Vượt qua khó khăn, xuất khẩu tôm sẽ đạt 3,8 tỷ USD

(HQ Online)- Xuất khẩu (XK) tôm đang có dấu hiệu chững lại, các DN dự báo đến cuối năm 2018, kim ngạch XK mặt hàng chủ lực này sẽ cán đích gần 3,8 tỷ USD, giảm nhẹ 2% so với năm 2017.

Tồn kho lớn, khiến XK giảm

Là một trong những DN có kim ngạch XK tôm lớn nhất cả nước, ông Lê Văn Quang, Chủ tịch Ủy ban Tôm, Chủ tịch HĐQT Tập đoàn Thủy sản Minh Phú cho biết, thời tiết đầu năm 2018 không thuận lợi, các nước như Mỹ, Canada có bão tuyết nên lượng tiêu thụ tôm giảm đáng kể, hàng tồn kho lớn, kéo theo lượng hàng tồn kho ở Nhật Bản, Hàn Quốc, EU cao.

Trung Quốc siết chặt lại vấn đề tôm XK đường tiểu ngạch qua biên giới, do vậy tôm từ Ấn Độ, Ecuador Indonesia…không nhập được đường tiểu ngạch vào Trung Quốc làm hàng tồn kho của các nước này tăng đáng cao.

“Hiện thị trường Mỹ đang tồn kho tôm nhiều, khiến Tập đoàn Thủy sản Minh Phú phải ngưng XK một số lô hàng sang thị trường này, mặc dù đơn hàng vẫn còn nhiều”- ông Lê Văn Quang chia sẻ khó khăn về XK tôm.

Trong khi các quốc gia như Ấn Độ, Indonesia, Thái Lan, Malaysia, Philippines, Việt Nam… đang vào vụ thu hoạch, người nuôi tôm muốn bán được tôm và các nhà máy chế biến cũng muốn bán được hàng nên giá tôm trên thị trường giảm.

Khi không bán được hàng thì người bán tiếp tục giảm giá để bán được hàng và với tình hình như vậy đã tạo ra tâm lý tiếp tục chờ giá giảm, trong đó giá ở các thị trường Ấn Độ, Ecuador, Việt Nam giảm liên tục. Giá nguyên liệu giảm, người nuôi lo giá sẽ giảm nữa và sẽ lỗ nên thu hoạch sớm.

Theo các DN XK tôm, trước đây, thường người nuôi sẽ thu hoạch tôm khi đạt size 30 – 50 con/kg, nhưng những tháng đầu năm 2018 với tâm lý bất ổn về giá nên phần lớn người nuôi đã thu hoạch đồng loạt sớm khi tôm nuôi đạt size 70 – 100con/kg. Với lượng tôm có size nhỏ như vậy và thu hoạch đồng loạt làm cho nguồn cung ở 1 size rất cao, cộng với năng suất chế biến ở các nhà máy hạn chế nên dư thừa nguyên liệu dẫn đến áp lực về cung vượt cầu làm cho giá tôm trong tháng 4 đến đầu tháng 5 giảm hơn 20% và xấp xỉ chạm mốc giảm 30%.

Với giá mua tôm nguyên liệu các tháng đầu năm rẻ, kích thích tiêu dùng nhưng người nuôi tôm tại các quốc gia như Ấn Độ, Indonesia, Việt Nam… bị lỗ và họ “treo ao” không nuôi tiếp.

Kỳ vọng đạt 3,8 tỷ USD

Theo Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu thủy sản Việt Nam, kể từ tháng 4 đến tháng 10 năm nay, XK tôm Việt Nam chưa có dấu hiệu phục hồi so với cùng kỳ năm 2017. Tháng 10/2018, XK tôm Việt Nam giảm 17,3% so với cùng kỳ năm ngoái đạt hơn 348 triệu USD. Lũy kế 10 tháng đầu năm nay, XK tôm của cả nước đạt 2,97 tỷ USD, giảm 5,8% so với cùng kỳ năm 2017.

Theo các DN XK tôm, XK tôm có xu hướng giảm so với cùng kỳ năm ngoái là do giá tôm giảm, nhu cầu NK thấp từ các thị trường chính. Giá tôm trong nước những tháng đầu năm 2018 bị tác động bởi các yếu tố thị trường thế giới do thời tiết lạnh nhiều, các nước như Mỹ, Canada có bão tuyết nên lượng tôm tiêu thụ giảm đáng kể, hàng tồn kho lớn, kéo theo lượng hàng tồn kho ở Nhật Bản, Hàn Quốc, EU cao…

Ông Lê Văn Quang, cho biết, do giá tôm giảm nên khách hàng thường có tâm lý đợi giá tôm “chạm đáy” mới mua vào, khiến giá tôm ngày càng giảm sâu, ảnh hưởng không nhỏ đến việc XK tôm.

Tôm chân trắng vẫn chiếm vị trí chủ đạo trong cơ cấu các sản phẩm tôm XK của Việt Nam, chiếm 68,7%, tôm sú chiếm 22,9% và tôm biển 8,3%. Trong 10 tháng đầu năm 2018, giá trị XK tôm chân trắng giảm 1%, trong khi XK tôm sú giảm 7% và tôm biển giảm 32% so với cùng kỳ năm ngoái.

