sinh thực phẩm.

Nâng cao sức cạnh tranh của doanh nghiệp và sản phẩm xuất khẩu (đáp ứng các tiêu chuẩn chất lượng, kỹ thuật), nắm bắt thông tin quy định và rào cản thị trường để kịp thời ứng phó và đáp ứng.

Đẩy mạnh công tác xúc tiến thương mại tại thị trường các nước tham gia FTA, tăng cường truyền thông quảng bá sản phẩm thủy sản Việt Nam.

Đặc biệt, hiểu và áp dụng linh hoạt và trung thực quy tắc xuất xứ của các hiệp định FTA (chú ý hàng hóa phải đáp ứng quy tắc xuất xứ được quy định riêng cho mỗi FTA); Tìm kiếm và phát triển nguồn nguyên liệu trong nước, tại các đối tác FTA. Tận dụng tối đa ưu đãi về thuế quan (hiện nay tỷ lệ tận dụng thấp).

Nguồn:baohaiquan

Tỷ giá USD biến động trái chiều

(HQ Online)- Trong khi tỷ giá trung tâm giữa USD/VND được Ngân hàng Nhà nước (NHNN) niêm yết liên tục tăng mạnh thì tỷ giá tại các ngân hàng thương mại được giữ vững.

Cụ thể, ngày 21/1, tỷ giá trung tâm giữa VND và USD được NHNN công bố ở mức 22.870 VND/USD, tăng 8 đồng so với cuối tuần qua. Đây là mức tăng cao nhất từ trước đến nay của tỷ giá trung tâm.

Với biên độ ±3% đang được áp dụng, tỷ giá trần mà các ngân hàng áp dụng hôm nay là 23.555 VND/USD và tỷ giá sàn là 22.185 VND/USD. Tỷ giá tham khảo tại Sở giao dịch NHNN là 23.200 VND/USD (mua vào) và 23.498 VND/USD (bán ra).

Như vậy, tính từ đầu năm 2019 đến nay, tỷ giá trung tâm đã vọt tăng 45 đồng, tương đương tăng gần 0,2%. Bên cạnh đó, mức tăng cũng nhiều lần có sự đột biến mạnh, có những ngày tăng tới 13 đồng.

Theo các chuyên gia, động thái này của NHNN phù hợp với những biến động của kinh tế thế giới trong bối cảnh đồng USD đang có những diễn biến tăng. Hiện chỉ số USD index (chỉ số đo lường biến động đồng bạc xanh với 6 đồng tiền chủ chốt) đã tăng lên trên mức 96 điểm sau khi có những thông tin tích cực từ cuộc đàm phán thương mại Mỹ – Trung vừa qua.

Tuy nhiên, tại các ngân hàng thương mại, tỷ giá lại ổn định khi hầu như không đổi, hiện được niêm yết quanh mức 23.140-23.245 VND/USD (mua vào – bán ra).

Cụ thể, tính đến thời điểm 10 giờ sáng 21/1, tỷ giá USD tại Vietcombank và BIDV đều được niêm yết ở mức 23.155-23.245 VND/USD (mua vào – bán ra), tại Techcombank là 23.135-23.245 VND/USD, đều không đổi so với cuối tuần qua.

Có thể thấy, phản ứng trái chiều của thị trường ngoại tệ như hiện nay đã kéo dài từ cuối năm 2018. Thị trường ngoại tệ trong nước đã được hỗ trợ ổn định nhờ cán cân thương mại thặng dư, giải ngân USD cao và lường kiều hối đổ về Việt Nam tăng cao. Theo các chuyên gia, bối cảnh này sẽ giúp NHNN tăng cơ hội mua vào dự trữ ngoại tệ, giúp mục tiêu ổn định thị trường ngoại tệ được giữ vững.

Báo cáo của Công ty Chứng khoán Bảo Việt (BVSC) cho biết, trong tuần đầu tiên của năm 2019, NHNN đã hút ròng gần 46.800 tỷ đồng.

Theo thông tin từ Ủy ban Giám sát Tài chính Quốc gia, tăng trưởng tín dụng 2018 ước khoảng 14-15%, thấp hơn nhiều so với 3 năm liền trước. Vốn huy động tăng trưởng ổn định ở mức khoảng 15% trong đó huy động ngoại tệ tăng khoảng 17% cao hơn rất nhiều mức 2,1% của năm 2017 cho thấy tâm lý găm giữ ngoại tệ hiện rõ trong năm 2018. Việc duy trì chính sách lãi suất USD 0% và chênh lệch lãi suất cao giữa VND và USD sẽ giúp đảo ngược tâm lý này để hỗ trợ ổn định tỷ giá.

Như vậy, trong tâm điều hành chính sách tiền tệ sẽ hướng sang mục tiêu ổn định tỷ giá thông qua kiểm soát thanh khoản tiền đồng.

Tuy vậy, các chuyên gia nhận định, tỷ giá trong năm 2019 còn nhiều bất định và khó đoán, nhưng cũng sẽ xấp xỉ như năm 2018, ít có khả năng xảy ra những diễn biến giật cục ảnh hưởng tiêu cực đến tâm lý thị trường.

Nguồn:baohaiquan

Không nên quá lạc quan về khả năng đạt thỏa thuận thương mại Mỹ – Trung

(HQ Online)- Đây là khuyến nghị của Viện Nghiên cứu Quản lý kinh tế Trung ương (CIEM) khi nhận định về triển vọng kinh tế vĩ mô năm 2019.

Theo CIEM, Việt Nam bước vào năm 2019 với kỳ vọng về không ít cơ hội và thách thức đan xen. Niềm tin của cộng đồng DN trong và ngoài nước tiếp tục gia tăng sau những cam kết cải cách của Chính phủ cũng như khả năng ứng phó hiệu quả của Chính phủ trước cú sốc từ bên ngoài.

Các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới (CPTPP, EVFTA, RCEP) và cách mạng công nghiệp 4.0 có thể tạo thêm xung lực cho cải cách và tiếp cận nguồn lực (kỹ năng, công nghệ, vốn) từ bên ngoài.

Tuy nhiên, CIEM cho rằng, Việt Nam cần tiếp tục xử lý thách thức mang tính căn bản về chất lượng thể chế, hạ tầng và nguồn nhân lực. Cạnh tranh chiến lược giữa Mỹ và Trung Quốc còn tiếp diễn, buộc Việt Nam phải cân nhắc thấu đáo hơn trong tham gia các sáng kiến cho hai nước này dẫn dắt. Bản thân hoạt động kinh tế, thương mại và đầu tư có thể gặp khá nhiều bất định, đặc biệt trong nửa đầu năm 2019, do rủi ro suy giảm kinh tế ở không ít nền kinh tế chủ chốt.

Kịch bản mà CIEM dự báo cho nền kinh tế Việt Nam trong điều kiện “bình thường” trong năm 2019, phù hợp với kỳ vọng chung về bối cảnh kinh tế thế giới và tình hình phát triển kinh tế trong nước.

Theo đó, GDP của các đối tác tăng 2,9% vào năm 2019, mức giá của Hoa Kỳ tăng 2,44%, giá hàng nông sản xuất khẩu tăng 0,2%, giá dầu thô thế giới giảm 2,9% so với mức giá XK trung bình năm 2018.