Trong cơ cấu các sản phẩm tôm chân trắng và tôm sú XK, duy nhất XK tôm chân trắng chế biến (HS 16) tăng 7%, XK các sản phẩm còn lại đều giảm.

Trong tháng 10 năm nay, XK tôm Việt Nam sang các thị trường lớn đều giảm mạnh, như: EU giảm 30,6%, Trung Quốc giảm 38%, Hàn Quốc, giảm 18,4%, Nhật Bản, giảm 5%. Tuy nhiên, XK sang Mỹ tăng nhẹ 0,8%. Đáng chú ý, XK tôm sang ASEAN tăng tốt trên 55% so với cùng kỳ năm ngoái.

EU là thị trường NK tôm lớn nhất của Việt Nam, chiếm 24,4% tổng XK tôm của Việt Nam đi các thị trường. Hai quý đầu năm nay, XK tôm Việt Nam sang EU tăng trưởng mạnh trong bối cảnh XK tôm sang các thị trường lớn như Mỹ, Trung Quốc, Nhật Bản sụt giảm. Tuy nhiên, bước sang quý III năm nay, XK tôm sang thị trường này bắt đầu sụt giảm. Tháng 10 năm nay, XK tôm sang EU giảm mạnh 30,6% với giá trị XK sang 3 thị trường lớn nhất trong khối đều giảm.

Tuy nhiên, nhờ tăng trưởng tốt trong 2 quý đầu năm nên XK tôm Việt Nam sang thị trường EU tính tới tháng 10 năm nay vẫn tăng nhẹ 4,4% đạt 724,7 triệu USD.

Anh, Hà Lan và Đức là 3 thị trường NK lớn nhất tôm của Việt Nam trong khối EU. Mười tháng đầu năm nay, XK tôm sang Anh và Đức tăng lần lượt 19% và 16% trong khi XK sang Hà Lan giảm 1,4%.

Mỹ là thị trường NK tôm lớn thứ 2 của Việt Nam, chiếm 18,2% tổng giá trị XK tôm của Việt Nam đi các thị trường. Sau khi XK tôm Việt Nam sang Mỹ giảm liên tục từ tháng 4 đến tháng 7 năm nay, XK sang thị trường này đã phục hồi tăng trưởng dương trong 3 tháng 8, 9 và 10 năm nay. XK tôm Việt Nam sang Mỹ trong 10 tháng năm 2018 đạt 540,4 triệu USD, giảm 2,7% so với cùng kỳ năm 2017.

Kết quả cuối cùng thuế chống bán phá giá tôm Việt Nam trong giai đoạn xem xét hành chính lần thứ 12 – POR12 (từ 1/2/2016- 31/1/2017) khả quan hơn nhiều so với những lần xem xét trước đó đã giúp các DN tôm Việt Nam yên tâm đẩy mạnh bán hàng vào thị trường Mỹ trong thời gian tới, nhất là giai đoạn tập trung mua hàng từ các nhà NK Mỹ phục vụ cho các dịp lễ Tết cuối năm.

Bên cạnh đó, cuộc chiến thương mại Mỹ-Trung cũng là một cơ hội cho các DN XK tôm của Việt Nam đẩy mạnh XK vào thị trường này do Mỹ áp thuế cao với các mặt hàng của Trung Quốc.

Giá tôm đã bắt đầu phục hồi, nhu cầu có xu hướng gia tăng vào cuối năm, hơn nữa XK sang thị trường Mỹ có tín hiệu tích cực nhờ thuế CBPG tôm được cải thiện.

XK tôm trong quý IV năm nay dự báo sẽ tăng khoảng 2% so với cùng kỳ năm ngoái, đạt khoảng 1,14 tỷ USD. Như vậy XK tôm đến cuối năm 2018 sẽ cán đích gần 3,8 tỷ USD, giảm nhẹ 2% so với năm 2017.

Nguồn:baohaiquan

Hải quan Quảng Ninh thực hiện nhiều giải pháp để thúc đẩy xuất khẩu

(HQ Online)- Hải quan Quảng Ninh tiếp tục thực hiện các giải pháp đơn giản hóa thủ tục hành chính; giải quyết kịp thời vướng mắc phát sinh… nhằm tạo điều kiện thuận lợi tối đa cho doanh nghiệp tham gia hoạt động XNK.

Số liệu thống kê từ Cục Hải quan Quảng Ninh, 10 tháng đầu năm 2018, kim ngạch XK ước đạt 1.585 triệu USD, tăng 10,6% so với cùng kỳ năm 2017.

Trong đó, một số mặt hàng XK chiếm tỷ trọng lớn như: Than đạt 230,1 triệu USD, tăng 40,8%; sợi dệt các loại đạt 474,7 triệu USD, tăng 2,28%; clinker đạt 34 triệu USD, tăng 596,8%; tinh bột sắn đạt 33,4 triệu USD, tăng 312,5%; nến ước đạt 44,5 triệu USD, tăng 30,1%;…

Kim ngạch NK hàng hóa ước đạt 140,2 triệu USD; lũy kế 10 tháng ước đạt 1.480 triệu USD, tăng 3,27% so với cùng kỳ.