Về phía Việt Nam, tỷ giá VND/USD trung tâm được điều chỉnh tăng 2%; tổng phương tiện thanh toán tăng khoảng 12,5%; tăng trưởng tín dụng ở mức 14% và giá NK giữ nguyên.

Về đầu tư, vốn thực hiện của khu vực FDI tương đương với năm 2018; đầu tư từ nguồn NSNN (bao gồm cả trái phiếu chính phủ) được bổ sung 400 nghìn tỷ đồng, theo kịch bản của CIEM, giả thiết ở đây là lượng vốn đầu tư này được giải ngân đều trong các quý của năm 2019.

Với bối cảnh trên, CIEM dự báo kết quả cho thấy tăng trưởng kinh tế năm 2019 ước đạt 6,93%, tăng trưởng XK dự báo ở mức 9,4%. Cũng trong 2019, thặng dư thương mại ở mức 2,04 tỷ USD và mức tăng giá tiêu dùng bình quân năm 2019 so với bình quân năm 2018 là khoảng 3,88%.

Theo CIEM, diễn biến kinh tế vĩ mô trong năm 2019 có thể chịu ảnh hưởng của một số yếu tố quan trọng. Trước hết căng thẳng thương mại Mỹ – Trung Quốc còn diễn biến khó lường, do còn phụ thuộc vào khả năng đàm phán thương mại (và mức độ thực chất của kết quả, nếu có) giữa Mỹ và Trung Quốc.

Tuy nhiên, các chuyên gia đến từ CIEM khuyến nghị, Việt Nam không nên quá lạc quan về khả năng đạt được thỏa thuận thương mại giữa Mỹ với Trung Quốc, bởi cả hai bên đều biết cạnh tranh quyền lực giữa hai bên không chỉ nằm ở vấn đề thương mại. Theo đó, bản thân Trung Quốc cũng hiểu nhượng bộ với Mỹ là không đủ để kết thúc chiến tranh thương mại, và cũng hiểu nhượng bộ với Mỹ là không đủ để giữ chân nhà đầu tư nước ngoài.

Bên cạnh đó, rủi ro suy giảm ở các nền kinh tế chủ chốt có thể ảnh hưởng đến nhu cầu đối với hàng XK của Việt Nam, trong bối cảnh ấy, hàng XK của Việt Nam có thể phải đối mặt với nhiều hàng rào kỹ thuật hơn ở các thị trường nước ngoài.

Cũng theo CIEM, việc thực hiện CPTPP, khả năng phê chuẩn EVFTA và khả năng kết thúc đàm phán RCEP có thể tạo thêm sức hút cho nhà đầu tư nước ngoài đến Việt Nam. Đồng thời, cam kết ổn định kinh tế vĩ mô trên cơ sở đánh giá đúng và kịp thời tình hình có ý nghĩa quan trọng để có những giải pháp điều hành linh hoạt. Ngoài ra, cộng đồng doanh nghiệp vẫn tiếp tục kỳ vọng vào những nỗ lực tái cơ cấu kinh tế, cải thiện môi trường kinh doanh của Chính phủ.

Nguồn:baohaiquan

Ban Chỉ đạo 389: Bắt giữ, xử lý 202.980 vụ việc vi phạm

(HQ Online)- Phát hiện, bắt giữ, xử lý 202.980 vụ việc vi phạm, thu nộp NSNN đạt 20.123,508 tỷ đồng, khởi tố 1.979 vụ và 2.339 đối tượng… Đây là kết quả nổi bật mà Ban chỉ đạo quốc gia chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả (Ban Chỉ đạo 389) đạt được trong triển khai công tác năm 2018.

Có thể thấy, năm 2018 hoạt động của Ban Chỉ đạo 389 quốc gia, các bộ, ngành và địa phương đã tiến hành đồng bộ, hiệu quả, theo đúng tiến độ và nhiệm vụ được Trưởng Ban giao tại Kế hoạch công tác năm 2018 của Ban Chỉ đạo 389 quốc gia.

Căn cứ vào tình hình thực tiễn, địa bàn, Ban Chỉ đạo 389 các địa phương đã xây dựng và triển khai Kế hoạch công tác chống buôn lậu, gian lận thương mại năm 2018 của địa phương. Triển khai các kế hoạch chuyên đề tăng cường đấu tranh của Ban Chỉ đạo 389 quốc gia, Văn phòng Thường trực. Thực hiện giao nhiệm vụ, chỉ tiêu phát hiện, bắt giữ cụ thể; tổ chức theo dõi, đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ theo các tiêu chí của Ban Chỉ đạo 389 quốc gia.

Nhiều Ban Chỉ đạo 389 các địa phương đã chủ động thành lập các đoàn công tác để kiểm tra, đôn đốc, giám sát việc thực hiện công tác chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả theo định kỳ, đột xuất trên địa bàn theo tuyến, mặt hàng trọng điểm… nhất là vào dịp trước, trong, sau Tết Nguyên đán. Các bộ, ngành khác, theo chức năng nhiệm vụ của mình đã hoàn thành nhiệm vụ chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả đạt kết quả tốt, như:

Trên tuyến biên giới đường bộ với địa bàn trọng điểm khu vực biên giới thuộc là các tỉnh: Quảng Ninh, Lạng Sơn, Cao Bằng, Lào Cai, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Tây Ninh, Long An, Đồng Tháp, An Giang… hoạt động buôn lậu, vận chuyển hàng hóa trái phép qua đường mòn, lối mở, chủ yếu là ma túy, pháo nổ, động vật hoang dã, đồ điện gia dụng, bách hóa tiêu dùng, gia cầm, phụ tùng máy móc, phế liệu, dược liệu, thuốc lá, đường, rượu… Các đối tượng buôn lậu lợi dụng địa hình phức tạp, sơ hở trong công tác quản lý của các lực lượng chức năng để hoạt động. Điển hình vụ lực lượng Bộ đội Biên phòng Cao Bằng bắt giữ 2,5 tấn pháo; vụ Hải quan An Giang bắt giữ 103 tấn hàng phế liệu giấy; vụ Cục C03 bắt giữ tại Lạng Sơn và An Giang, mỗi vụ gần 100 tấn hàng lậu.

Tại các cảng hàng không, bưu điện quốc tế với địa bàn trọng điểm là các cửa khẩu Cảng hàng không quốc tế Nội Bài, Tân Sơn Nhất và Đà Nẵng; bưu điện quốc tế, chuyển phát nhanh tại Hà Nội, TP Hồ Chí Minh. Hàng hóa vi phạm thường là hàng gọn nhẹ có giá trị kinh tế cao như vàng, ngoại tệ, sản phẩm động vật hoang dã, mỹ phẩm, tân dược, thực phẩm chức năng, thời trang cao cấp, đồ điện tử, rượu ngoại, xì gà… Đáng chú ý ngay sau khi hãng APPLE giới thiệu sản phẩm năm 2018, các đối tượng đã buôn lậu mặt hàng này với số lượng lớn như vụ lực lượng Hải quan phát hiện, thu giữ gần 1.200 điện thoại qua sân bay Nội Bài, hơn 200 điện thoại qua sân bay Tân Sơn Nhất…

Với tuyến đường biển, tại các cửa khẩu cảng biển quốc tế trọng điểm như khu vực Cảng Hải Phòng, Quảng Ninh, Đà Nẵng, TP. Hồ Chí Minh, Đồng Nai…, hoạt động buôn lậu, gian lận thương mại diễn ra phức tạp, với các thủ đoạn tinh vi, chủ yếu lợi dụng bất cập trong chế độ chính sách, các ưu đãi về thuế, tiêu chuẩn hàng hóa và công tác quản lý của các cơ quan chức năng. Hàng hóa vi phạm chủ yếu liên quan đến ma tuý, động vật hoang dã, máy móc thiết bị, hàng bách hóa. Đáng chú ý là vi phạm về nhập khẩu phế liệu. Điển hình là vụ cơ quan Hải quan bắt giữ 119 kg cocaine cất giấu trong container hàng sắt phế liệu nhập khẩu qua cảng Cái Mép; vụ bắt giữ 8 tấn vẩy tê tê và ngà voi cất giấu trong container phế liệu nhập khẩu qua cảng Tiên Sa, Đà Nẵng.

Tại vùng biển Đông Bắc, miền Trung và Tây Nam bộ, các đối tượng buôn lậu xăng dầu hoạt động rất mạnh, chúng móc nối với các đối tượng nước ngoài để đưa tàu chở xăng dầu tới các vùng biển giáp ranh để sang mạn, chuyển tải cho các tàu của Việt Nam. Một số đối tượng còn cải hoán tàu đánh bắt cá xa bờ thành tàu chở dầu, nhằm đối phó với cơ quan chức năng khi bị kiểm tra. Năm 2018, lực lượng Cảnh sát biển đã phát hiện, bắt giữ nhiều vụ, có vụ thu giữ gần 5 triệu lít dầu DO trị giá trên 57 tỷ đồng.

Trong thị trường nội địa, tình trạng sản xuất, vận chuyển, kinh doanh hàng hóa không có nguồn gốc xuất xứ, hàng giả, hàng kém chất lượng, hàng vi phạm quyền sở hữu trí tuệ vẫn diễn ra phức tạp ở nhiều nơi với nhiều mặt hàng như: phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, hàng bách hóa tiêu dùng, dược phẩm, thực phẩm chức năng, mỹ phẩm… Hoạt động buôn bán hàng hóa hàng giả, hàng kém chất lượng qua mạng Internet chưa được kiểm soát hiệu quả gây ảnh hưởng đến quyền lợi người tiêu dùng.

Với những nỗ lực của Ban Chỉ đạo 389 quốc gia, các bộ, ngành và địa phương đã làm tốt công tác ngăn chặn gian lận thương mại, hàng giả góp phần giữ gìn an ninh kinh tế đất nước.

Kết quả phát hiện, bắt giữ, xử lý vi phạm trong năm 2018

Số liệu sơ bộ năm 2018, các lực lượng chức năng cả nước đã phát hiện, bắt giữ, xử lý 202.980 vụ việc vi phạm (giảm 10 % so với cùng kỳ năm 2017), thu nộp NSNN đạt 20.123,508 tỷ đồng (giảm 12% so với cùng kỳ 2017), khởi tố 1.979 vụ (tăng 21% so với cùng kỳ 2017), 2.339 đối tượng (tăng 10% so với cùng kỳ 2017). Trong đó:

Lực lượng Công an đã phát hiện, xử lý 6.934 vụ việc; thu nộp NSNN đạt 200,988 tỷ đồng; khởi tố hình sự 1.000 vụ, 1.295 đối tượng.

Lực lượng Bộ đội Biên phòng phát hiện, xử lý 3.056 vụ việc vi phạm; thu nộp NSNN 46,844 tỷ đồng; khởi tố 856 vụ, 1004 đối tượng.

Lực lượng Cảnh sát biển phát hiện, xử lý 267 vụ vi phạm, tổng số tiền xử thu nộp ngân sách 122,657 tỷ đồng; khởi tố 61 vụ.

Lực lượng Hải quan thông qua hoạt động chống buôn lậu, thanh tra, kiểm tra sau thông quan đã phát hiện, xử lý 24.238 vụ việc vi phạm; thu nộp NSNN 2.807,284 tỷ đồng; khởi tố hình sự 62 vụ.

Lực lượng Thuế đã tổ chức thanh tra, kiểm tra 87.248 doanh nghiệp; tổng số thuế tăng thu qua thanh tra, kiểm tra là 16.438 tỷ đồng.

Lực lượng Quản lý thị trường phát hiện, xử lý 80.949 vụ việc vi phạm; thu nộp NSNN đạt 490,269 tỷ đồng.

Các cơ quan Thanh tra chuyên ngành đã phát hiện, xử lý 288 vụ việc vi phạm; thu nộp NSNN 17,462 tỷ đồng.

Nguồn:baohaiquan

Ngành điều tập trung đầu tư cho chất lượng, thương hiệu để vượt qua khó khăn

(HQ Online)- Với thị phần trên 60% tổng giá trị xuất khẩu nhân điều, ngành điều Việt Nam tiếp tục duy trì vị trí số 1 thế giới về chế biến, xuất khẩu nhân điều. Song những khó khăn của các năm trước vẫn tiếp tục kéo dài khiến nhiều DN bị thua lỗ.

Nhiều bất ổn

Hiệp hội Điều Việt Nam (Vinacas) đánh giá kết quả của năm 2018 là một “kỷ lục buồn” trong lịch sử ngành điều. Theo đó, dù sản lượng điều xuất khẩu tăng 7,8%, đạt 391.000 tấn nhưng giá trị lại giảm 3% so với năm 2017, chỉ đạt 3,52 tỷ USD.

Theo Vinacas, năm 2018 là năm mà thị trường nguyên liệu điều thô quốc tế có biến động mạnh, hàng trăm ngàn tấn điều thô nhập khẩu về Việt Nam và Ấn Độ trong quý II/2018 đã phải nằm chờ tại cảng và các kho ngoại quan trong thời gian dài. Nguyên nhân chủ yếu của tình trạng này nằm ở vấn đề chất lượng hàng hóa và khó khăn về tín dụng của DN nhập khẩu, bên cạnh đó là sự biến động quá nhanh và mạnh của thị trường điều nhân thế giới. Hầu hết các hợp đồng nhận hàng vào thời điểm cuối quý II, đầu quý III phải được xem xét lại về chất lượng, tái đàm phán và giảm giá. Điều này khiến cho chất lượng bình quân điều thô năm nay xấu hơn nhiều so với mọi năm do nguyên liệu chưa đủ độ khô cần thiết nhưng phải nằm trong container trong thời gian dài vận chuyển trên biển, nằm phơi nắng tại các cảng biển của Việt Nam và sau đó được đưa vào kho ngoại quan để bán lẻ nếu chưa được xử lý.