Tuy nhiên, trong văn bản triển khai Chỉ thị số 25/CT-TTg ngày 31/8/2018 của Thủ tướng Chính phủ về một số nhiệm vụ, giải pháp phát triển sản xuất, thúc đẩy xuất khẩu ban hành ngày 7/11/2018, tỉnh Quảng Ninh nhận định, mặc dù đạt được những kết quả tích cực, song, tăng trưởng XK còn phụ thuộc và dễ bị tác động bởi yếu tố bên ngoài.

Cùng với đó, thị trường XK còn thiếu ổn định, tiềm ẩn nhiều rủi ro, biến động khó lường và cạnh tranh trên thị trường ngày càng trở nên gay gắt… là những khó khăn, thách thức trong phát triển XK của tỉnh Quảng Ninh những năm tiếp theo.

Tới đây, Hải quan Quảng Ninh tiếp tục thực hiện các giải pháp đơn giản hóa thủ tục hành chính; giải quyết kịp thời vướng mắc phát sinh thuộc thẩm quyền liên quan đến thủ tục hải quan, chính sách thuế, thủ tục hoàn thuế, miễn thuế… tạo điều kiện thuận lợi tối đa cho doanh nghiệp tham gia hoạt động XNK.

Cơ quan Hải quan sẽ chủ trì cùng các ngành liên quan kiểm tra, rà soát các văn bản, vướng mắc liên quan đến công tác kiểm tra chuyên ngành còn chồng chéo; tiếp tục triển khai thực hiện hiệu quả Đề án “Mô hình thủ tục và quản lý hải quan tập trung tại Chi cục Hải quan cửa khẩu Móng Cái”; phối hợp với các ngành có liên quan triển khai thực hiện cơ chế một cửa quốc gia, một cửa ASEAN…

Đồng thời, tiếp tục tổ chức đa dạng các chương trình đối thoại, tham vấn Hải quan–Doanh nghiệp để phổ biến các chính sách về XNK hàng hóa, các quy trình, quy định về thủ tục hải quan, giải đáp các vướng mắc phát sinh kịp thời cho doanh nghiệp.

Nguồn:baohaiquan

Nhiều giải pháp phát triển sản xuất, thúc đẩy xuất khẩu

(HQ Online)- Các bộ, ngành khẩn trương xem xét lại một số quy định đối với sản xuất và nhập khẩu nguyên phụ liệu phục vụ sản xuất, chế biến để tạo thuận lợi cho hoạt động sản xuất của doanh nghiệp. Đây là một trong những nội dung được nêu ra tại Chỉ thị số 25/CT-TTg ngày 31/8/2018 về một số nhiệm vụ, giải pháp phát triển sản xuất, thúc đẩy xuất khẩu của Thủ tướng Chính phủ vừa được ký ban hành.

Chỉ thị nêu rõ, trong những năm qua hoạt động xuất khẩu đã có bước tăng trưởng mạnh mẽ, bình quân giai đoạn 2016 – 2018 ước đạt 13,5%/năm. Xuất siêu được duy trì trong cả hai năm 2016 và 2017. Đặc biệt, xuất khẩu năm 2017 đạt thành tích cao cả về quy mô và tốc độ tăng trưởng, lần đầu tiên xuất khẩu của Việt Nam vượt mốc 200 tỷ USD, tăng 21,2% so với năm 2016, là điểm sáng trong bức tranh chung của nền kinh tế. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, xuất khẩu của nước ta vẫn còn những hạn chế, tồn tại và đứng trước nhiều khó khăn, thách thức.

Trong bối cảnh đó, để phát huy những kết quả đã đạt được, khắc phục những tồn tại, thúc đẩy xuất khẩu tăng trưởng nhanh và bền vững, cùng với việc thực hiện những nhiệm vụ và giải pháp của Chiến lược xuất nhập khẩu hàng hóa thời kỳ 2011 – 2020, định hướng đến năm 2030, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu các bộ, ngành, địa phương cải cách thể chế, đơn giản hóa thủ tục hành chính, cắt giảm chi phí, loại bỏ những nút thắt, rào cản đối với xuất khẩu. Các bộ, ngành khẩn trương xem xét lại một số quy định đối với sản xuất và nhập khẩu nguyên phụ liệu phục vụ sản xuất, chế biến để tạo thuận lợi cho hoạt động sản xuất của doanh nghiệp.

Đồng thời, tăng cường công tác thông tin giúp định hướng sản xuất phục vụ xuất khẩu. Bộ Công Thương chỉ đạo hệ thống Thương vụ Việt Nam tại các thị trường ngoài nước tăng cường sự chủ động trong nắm bắt thông tin thị trường và các vấn đề phát sinh ảnh hưởng đến xuất khẩu của Việt Nam như sự thay đổi chính sách của nước nhập khẩu, các rào cản kỹ thuật, rủi ro trong thanh toán, các hoạt động tuyên truyền thiếu thiện chí đối với hàng hóa xuất khẩu Việt Nam; kịp thời thông tin để Chính phủ, các bộ, ngành, Hiệp hội và doanh nghiệp có phản ứng kịp thời.