Theo báo cáo của Vincas, năm 2018, Việt Nam có 450 DN tham gia xuất khẩu nhân điều, nhưng chỉ có 40 DN hàng đầu có kim ngạch xuất khẩu từ 10 triệu USD trở lên- đây cũng là những doanh nghiệp có đầu tư trang thiết bị chế biến bài bản, áp dụng các tiêu chuẩn quốc tế (GMP, HACCP, ISO,…). Ngành chế biến điều tiếp tục có sự chuyển dịch mạnh mẽ từ chế biến các sản phẩm sơ chế sang chế biến sâu, đa dạng hóa sản phẩm, chế biến các sản phẩm hữu cơ… phục vụ xuất khẩu và tiêu dùng nội địa. Theo đánh giá của một số tổ chức giám định chất lượng (Vinacontrol, Cafecontrol, SGS,…), năm 2018 nhìn chung chất lượng điều nhân xuất khẩu từ Việt Nam tiếp tục được cải thiện, ít có những trường hợp hàng hóa bị trả về. Tuy nhiên, do số lượng cơ sở chế biến điều lớn, nhiều đầu mối xuất khẩu và nhiều doanh nghiệp thương mại thuần túy (không tham gia chế biến) nên việc kiểm soát chất lượng tiếp tục gặp nhiều khó khăn.

Bên cạnh đó, quan hệ giữa người bán và người mua trên thị trường điều thô ở tình trạng báo động. Người bán không còn mặn mà với nguyên liệu so với những năm trước đây do năm nay không chỉ các DN nhập khẩu mà còn có cả các DN bán điều thô lỗ nặng. Đáng chú ý, nhiều DN nhỏ và DN môi giới, mặc dù không có tiềm lực về tài chính nhưng vẫn tham gia tích cực trên thị trường điều thô nên đã gây xáo trộn trên thị trường nguyên liệu. Ngày càng có nhiều DN trong và ngoài nước tham gia thị trường, đầu tư cơ sở chế biến điều tại Việt Nam, đặc biệt một số cơ sở chế biến được đầu tư trong các khu chế xuất dọc khu vực biên giới Việt Nam và Trung Quốc, cận tuyến “một vành đai – một con đường” của Trung Quốc,…

Trước những khó khăn của ngành điều, ngành ngân hàng đã siết chặt cho vay tín dụng nhập khẩu điều thô do e ngại rủi ro, đặc biệt đối với những đối tượng khách hàng là DN nhỏ, DN mới tham gia thị trường điều… Điều này khiến cho không ít DN phụ thuộc nhiều vào vốn vay ngân hàng đã phải đàm phán lại với đối tác, thậm chí buộc phải hủy hợp đồng, chấp nhận mất cọc. Theo Vinacas, năm nay các tranh chấp thương mại xảy ra với tần suất và mức độ cao hơn so với mọi năm. Hầu hết DN chế biến điều nhân đều rơi vào cảnh thua lỗ.

Đầu tư cho chất lượng, thương hiệu

Trước bộn bề khó khăn, ông Cao Thúc Uy, Ủy viên Ban thường vụ Vinacas khuyến cáo DN chế biến không nên tích trữ tồn kho điều thô từ đầu năm. Bởi trong niên vụ 2019, ước tính lượng cung điều thô thế giới sẽ vượt cầu khi sản lượng từ các khu vực sản xuất chủ lực như châu Phi, Campuchia đều tăng mạnh – do nông dân tại đây sản xuất có hiệu quả với giá thành ở mức khá hợp lý. “Campuchia sẽ có mùa thu hoạch rầm rộ trong khoảng 15 ngày tới. Kinh nghiệm là nhìn động thái của người mua mà DN chế biến làm theo. Họ chỉ thích kỳ hạn 2-3 tháng thì DN chế biến cũng nên mua điều thô nguyên liệu theo chu kỳ đó để hạn chế thiệt hại” – ông Uy nói. Ông Nguyễn Minh Họa, Phó Chủ tịch Vinacas cũng cho biết, các nước châu Phi đã đầu tư vào chế biến điều nhưng chưa hiệu quả nên trong vòng 5 năm tới vẫn phải xuất khẩu điều thô cho Việt Nam và Ấn Độ, do đó, DN không nên tranh mua sớm giá cao.

Trong khi đó, ông Phạm Văn Công, Chủ tịch Vinacas cho hay ngành điều đang tích cực xây dựng Hội đồng hòa giải và Hội đồng thông tin. Hiện Hội đồng Hòa giải đã và đang hỗ trợ xử lý nhiều tranh chấp mua bán. Theo ông Công, DN chế biến điều Việt Nam cần nghiêm túc thực hiện và tôn trọng các quy định, thông lệ của thương mại quốc tế. Bởi hiện nay các vụ tranh chấp xảy ra đa phần là do hồ sơ mua bán của đôi bên đều không đầy đủ.

Trong bối cảnh còn nhiều khó khăn, ngành điều đặt mục tiêu duy trì xuất khẩu 350.000 tấn điều nhân các loại trong năm 2019. Đồng thời tối đa hóa giá trị xuất khẩu thông qua việc đẩy mạnh phát triển chế biến, xuất khẩu nhân điều có hàm lượng giá trị gia tăng cao theo chủ trương “giảm lượng, tăng chất”. Để đạt được mục tiêu đó, Vinacas đề nghị Bộ Công Thương hỗ trợ tiếp tục triển khai chương trình thương hiệu thực phẩm Việt Nam “Cashew of Vietnam” và các chương trình hỗ trợ xây dựng Thương hiệu Quốc gia cho sản phẩm và DN, hỗ trợ thông tin và đào tạo, thiết kế sản phẩm của DN,…

Vinacas cũng đề nghị Bộ Tài chính nghiên cứu các giải pháp nhằm kiểm soát hoạt động của các DN thương mại nước ngoài, DN FDI đang hoạt động tại Việt Nam để khuyến khích các DN này đầu tư vào chế biến sâu, thay vì chỉ kinh doanh, mua bán nguyên liệu dưới hình thức gia công xuất khẩu, gây tác động không nhỏ đến thị trường điều Việt Nam trong thời gian qua.

Ngoài ra, Vinacas cho biết, Hiệp hội đã phối hợp cùng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (thông qua Cục Chế biến và Phát triển thị trường nông sản) và một số cơ quan chức năng xây dựng thành công Tiêu chuẩn Quốc gia (TCVN) về hạt điều thô, dự kiến ban hành chính thức vào năm 2019. Đây là bộ tiêu chuẩn quốc gia đầu tiên về hạt điều thô. Việc ban hành tiêu chuẩn quan trọng này sẽ giúp DN giảm thiểu những vấn đề về chất lượng hàng hóa trong thương mại điều thô trong thời gian tới.

Thêm vào đó, trong những tháng cuối năm 2018, ngành Tài chính và Hải quan đã đẩy mạnh việc thực hiện các quy định của Luật Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu và tăng cường kiểm soát hoạt động nhập khẩu để gia công hàng xuất khẩu. Theo đánh giá của một số chuyên gia ngành điều, đây là việc làm cần thiết để lập lại trật tự trên thị trường nguyên liệu và giảm thiểu tình trạng cạnh tranh không lành mạnh.

Nguồn:baohaiquan

Hải quan Hải Phòng: Chú trọng công tác đào tạo trong lĩnh vực kiểm tra sau thông quan

(HQ Online)- Năm 2018, việc tổ chức thành công nhiều lớp đào tạo nhằm nâng cao trình độ, năng lực cho CBCC là một nét nổi bật của Chi cục KTSTQ (Cục Hải quan Hải Phòng).