Tập trung tháo gỡ khó khăn thúc đẩy xuất khẩu các mặt hàng công, nông nghiệp

Bên cạnh đó, cần đẩy mạnh cơ cấu lại sản xuất nông nghiệp gắn với nhu cầu thị trường, nâng cao chất lượng, đáp ứng các yêu cầu về an toàn thực phẩm; tập trung các giải pháp tháo gỡ khó khăn để thúc đẩy xuất khẩu các mặt hàng nông nghiệp có thế mạnh là thủy sản, rau quả, cà phê, điều, hồ tiêu, gạo, sắn.

Phát triển sản xuất công nghiệp gắn với điều kiện cụ thể của từng vùng, từng địa phương; gắn với phát triển quy mô lớn, công nghệ cao; phát triển công nghiệp hỗ trợ để nâng cao hàm lượng giá trị gia tăng trong sản phẩm xuất khẩu; tập trung các giải pháp tháo gỡ khó khăn để thúc đẩy xuất khẩu các mặt hàng công nghiệp có thế mạnh là dệt may, da giầy, điện tử, gỗ và sản phẩm gỗ.

Đổi mới công tác xúc tiến thương mại, xây dựng thương hiệu

Thủ tướng Chính phủ cũng yêu cầu tăng cường công tác đàm phán, hội nhập để phát triển thị trường và tháo gỡ rào cản để thâm nhập các thị trường mới. Tăng cường công tác xúc tiến thương mại, xây dựng thương hiệu.

Theo đó, Bộ Công Thương chủ trì nghiên cứu đổi mới toàn diện công tác xúc tiến thương mại theo hướng tăng tỷ trọng của các hoạt động có tác dụng lâu dài như đào tạo kỹ năng, giảm tỷ trọng của các hoạt động như tổ chức hội chợ, triển lãm hay tham gia hội chợ, triển lãm; chú trọng các chương trình xúc tiến thương mại trung và dài hạn hướng vào một mặt hàng, một thị trường cho tới khi đạt kết quả cụ thể; chú trọng đào tạo, phổ biến về quy tắc xuất xứ và cách đáp ứng quy tắc xuất xứ để giúp các doanh nghiệp nắm bắt được các cơ hội mở ra từ các FTA, nâng cao hơn nữa tỷ lệ tận dụng ưu đãi trong các FTA; hỗ trợ thâm nhập thị trường nước ngoài đối với thương hiệu các hàng hóa đặc trưng thuộc chương trình thương hiệu quốc gia; ưu tiên các hoạt động giới thiệu, quảng bá các sản phẩm trong lĩnh vực nông nghiệp là thế mạnh của Việt Nam.

Đẩy mạnh hoạt động phát triển thương hiệu cho sản phẩm và doanh nghiệp xuất khẩu thông qua chương trình Thương hiệu quốc gia nhằm quảng bá hình ảnh, quảng bá sản phẩm và xây dựng thương hiệu ngành hàng, sản phẩm xuất khẩu tại các thị trường xuất khẩu trọng điểm và có nhiều tiềm năng; lựa chọn và tập trung xây dựng thương hiệu cho một số ngành chủ lực như dệt may, thủy sản, trái cây,…

Tăng cường vai trò của các Hiệp hội ngành hàng

Thủ tướng cũng yêu cầu các Hiệp hội ngành hàng đẩy mạnh công tác thông tin thị trường cho các hội viên để nâng cao tính chủ động, phòng ngừa rủi ro khi thị trường biến động; đẩy mạnh thông tin tới hội viên về các mô hình quản trị hiện đại, tầm quan trọng của cải tiến mẫu mã và đa dạng sản phẩm, nâng cao chất lượng, tạo sản phẩm có thương hiệu đối với hoạt động xuất khẩu.

Các Hiệp hội phát huy vai trò trong việc liên kết các hội viên, đại diện để bảo vệ quyền lợi, lợi ích hợp pháp của các hội viên trong thương mại quốc tế; thực hiện tốt vai trò là cầu nối giữa cơ quan quản lý nhà nước với các doanh nghiệp, phối hợp và hỗ trợ các cơ quan quản lý nhà nước trong triển khai tổ chức đào tạo và tiếp nhận, sử dụng lao động sau đào tạo.

Nguồn:baohaiquan

Đạt 20,3 tỷ USD trong tháng 7, xuất khẩu tăng trở lại

(HQ Online)- Sau khi bị chững lại trong tháng 6, kim ngạch xuất khẩu cả nước có dấu hiệu tăng trở lại trong tháng 7 với tổng trị giá đạt 20,3 tỷ USD, theo thống kế Tổng cục Hải quan công bố chiều này (9/8).

Theo Tổng cục Hải quan, trong nửa cuối tháng 7, kim ngạch xuất khẩu cả nước đạt 11,807 tỷ USD, qua đó giúp kim ngạch xuất khẩu cả nước trong tháng này đạt 20,3 tỷ USD.

Kết quả này tăng 700 triệu USD so với tháng 6. Đây cũng là tháng thứ 3 kể từ đầu năm 2018 đến nay, kim ngạch xuất khẩu cả nước đạt con số từ 20 tỷ USD/tháng trở lên.

2 tháng đạt mốc này trước đó là tháng 3 đạt 21,133 tỷ USD và tháng 1 đạt 20,22 tỷ USD.