Trao đổi với phóng viên Báo Hải quan, Chi cục trưởng Chi cục KTSTQ Trần Mạnh Cường cho biết: Yêu cầu đặt ra với lực lượng KTSTQ là phải xây dựng được lực lượng chuyên sâu, chuyên nghiệp. Bên cạnh đó, đội ngũ CBCC công tác trong lĩnh vực này vẫn phải thực hiện quy định về luân chuyển vị trí công tác.

“Để đáp ứng được cả 2 yêu cầu nhiệm vụ nêu trên, năm 2018, Chi cục đặt ra kế hoạch tăng cường công tác đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ cho công chức trong toàn Chi cục. Điều này góp phần giúp cho đội ngũ công chức kịp thời tiếp cận, nắm bắt và triển khai hiệu quả công việc, nhất là những công chức đến nhận nhiệm vụ ở những lĩnh vực mới”- ông Trần Mạnh Cường chia sẻ.

Chỉ trong năm 2018, Chi cục KTSTQ Hải Phòng đã tổ chức được 24 lớp đào tạo cho gần 600 lượt CBCC, bình quân đạt 2 lớp/tháng. Trực tiếp truyền thụ, chia sẻ kiến thức là lãnh đạo Chi cục và lãnh đạo các đội nghiệp vụ. Các nội dung tập huấn được lãnh đạo đơn vị lựa chọn là những vấn đề có liên quan mật thiết đến công tác KTSTQ cũng như lĩnh vực kiểm tra đặc thù của đơn vị như trị giá; mã số; phân loại hàng hóa đối với thức ăn chăn nuôi; kỹ năng nghiệp vụ kiểm tra chứng từ, hồ sơ, sổ sách kế toán doanh nghiệp…

Năm 2018, Chi cục KTSTQ Hải Phòng thực hiện 612 cuộc kiểm tra, trong đó có 124 cuộc tại trụ sở doanh nghiệp, tổng số tiền thu, nộp ngân sách đạt 2.929 tỷ đồng.

Điển hình như buổi tập huấn “Công tác KTSTQ chuyên đề gia công – sản xuất xuất khẩu- chế xuất (GC-SXXK-CX) và chính sách thương mại trong giai đoạn hiện nay” được Chi cục tổ chức cuối tháng 12/2018 mới đây. Tại buổi tập huấn, lãnh đạo Chi cục KTSTQ đã cập nhật các nội dung liên quan đến hoạt động XNK hàng hóa đối với loại hình GC-SXXK-CX và chính sách thương mại; công tác KTSTQ lĩnh vực GC-SXXK-CX và chính sách thương mại. Trong đó, lãnh đạo Chi cục tập trung vào những nội dung cơ bản, từng chuyên đề cụ thể và các vấn đề cần lưu ý, dấu hiệu rủi ro mới trong giai đoạn hiện nay, xây dựng bộ tiêu chí đánh giá rủi ro để đưa ra phương pháp kiểm tra sát với nội dung của tiêu chí rủi ro…

Hay liên quan đến vấn đề về kiểm tra mã HS và thuế suất vốn hay phát sinh ý kiến khác nhau giữa doanh nghiệp và cơ quan Hải quan. Để công tác kiểm tra trong lĩnh vực này đạt hiệu quả, tháng 11/2018, Chi cục tổ chức buổi tập huấn về nội dung quan trọng này. Tại buổi tập huấn, lãnh đạo Chi cục đã phổ biến các vấn đề cơ bản liên quan đến kỹ thuật áp mã số hàng hóa và công tác KTSTQ về mã số hàng hóa, như: Khái niệm, các nguyên tắc, quy tắc bắt buộc, các văn bản pháp quy, dấu hiệu rủi ro, phương pháp phát hiện, đấu tranh…

Theo Chi cục KTSTQ, nhờ tổ chức tốt công tác đào tạo nên năm 2018, đơn vị đã tổ chức kiểm tra thành công một số chuyên đề lớn, góp phần tăng thu ngân sách và chống gian lận thương mại như: Chuyên đề về nhựa DOP; chuyên đề phụ tùng ô tô; chuyên đề gỗ nhập khẩu; chuyên đề thuế chống bán phá giá…

Mặt khác, qua công tác KTSTQ, Chi cục đã đẩy mạnh tuyên truyền pháp luật tới cộng đồng doanh nghiệp, hướng dẫn, hỗ trợ, cung cấp văn bản pháp quy liên quan đến hoạt động XNK, giúp doanh nghiệp hiểu đúng, khắc phục sai sót để nâng cao việc tuân thủ pháp luật hải quan, pháp luật thuế, từ đó tạo được sự đồng thuận từ phía doanh nghiệp.

Về công tác trong năm 2019, Chi cục trưởng Trần Mạnh Cường cho biết, nội dung đào tạo, bồi dưỡng nâng cao năng lực, trình độ cho CBCC tiếp tục là một trong những nhiệm vụ trọng tâm, thường xuyên của đơn vị.

Cùng với đó, đơn sẽ tập trung kiểm tra các địa bàn trọng điểm; các lô hàng có dấu hiệu rủi ro cao, các trường hợp nghi ngờ về mã số, trị giá, C/O… các trường hợp sai mức thuế suất MFN (thuế suất nhập khẩu ưu đãi thông thường), thuế suất FTA (Hiệp định thương mại tự do) tại các biểu thuế; các trường hợp miễn thuế, hoàn thuế không đúng quy định tại Luật thuế Xuất khẩu, thuế Nhập khẩu.

Nâng cao hiệu quả công tác KTSTQ thông qua việc lập kế hoạch năm trên cơ sở thu thập, phân tích thông tin rủi ro từ cao xuống thấp; căn cứ nguồn lực của Chi cục tiến hành KTSTQ đối với các doanh nghiệp có độ rủi ro cao…

Một điểm đáng chú ý được Chi cục đề cập là tăng cường và mở rộng cải cách trong công tác KTSTQ. Lãnh đạo Chi cục chia sẻ: Việc áp dụng thủ tục hải quan điện tử, quản lý rủi ro đã áp dụng sâu rộng trong tất cả các khâu quản lý dẫn đến sự chuyển dịch mạnh mẽ từ tiền kiểm sang hậu kiểm, nên công tác KTSTQ tại trụ sở người khai hải quan là công cụ hữu hiệu, đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc quản lý, hướng dẫn, đánh giá sự tuân thủ pháp luật của các DN có hoạt động XNK. Tuy nhiên, việc kiểm tra tại trụ sở người khai hải quan phải được thực hiện theo hướng cải cách hành chính, tạo thuận lợi và không gây phiền hà cho doanh nghiệp…

Nguồn:baohaiquan

Nhiều sáng tạo trong phát triển quan hệ đối tác Hải quan – Doanh nghiệp

(HQ Online)- Ngành Hải quan đã và đang tích cực triển khai công tác phát triển quan hệ đối tác hải quan-DN. Ở nhiều đơn vị hải quan địa phương, hoạt động đối tác hải quan-DN được thực hiện dưới nhiều hình thức đa dạng, phong phú.