Tính hết tháng 7, tong kim ngạch xuất khẩu cả nước đạt 134,51 tỷ USD, tăng 16% so với cùng kỳ 2017.

Đáng chú ý, kim ngạch xuất khẩu của doanh nghiệp FDI vẫn đóng góp đến 70% tổng trị giá kim ngạch xuất khẩu cả nước.

3 mặt hàng xuất khẩu lớn nhất tính hết tháng 7 với kim ngạch đạt 2 con số là điện thoại và linh kiện gần 26,5 tỷ USD; dệt may đạt 16,52 tỷ USD; máy tính và sản phẩm điện tử đạt 15,94 tỷ USD.

Ngoài ra, giày dép và máy móc thiết bị cũng đạt kim ngạch trên 9 tỷ USD.

Hết tháng 7, tổng kim ngạch nhập khẩu cả nước đạt131,657 tỷ USD, tăng 11,1% so với cùng kỳ 2017.

Như vậy, nước ta vẫn duy trì được mức thặng dư thương mại lớn 2,835 tỷ USD tính hết tháng 7.

Nguồn:baohaiquan

Bị áp thuế cao, xuất khẩu tôn màu vào Indonesia có lo mất thị trường?

(HQ Online)- Việc Indonesi chính thức xác định sản phẩm tôn màu nhập khẩu từ Việt Nam bán phá giá vào thị trường nước này ở mức từ 12,01% – 28,49% và khả năng sẽ áp dụng biện pháp chống bán phá giá (CBPG) được đánh giá sẽ gây khó khăn đáng kể tới xuất khẩu, tuy nhiên chưa tới mức lo ngại mất thị trường. 

Theo Hiệp hội Thép Việt Nam (VSA): Thị trường khu vực Đông Nam Á, trong đó có Indonesia chiếm tới 60% lượng xuất khẩu của ngành thép Việt. Đặc biệt, với xuất khẩu thép cán nguội, tôn mạ, Việt Nam đang là nước có năng lực sản xuất mạnh nhất khu vực Đông Nam Á với công nghệ, trình độ ở đẳng cấp cao.

Với riêng thị trường Indonesia, xuất khẩu tôn màu của Việt Nam khá nhiều. Indonesia có nhu cầu lớn, doanh nghiệp thép tại đây không thể đáp ứng được toàn bộ thị trường.

Ông Hồ Nghĩa Dũng, Chủ tịch VSA cho biết thêm: Trong vụ việc Indonesia công bố tôn màu Việt Nam bán phá giá nêu trên, VSA đã làm việc với các doanh nghiệp.

Thực tế, mức đánh thuế mà Indonesia nêu ra có thể sẽ khiến cho việc cạnh tranh xuất khẩu khó khăn hơn trong tương lai. Tuy nhiên, do nhu cầu tôn mạ của thị trường này còn lớn nên khả năng mất thị trường không đáng lo.

“Mổ xẻ” sâu hơn về nguyên nhân khiến tôn Việt xuất khẩu vào Indonesia bị đánh thuế cao, ông Dũng cho rằng, có thể là bởi phía Indonesia nghi ngại sản phẩm tôn màu Việt nhập nguyên liệu sản xuất từ Trung Quốc để sản xuất.

Thực tế, với vụ việc này, các doanh nghiệp đã có sự chuẩn bị trước thông qua động thái mở rộng thị trường xuất khẩu sang EU, Hoa Kỳ cũng như các nước trong khu vực Đông Nam Á… Tuy nhiên, bản chất của vấn đề là các doanh nghiệp trong nước cần phải nâng cao năng lực cạnh tranh.

“Trước đây, doanh nghiệp làm thép cán, làm tôn mạ, các mặt hàng nguyên liệu như thép cán nóng, phôi cán nóng được nhập khẩu từ Trung Quốc khá nhiều. Thời gian tới, ngành thép phải làm sao tự chủ được nguồn nguyên liệu sản xuất đầu vào ngay trong nước, cố gắng khép kín từ khâu đầu vào đến sản xuất để giảm thiểu việc các nước cho rằng Việt Nam lẩn tránh thuế”, ông Dũng khuyến cáo.

Trước đó, theo Cục Phòng vệ thương mại, Bộ Công Thương, ngày 7/6, Cục này đã nhận được thông tin Ủy ban Chống bán phá giá Indonesia (KADI) đã công bố kết luận cuối cùng (tiếng Indonesia) trong vụ việc điều tra chống bán phá giá (CBPG) đối với sản phẩm tôn màu nhập khẩu từ Trung Quốc và Việt Nam (Mã HS: 7210.70.10.00, 7212.40.10.00, và 7212.40.20.00).

Theo đó, Indonesia xác định sản phẩm bị điều tra nhập khẩu từ Việt Nam bán phá giá vào thị trường nước này ở mức từ 12,01% – 28,49% và gây ra thiệt hại đáng kể cho ngành sản xuất trong nước của Indonesia. Căn cứ kết luận này, KPPI kiến nghị áp dụng biện pháp chống bán phá giá với sản phẩm tôn màu của Việt Nam trong khoảng thời gian là 5 năm. Trước đó, ngày 23/12/2016, KADI đã khởi xướng điều tra CBPG đối với sản phẩm liên quan nhập khẩu từ Việt Nam và Trung Quốc.