Với việc thực hiện đồng bộ 4 giải pháp (thông tin, tham vấn, tham gia, hợp tác), trong đó thực hiện tốt các hoạt động tuyên truyền, phổ biến pháp luật, hướng dẫn, hỗ trợ, giải đáp vướng mắc, tiếp thu góp ý, phản hồi từ DN, đồng thời tổ chức triển khai mạnh mẽ các hoạt động tham vấn, hợp tác, Tổng cục Hải quan đã được cộng đồng DN đánh giá cao các giải pháp và những lợi ích mà cơ chế hợp tác đem lại cho các bên.

Trong hội nghị công bố Báo cáo mức độ hài lòng của DN về thực hiện thủ tục hành chính XNK năm 2018 tổ chức mới đây, ông Đậu Anh Tuấn-Trưởng Ban Pháp chế VCCI cho biết: Đánh giá của DN về chất lượng thông tin thủ tục hành chính hải quan mà họ đã tiếp cận là khá tích cực và có cải thiện đáng kể so với khảo sát 2015. Năm 2018 có 91% phiếu trả lời đồng ý/hoàn toàn đồng ý rằng thông tin về thủ tục hải quan là thống nhất (năm 2015 chỉ số này là 77%), 90% cho biết thông tin thủ tục hành chính hải quan là sẵn và dễ tìm (năm 2015 là 81%). Trong số các DN phản hồi, 89% cho rằng biểu mẫu dễ điền (77% vào năm 2015); 84% DN đánh giá cơ quan Hải quan cung cấp thông tin cho DN nhanh chóng, kịp thời (năm 2015 là 71%).

Dù vậy, không gian cải cách vẫn còn nhiều, ví dụ như điều tra 2018 cho thấy dù có 76% DN nhận thấy các thông tin về thủ tục hành chính hải quan là đơn giản, dễ hiểu (năm 2015 là 60%) thì vẫn còn 24% không đồng ý với nhận định này, nghĩa là trung bình cứ 5 DN thì vẫn còn 1 DN gặp khó khăn nhất định khi tìm hiểu về các thủ tục hành chính hải quan.

Nhiều đơn vị điển hình trong phát triển quan hệ đối tác hải quan-DN. Như ở Cục Hải quan TP Hồ Chí Minh xây dựng phát triển quan hệ đối tác với 3 nhóm DN: Nhóm DN có số kim ngạch XNK lớn; nhóm DN FDI; nhóm DN dịch vụ XNK (đại lý làm thủ tục hải quan, kinh doanh kho, bãi, cảng). Trong đó các hoạt động cụ thể đã được triển khai như tổ chức các buổi hội thảo, tọa đàm, hội nghị chuyên đề mang tính thời sự, thiết thực với từng nhóm DN; thường xuyên tổ chức làm việc, gặp gỡ trực tiếp DN để lắng nghe, tháo gỡ khó khăn cho DN.

Để tạo thuận lợi cho DN trong quá trình thực hiện thủ tục, Cục Hải quan TP Hồ Chí Minh thực hiện “tham vấn một lần, sử dụng kết quả nhiều lần tiếp theo” nếu mức giá khai báo của DN không thay đổi. Việc sử dụng nghiệp vụ tham vấn một lần nhằm hạn chế việc lãnh đạo DN phải cử nhân viên đi lại làm việc với cơ quan Hải quan nhiều lần, mất thời gian, chi phí của DN. Để kịp thời thông tin đến DN, đơn vị cũng đã gửi hàng trăm thư thông báo cho lãnh đạo DN về thông tin tham vấn một lần- một trong những nội dung cải cách của ngành Tài chính, ngành Hải quan quy định về tham vấn giá tính thuế.

Hay Cục Hải quan Đồng Nai in tờ rơi bằng tiếng Anh để phát cho các đại lý, hãng tàu, nhân viên các DN hướng dẫn thủ tục tàu thuyền, phương tiện vận tải XNC khi cập cảng; thực hiện khảo sát ý kiến nhu cầu đào tạo kỹ năng phát triển quan hệ đối tác với 5 hiệp hội, chi hội và 29 DN trọng điểm để kiến nghị với trường Hải quan Việt Nam có kế hoạch đào tạo thời gian tới.

Không chỉ có các hoạt động hỗ trợ nghiệp vụ, các đơn vị hải quan địa phương đã thực hiện ký kết hợp tác với DN nhằm hướng đến xây dựng quan hệ đối tác với các DN có quá trình chấp hành tốt pháp luật hải quan, sẵn sàng hợp tác với cơ quan Hải quan và có đủ điều kiện, khả năng đáp ứng yêu cầu hợp tác. Trong năm 2018, toàn Ngành đã ký kết hợp tác với 8.244 DN.

Tại Cục Hải quan Quảng Ninh, các giải pháp phát triển quan hệ đối tác với DN rất đa dạng. Đơn vị tổ chức đánh giá chỉ số năng lực cạnh tranh giữa các Chi cục với sự tham gia đánh giá của cộng đồng DN. Đổi mới hình thức thực hiện từ tổ chức hội nghị đối thoại DN sang hình thức diễn đàn với các chủ đề cụ thể như “Hải quan và DN: Cùng cam kết – Cùng hành động – Cùng phát triển”. Theo Cục Hải quan Quảng Ninh, từ việc đổi mới phương thức tổ chức trên đã giúp DN dễ dàng tiếp cận, trao đổi với cơ quan Hải quan và ngược lại, thay đổi cách nhìn nhận DN đối với những cố gắng, nỗ lực, quyết tâm của cơ quan Hải quan trong công tác cải cách hành chính, hiện đại hoá hải quan, đồng hành cùng DN, việc phân chia theo nhóm chuyên đề sẽ giúp hội nghị DN theo hướng chuyên sâu theo từng lĩnh vực, tránh dàn trải, giúp tận dụng tốt nhất thời gian đối thoại của cơ quan Hải quan và DN.

Cục Hải quan Quảng Ninh cũng thành lập và triển khai hiệu quả Tổ hỗ trợ và cung cấp thông tin cho DN (viết tắt là ISEC) cam kết hỗ trợ DN 24/7. Đề xuất giải pháp cung cấp thông tin cho cộng đồng DN qua dịch vụ Mail Server (HaiquanQN@hqqn.vn) và tin nhắn thương hiệu SMS Brandname (HaiquanQN) giúp cho DN chủ động tiếp cận thông tin hỗ trợ của cơ quan Hải quan một cách nhanh chóng và thuận tiện bên cạnh những hình thức truyền thống như trực tiếp đến địa điểm làm thủ tục hải quan, điện thoại vào đường dây nóng để tiếp cận thông tin,… đồng thời giúp nâng cao công tác tuyên truyền của cơ quan Hải quan tới cộng đồng DN.

Bên cạnh đó, ở nhiều đơn vị hải quan địa phương các hoạt động đối tác Hải quan-DN cũng được triển khai phong phú như: Tổ chức tọa đàm; trực tiếp gặp gỡ DN nắm bắt thông tin về tình hình của DN và đồng hành cùng DN giải quyết kịp thời những khó khăn vướng mắc, rào cản làm ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất, kinh doanh, xuất nhập khẩu của DN.

Riêng giải pháp hỗ trợ thực thi pháp luật đã được các đơn vị triển khai rất phong phú như: Tuyên truyền, phổ biến chính sách pháp luật; đào tạo, tập huấn về chuyên môn nghiệp vụ; tiếp nhận và giải quyết, phản ánh khiếu nại tố cáo; tiếp nhận và giải quyết vướng mắc về các mảng nghiệp vụ.