Nguồn:baohaiquan

TP.HCM: Kim ngạch xuất khẩu, nhập khẩu đều tăng mạnh

(HQ Online)-Kim ngạch xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa qua các cửa khẩu cảng biển và hàng không TP.HCM trong nửa đầu năm 2018 đều tăng mạnh. 

Theo báo cáo của Cục Hải quan TP.HCM, tổng kim ngạch XNK tính từ đầu năm 2018 đến ngày 15/5 đạt 37,08 tỷ USD, tăng 13,3% so với 6 tháng đầu năm 2017.

Trong đó, kim ngạch nhập khẩu đạt 19,94 tỷ USD, tăng 17,4%; kim ngạch xuất khẩu đạt 17,14 tỷ USD, tăng 8,8% so với cùng kỳ năm 2017.

Kim ngạch XNK tăng tập trung chủ yếu vào các nhóm mặt hàng: linh kiện điện tử, điện thoại, máy vi tính, máy móc, giày dép, cao su, hàng dệt may, xăng dầu các loại, hóa chất, thuốc trừ sâu, dược phẩm, ra quả, hàng thủy sản, kim loại, ô tô và linh kiện…

Tuy kim ngạch XNK hàng hóa tăng, nhưng số lượng tàu biển XNC từ đầu năm đến nay lại giảm mạnh hơn 11,5%, chỉ có hơn 3.300 lượt. Trong đó, có 1.853 lượt tàu nhập cảnh và 1.451 lượt tàu xuất cảnh.

Trong nửa đầu năm 2018, Chi cục Hải quan sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất cũng làm thủ tục cho 36.766 lượt tàu bay XNC, với 5.676.993 lượt hành khách, tăng lần lượt 7,2% và 13,12% so với cùng kỳ năm 2017.

Nguồn:baohaiquan

Khắc phục thẻ vàng, xuất khẩu tôm sang EU vẫn tăng trưởng tốt

(HQ Online)-Mặc dù bị ảnh hưởng nhất định từ thẻ vàng IUU, nhưng xuất khẩu tôm sang thị trường EU vẫn duy trì đà tăng trưởng khá tốt.

EU – thị trường tiềm năng

Theo nhận định của Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu thủy sản Việt Nam (VASEP), EU vẫn là thị trường NK lớn nhất của tôm Việt Nam, chiếm 18,2% tổng XK tôm Việt Nam. Xuất khẩu tôm trong 4 tháng đầu năm 2018 tăng 17% đạt gần 1 tỷ USD. Trong đó, XK tôm sang thị trường EU chiếm hơn 18%, tăng 13,5% so với cùng kỳ năm ngoái. XK sang 3 thị trường chính trong khối (Hà Lan, Đức và Bỉ) đều tăng trưởng ở mức 2 con số. XK sang Hà Lan và Đức tăng lần lượt 76,3% và 55,3% trong khi XK sang Bỉ tăng trưởng thấp hơn đạt 18,9%.

XK tôm sang EU trong những tháng đầu năm nay vẫn duy trì được đà tăng trưởng của năm 2017. Việc XK tôm sang thị trường EU hiện khá thuận lợi do Ấn Độ, đối thủ cạnh tranh của Việt Nam gặp khó khăn trên thị trường này nên tôm Việt Nam được lựa chọn thay thế.

Với nhu cầu tiêu thụ tăng nhờ tăng trưởng kinh tế tốt hơn so với dự báo, một số sản phẩm như tôm chân trắng chế biến, tôm sú tươi/đông lạnh sẽ vẫn đạt tốc độ tăng trưởng XK mạnh sang EU trong thời gian tới.

Thống kê cho thấy EU hiện là thị trường dẫn đầu của ngành thủy sản Việt Nam trong năm 2017 với kim ngạch 1,5 tỷ USD, trong đó tôm là mặt hàng rất tiềm năng.

Năm 2017, xuất khẩu thủy sản Việt Nam sang thị trường EU gặp hai trở ngại lớn là bị truyền thông bôi nhọ từ đầu năm làm ảnh hưởng đến tình hình tiêu thụ cá tra, và sự việc EU cảnh cáo “thẻ vàng” liên quan đến vấn đề chống khai thác hải sản trái phép, không theo quy định và không báo cáo đối với thủy sản Việt Nam nhưng tổng giá trị xuất khẩu vào EU trong năm vẫn khả quan nhờ việc tiêu thụ mặt hàng tôm tăng mạnh.

Bên cạnh đó, tôm Việt Nam có lợi thế được hưởng mức thuế GSP từ EU mà Thái Lan và Trung Quốc không có và hiện có mức giá hợp lý hơn so với các đối thủ cạnh tranh. Hiện tại, mức thuế GSP mà EU dành cho Việt Nam đối với tôm nguyên liệu đông lạnh (HS 030617) là 4,2%; tôm chế biến đông lạnh (HS 160521) là 7%.

Hưởng lợi từ EVFTA

Theo đánh giá của các chuyên gia, Hiệp định Thương mại Tự do Việt Nam với Liên minh châu Âu (EVFTA) đang trong giai đoạn chuẩn bị có hiệu lực. Theo cam kết, sau khi Hiệp định có hiệu lực, hàng hóa Việt Nam trong đó có mặt hàng tôm sẽ được hưởng thuế ưu đãi đặc biệt.

EU chủ yếu NK tôm nguyên liệu đông lạnh và tôm chế biến từ Việt Nam. Theo cam kết, ngay khi EVFTA có hiệu lực, thuế XK tôm nguyên liệu mã HS 03061100 sang EU sẽ về 0% từ mức hiện tại là 12,5%, thuế sản phẩm tôm mã HS 03061710 về 0% từ mức 20% hiện tại.

Đối với sản phẩm tôm chế biến, tôm mã HS 16052110 (tôm dạng bột nhão) từ mức 20% hiện tại sẽ điều chỉnh về 0% sau 7 năm kể từ khi Hiệp định có hiệu lực; tôm mã HS 16052190 (tôm khác) từ 20% về 0% sau 7 năm kể từ khi Hiệp định có hiệu lực.

EU chiếm khoảng 30,6% tổng giá trị NK tôm của toàn thế giới. NK tôm của EU dao động từ 6-8 tỷ USD mỗi năm. Trong 10 năm (2007-2017), NK tôm vào EU tăng từ 5,6 tỷ USD lên 6,9 tỷ USD năm 2017.

Trên thị trường EU, Việt Nam phải cạnh tranh chủ yếu với Ấn Độ và Ecuador. Trong khi Ấn Độ có xu hướng giảm XK tôm cho EU do gặp phải một số khó khăn thì Ecuador ngày càng đẩy mạnh XK sang thị trường này. Ecuador có nhiều lợi thế hơn Việt Nam trong sản xuất tôm và hiện đang được hưởng ưu đãi thuế quan 0%; giảm từ 3,6% trước đó.

Theo khuyến cáo của các chuyên gia, trong quá trình EVFTA đang được phê chuẩn, DN cần chủ động nắm vững các cam kết của Việt Nam và đối tác để có kế hoạch XK phù hợp.

EU là một trong những thị trường có nhiều quy định kỹ thuật khá khắt khe với mục đích là bảo vệ tốt nhất sức khỏe con người, bảo vệ môi trường, phát triển bền vững…Do đó, DN cần đáp ứng tốt các yêu cầu về an toàn vệ sinh thực phẩm để tiếp cận thị trường nhất là khi EVFTA có hiệu lực với cơ hội về thuế.

Dự đoán, 2018 sẽ là năm đầy hứa hẹn của sản phẩm tôm tại thị trường châu Âu. Ngược lại, dù là sản phẩm chủ lực trước đây, song từ khoảng ba năm trở lại đây, sản lượng xuất khẩu cá tra đã sụt giảm khá nhiều, tuy nhiên các doanh nghiệp Việt Nam vẫn xác định sẽ nỗ lực để giữ thị trường châu Âu.

Nguồn:baohaiquan

Bắc Ninh vượt TP.HCM dẫn đầu cả nước về xuất khẩu

(HQ Online)- Mới qua 4 tháng, kim ngạch xuất khẩu của Bắc Ninh tăng thêm gần 54% so với cùng kỳ 2017, giúp địa phương này soán ngôi TP.HCM trở thành địa phương dẫn đầu cả nước.

Theo Tổng cục Hải quan, cập nhật hết tháng 4/2018, tổng trị giá kim ngạch xuất khẩu của tỉnh Bắc Ninh đạt 11,624 tỷ USD, tăng gần 54% so với cùng kỳ 2017, tương đương con số tuyệt đối gần 4,1 tỷ USD.

Kim ngạch xuất khẩu của Bắc Ninh 4 tháng qua chiếm đến 15,73% tổng trị giá kim ngạch xuất khẩu cả nước.

Sự tăng trưởng mạnh mẽ kể trên giúp Bắc Ninh vượt qua TP.HCM trở thành địa phương dẫn đầu cả nước về xuất khẩu. Cùng thời điểm trên kim ngạch xuất khẩu của TP.HCM chỉ đạt 11,345 tỷ USD.

Như vậy, đây là lần đầu tiên trong nhiều năm, TP.HCM để mất ngôi vị số 1 cả nước về xuất khẩu.

Trong 63 tỉnh, thành phố của cả nước, Bắc Ninh là địa phương có sự tăng trưởng ấn tượng nhất về hoạt động xuất khẩu.

Đơn cử như so sánh với TP.HCM, cùng kỳ 2017, TP.HCM đang vững vàng ở vị trí số 1 với kim ngạch đạt gần 10,8 tỷ USD, trong khi Bắc Ninh mới đạt 7,552 tỷ USD, nhưng 4 tháng đầu năm nay 2 vị trí dẫn đầu đã có sự đảo chiều ngoạn mục.

Sự vươn lên của Bắc Ninh cũng gắn với sự tăng trưởng của hoạt động sản xuất, xuất khẩu của Tập đoàn Samsung với những sản phẩm xuất khẩu chủ lực của nước ta như điện thoại, máy tính bảng…

Tuy nhiên, xét chung về tổng kim ngạch xuất nhập khẩu, TP.HCM vẫn là địa phương dẫn đầu cả nước với tổng trị giá đạt 25,548 tỷ USD, trong khi Bắc Ninh chỉ đạt 20,409 tỷ USD.