Trong đó, việc tiếp nhận và giải quyết vướng mắc về các mảng nghiệp vụ được các các đơn vị hướng dẫn kịp thời. Trong đó có khoảng 700 lượt tư vấn về chính sách pháp luật hải quan về các mảng nghiệp vụ thuế, trị giá, C/O, hệ thống thông quan tự động… trên Báo Hải quan và trên Cổng thông tin điện tử hải quan. Trong năm 2018, các cục hải quan tỉnh, thành phố đã tiếp nhận và giải quyết gần 13.500 vướng mắc về các mảng nghiệp vụ hải quan (thông qua văn bản, gặp trực tiếp, qua điện thoại, hội thảo, hội nghị). Riêng Cục Hải quan TP Hồ Chí Minh tiếp nhận và giải quyết 4.577 lượt vướng mắc về nghiệp vụ về thuế, trị giá, phân loại… Cục Hải quan Đồng Nai đã thực hiện 1.701 lượt giải đáp vướng mắc qua văn bản và điện thoại, xử lý 834 câu hỏi vướng mắc cho DN qua hệ thống trao đổi thông tin DN Customs – Info.

Nguồn:baohaiquan

Củng cố năng lực của nền kinh tế để tận dụng các cơ hội cho phát triển

(HQ Online)- Trả lời phỏng vấn của Báo Hải quan, Bộ trưởng Bộ KH&ĐT, ông Nguyễn Chí Dũng (ảnh) cho rằng, chúng ta phải tăng tốc và bứt phá để chuẩn bị về đích, hoàn thành mục tiêu, nhiệm vụ của kế hoạch 5 năm, xây dựng nền tảng của 5 năm tới, trên tinh thần đã được Tổng bí thư, Chủ tịch nước đề ra là năm 2019 phải hơn năm 2018.

Thưa Bộ trưởng, năm 2019 kinh tế Việt Nam phải đối mặt với những khó khăn, thử thách gì?

– Về tình hình thế giới 2019, dự báo có nhiều biến động kinh tế, tốc độ có tăng chậm lại, đặc biệt là với nền kinh tế của Mỹ và Trung Quốc. Điều này sẽ có tác động lớn tới chúng ta, do nền kinh tế của Việt Nam có độ mở rất lớn.

Ông Nguyễn Văn Bình, Ủy viên Bộ Chính trị, Trưởng Ban Kinh tế T.Ư:

Cần làm rõ chiến lược thu hút FDI trong thời gian tới

Ngày 14/1 vừa qua, hiệp định CPTPP đã chính thức có hiệu lực. Như vậy tính đến nay, Việt Nam đã có 16 hiệp định thương mại tự do (FTA) đã và đang ký kết hoặc đang đàm phán, giúp mở rộng cánh cửa của hơn 60 nền kinh tế, trong đó có 15/20 nước G20. Đây là một lợi thế rất lớn cho Việt Nam thu hút vốn đầu tư nước ngoài khi đóng vai trò như một cửa ngõ quan trọng để tiếp cận được hầu hết các thị trường lớn trên thế giới. Tuy nhiên, cơ hội luôn gắn liền với thách thức. Với nền công nghiệp phụ trợ còn yếu và thiếu, nhiều DN Việt Nam vẫn chủ yếu gia công ở giai đoạn cuối trong chuỗi sản xuất, giá trị gia tăng thấp nên khi các FTAs có tính đến quy tắc xuất xứ và năng lực của công nghiệp hỗ trợ thì Việt Nam sẽ gặp nhiều bất lợi. Vì vậy, cần làm rõ chiến lược thu hút FDI trong thời gian tới là gì, làm thế nào để kết nối được các DN Việt Nam với các DN FDI cùng tham gia vào chuỗi giá trị, sản xuất toàn cầu, và cùng khai thác được các lợi thế của các FTA thế hệ mới mang lại. Chúng ta cần làm gì để Việt Nam không phải chỉ là “một con mèo nhỏ” mà phải trở thành “một con hổ mới” của kinh tế châu Á, như cách so sánh của Giáo sư Jay Rosengard, Đại học Harvard đã từng phát biểu tại Diễn đàn Kinh tế Việt Nam lần thứ nhất.

Đối với trong nước, quy mô nền kinh tế, năng lực cạnh tranh, năng suất lao động còn thấp, những cải cách, cơ cấu kinh tế đã đạt được những thành tựu nhưng vẫn mới chỉ ở giai đoạn đầu… Ngoài ra biến đổi khí hậu, thiên tai… ảnh hưởng xấu tới đời sống nhân dân, nguồn lực nhà nước. Khu vực tư nhân phát triển mạnh, song chưa đáp ứng được yêu cầu về huy động nguồn lực của xã hội để phát triển. Đây là những khó khăn, thách thức chung của nền kinh tế Việt Nam trong phát triển kinh tế năm 2019.

Theo ông, đâu là động lực tăng trưởng cho kinh tế 2019 và những nền tảng này phải được củng cố như thế nào để tăng trưởng kinh tế đạt kết quả cao, bền vững?

– Về động lực tăng trưởng 2019, theo tinh thần, phương châm của Đảng và Chính phủ trong chủ đề của năm 2019 là “Kỷ cương, liêm chính, hành động, sáng tạo, bứt phá, hiệu quả”. Trong đó, từ bứt phá là từ khóa quan trọng khi chúng ta đã đi gần hết chặng đường 5 năm và chuẩn bị đánh giá tổng kết kế hoạch 5 năm và chiến lược 10 năm tới. Theo đó chúng ta phải tăng tốc và bứt phá để chuẩn bị về đích, hoàn thành mục tiêu, nhiệm vụ của kế hoạch 5 năm, xây dựng nền tảng của 5 năm tới, trên tinh thần đã được Tổng bí thư, Chủ tịch nước đề ra là năm 2019 phải hơn năm 2018.

Tinh thần của Chính phủ là bứt phá, tăng tốc thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp đã được nêu rất rõ trong Nghị quyết 01, nhưng tôi muốn nhấn mạnh một số ý không chỉ liên quan tới năm 2019 mà còn cho cả giai đoạn tới, đó là chúng ta phải tích cực cải cách thủ tục hành chính, cải thiện môi trường kinh doanh một cách hiệu quả, thực chất hơn để giảm các chi phí cho DN, tạo thuận lợi hơn nữa để thúc đẩy DN phát triển.

Thứ hai, phải tập trung vào khu vực kinh tế tư nhân. Trong những năm qua, kinh tế tư nhân có phát triển mạnh mẽ thông qua số liệu thành lập mới các DN, thu hút vốn đầu tư trong tổng đầu tư toàn xã hội rất lớn. Nhiều dự án, công trình có đóng góp nhất định. Nhưng hiện nay thực sự còn nhiều khó khăn, rào cản, cần có những chính sách tháo gỡ khó khăn, tạo sân chơi bình đẳng cho các DN trong khi tiếp cận các nguồn lực để làm sao có cuộc chơi công bằng, minh bạch, theo kịp cơ chế thị trường. Đây chính là tinh thần của Nghị quyết Trung ương 5 của Đảng đã đề ra, để kinh tế tư nhân sẽ là động lực để phát triển kinh tế.

Thứ ba là đổi mới khoa học công nghệ, đây là nhu cầu rất bức thiết đối với nền kinh tế. Chúng ta cũng đã xác định được vấn đề này song, cần phải có những quyết sách, hành động nhanh chóng, mạnh mẽ hơn nữa để nghiên cứu khoa học, đổi mới sáng tạo, ứng dụng vào nền kinh tế.

Thứ tư, cần chuẩn bị tốt cho hội nhập liên quan đến CPTPP, năng lực của nền kinh tế, năng lực của các DN để đón nhận, tận dụng động lực cơ hội này, thay vì không chuẩn bị tốt thì sẽ thua thiệt. Đấy là những động lực, bứt phá và cũng là những nhiệm vụ trọng tâm cần tập trung thực hiện trong năm 2019 để đạt được kết quả cao hơn mục tiêu của năm 2019 mà Quốc hội đã đề ra, góp phần hoàn thành kế hoạch 5 năm và tạo nền tảng cho giai đoạn mới.

Ông đánh giá như thế nào về vai trò của đổi mới sáng tạo và tận dụng khai thác lĩnh vực này như thế nào để thúc đẩy phát triển kinh tế năm 2019 cũng như các năm tới?

– Đổi mới sáng tạo không phải là vấn đề riêng của năm 2019 mà đây là vấn đề của cả giai đoạn tiếp theo, khi mà chúng ta đang có những hạn chế nhất định trong phát triển, áp dụng khoa học công nghệ, ví dụ như năng lực cạnh tranh, năng suất lao động thấp, khả năng kết nối với DN FDI còn hạn chế… Tất cả những hạn chế này đều xuất phát từ việc chúng ta chưa có công nghệ, chưa nắm được công nghệ… Do vậy, vấn đề dựa vào công nghệ để bứt phá, phát triển lên là cốt lõi, trọng tâm xuyên suốt thời gian tới của bất kể quốc gia nào. Nhìn rộng ra, Nhật Bản, Hàn Quốc, Đức, Trung Quốc đều là những quốc gia đang đầu tư rất lớn cho công nghệ và họ cũng đã thu được những thành tựu rất lớn, đưa ra những tham vọng rất lớn dựa trên đổi mới sáng tạo. Tôi cho rằng, Việt Nam cũng không nằm ngoài điều đó, phải nhận diện rõ hơn và thực hiện quyết liệt hơn làm sao đưa khoa học công nghệ vào phát triển nền kinh tế.

Bộ KHĐT đang được giao xây dựng Đề án xây dựng Trung tâm Đổi mới sáng tạo quốc gia. Để làm được điều này, chúng tôi đã tham quan, nghiên cứu các mô hình đổi mới sáng tạo tốt được áp dụng tại một số nước như Singapore, Hàn Quốc, Trung Quốc… Hiện có nhiều mô hình nhưng quan trọng là phải tìm ra mô hình tốt và phù hợp với điều kiện thực tiễn Việt Nam. Chúng tôi đã nghiên cứu và đề cập đến điều này trong Đề án sắp sửa trình Chính phủ, theo đó sẽ phải làm sao để tận dụng được các mô hình tốt một cách hiệu quả nhất và vận hành tốt nhất. Hiện nay, tại Việt Nam, một số DN đã chuyển hướng tham gia phát triển công nghệ, nhưng chủ yếu vẫn là tự phát, bàn tay hỗ trợ của Nhà nước chưa đủ mạnh. Hy vọng sắp tới Nhà nước có nghiên cứu và có hành động, chính sách cụ thể, mạnh mẽ hơn để hỗ trợ DN trong quá trình đổi mới hoặc tiếp nhận công nghệ.

Tựu trung lại, tôi muốn nhấn mạnh, chúng ta hoàn toàn có thể tự tin và mạnh mẽ tiến về phía trước. Chúng ta có thể làm được nếu chọn đúng và tích cực, quyết liệt hành động, không phải ngại điều gì. Chỉ sợ chúng ta suy nghĩ chưa tới hoặc tới rồi nhưng hành động không quyết liệt và hiệu quả. Do đó, phải thay đổi tư duy, tầm nhìn và hành động quyết liệt. Tôi tin rằng, dù còn nhiều khó khăn phía trước nhưng nếu làm được như vậy thì phát triển kinh tế của Việt Nam trong năm tới khởi sắc hơn, làm được nhiều điều thần kỳ hơn năm 2018.

Trân trọng cảm ơn Bộ trưởng!

TS. Nguyễn Đình Cung, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương:

Khu vực tư nhân đã có nhiều khởi sắc thì phải có động thái kiến nghị, mở đường phát triển thêm. Tôi kiến nghị một cách tiếp cận mới. Theo đó, có một nhóm DN có tốc độ tăng trưởng cao, chúng ta nên tập trung hỗ trợ nhóm DN này. Trước đây chúng ta hay “lựa chọn” người thắng cuộc là ông lớn DNNN để bơm vốn, bây giờ chúng ta chuyển hướng lại là “hỗ trợ” người thắng cuộc chứ không phải “lựa chọn” người thắng cuộc. Đầu tiên chúng ta hỗ trợ họ bằng thể chế, cái gì vướng mắc, đang cản trở DN nói chung và nhóm DN này nói riêng trong phát triển thì hỗ trợ. Trên thực tế, chúng ta có thể có nhiều nghìn DN tư nhân đang ở nhóm DN này. Họ đã chứng tỏ có tiềm năng phát triển thì chỉ cần hỗ trợ để họ có thể có điều kiện phát triển hơn nữa. Đối với khu vực DNNN, đây cũng là trục để khơi thông nguồn lực, theo đó cần có cách thức quản trị mới, tạo sự đổi mới hơn từ áp lực thị trường. Hy vọng Ủy ban Quản lý vốn nhà nước tại DN thực sự đi vào hoạt động và có những thay đổi quy chế, luật lệ để Ủy ban có thể hoạt động với vai trò đích thực là cơ quan đại diện chủ sở hữu vốn nhà nước.

Ông John Kerry, Cựu Ngoại trưởng Mỹ:

Việt Nam là quốc gia có nhiều cơ hội và lợi thế về năng lượng sạch, vì thế chúng ta không cần đầu tư vào than nữa, bởi chúng ta thấy có sự bùng nổ bệnh tật liên quan đến vấn đề ô nhiễm. Chúng ta muốn giải quyết vấn đề năng lượng phải thu hút đầu tư dài hạn, trong đó thu hút vốn đầu tư tư nhân, đầu tư nước ngoài, nếu Việt Nam có chu trình năng lượng phù hợp thì chắc chắn sẽ thu hút được đầu tư bởi Việt Nam có nhiều tiềm năng về năng lượng sạch. Tại sao Việt Nam không áp dụng cơ chế hỗ trợ giá từ điện sạch, không sử dụng cơ chế huy động nguồn lực tài chính để thúc đẩy năng lượng xanh, thúc đẩy đầu tư vào hệ thống truyền tải có sự tham gia của tư nhân, không sử dụng điện mặt trời trên mái… khi đây là cơ hội đầu tư giá rẻ mà ai cũng có thể là khách hàng, đối tác của điện lực.

Hoài Anh (ghi)

Nguồn:baohaiquan