Ngoài 2 địa phương nêu trên, hết tháng 4, cả nước còn 10 địa phương khác đạt kim ngạch xuất khẩu từ 1 tỷ USD trở lên. Trong đó một số vị trí nổi bật đứng liền kề sau Bắc Ninh và TP.HCM là Thái Nguyên đạt 8,572 tỷ USD; Bình Dương đạt 7,17 tỷ USD; Đồng Nai đạt 5,673 tỷ USD…

Nguồn:baohaiquan

Tạo thuận lợi tối đa cho hàng thủy sản xuất khẩu

(HQ Online)- Với đặc thù hàng xuất khẩu qua đường hàng không chủ yếu là thủy sản và trái cây, Đội thủ tục hàng hóa xuất khẩu- Chi cục Hải quan cửa khẩu sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất bố trí cán bộ, công chức làm việc 24/24 để hỗ trợ, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp. 

2 trường hợp cần Giấy chứng nhận kiểm dịch

Mới đây, Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu thủy sản Việt Nam (VASEP) phản ánh, từ tháng 1/2018 đến nay, Hiệp hội đã nhận được phản ánh của một số DN hội viên liên quan đến bất cập do quy định yêu cầu các lô hàng thủy sản XK phải có Giấy chứng nhận kiểm dịch mới được thông quan. Cơ quan Hải quan tại sân bay quốc tế Tân Sơn nhất đã và đang yêu cầu các lô hàng thủy sản khi XK qua sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất phải có Giấy chứng nhận kiểm dịch mới được thông quan xuất khẩu.

Tìm hiểu thực tế tại Chi cục Hải quan cửa khẩu sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất, một số DN xuất khẩu thủy sản thường xuyên tại đây cho biết, theo quy định hiện hành, chỉ những các lô hàng thủy sản xuất khẩu cần có Giấy chứng nhận kiểm dịch kèm theo nếu nước nhập khẩu hoặc chủ hàng có yêu cầu bắt buộc, còn với các nước không có yêu cầu bắt buộc và chủ hàng không yêu cầu thì các lô hàng thủy sản XK không cần giấy này.

Theo một số DN làm thủ tục XK thủy sản tại sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất, việc xuất khẩu hàng thủy sản có cần phải Giấy chứng nhận kiểm dịch hay không là do DN căn cứ vào thị trường xuất khẩu và yêu cầu của đối tác để chuẩn bị trong bộ hồ sơ hải quan, không phải lô hàng thủy sản xuất khẩu nào cũng cần phải có Giấy chứng nhận kiểm dịch. Đây là quy định của cơ quan kiểm tra chuyên ngành, cơ quan Hải quan chỉ là đơn vị thực thi theo quy định hiện hành.

Trước đây, Cục Quản lý chất lượng nông lâm thủy sản đã ban hành công văn số 442/QLCL-CL1 ngày 20/3/2014 thông báo 7 thị trường có yêu cầu phải cấp giấy Chứng nhận Kiểm dịch. Tuy nhiên, công văn này ban hành dựa trên Pháp lệnh Thú y 2003 và Thông tư 06/2010/TT-BNNPTNT ngày 02/02/2010 của Bộ NN&PTNT quy định trình tự, thủ tục kiểm dịch thủy sản, sản phẩm thủy sản.

Hiện nay, cả hai văn bản này đều đã hết hiệu lực và được thay thế bằng Luật Thú y 2015 và Thông tư 26/2016/TT-BNNPTNT ngày 30/6/2016 của Bộ NN&PTNT. Tại khoản 2, Điều 53, Luật Thú y 2015 quy định: “Động vật, sản phẩm động vật thủy sản có trong Danh mục động vật, sản phẩm động vật thủy sản thuộc diện phải kiểm dịch trước khi XK theo yêu cầu của nước nhập khẩu, của chủ hàng và trước khi nhập khẩu, tạm nhập tái xuất, tạm xuất tái nhập, chuyển cửa khẩu, kho ngoại quan, quá cảnh lãnh thổ Việt Nam phải được kiểm dịch.”

Theo quy định này, các lô hàng thủy sản XK cần có Giấy chứng nhận kiểm dịch kèm theo nếu nước nhập khẩu hoặc chủ hàng có yêu cầu bắt buộc, còn với các nước không có yêu cầu bắt buộc và chủ hàng không yêu cầu thì các lô hàng thủy sản XK không nhất thiết phải có giấy này mới được phép thông quan. Như vậy, chỉ có hai trường hợp là lô hàng thủy sản XK phải có Giấy chứng nhận kiểm dịch kèm theo, bao gồm: Trường hợp chủ hàng có yêu cầu và trường hợp nước nhập khẩu yêu cầu.

Hàng xuất khẩu thông quan 24/24 giờ

Ông Võ Minh Luân, Công ty TNHH Tiếp vận Tường Long cho biết, trung bình mỗi ngày công ty mở khoảng 10 tờ khai làm thủ tục xuất khẩu hàng qua sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất, trong đó 2/3 là mặt hàng thủy sản. Đối với mặt hàng thủy sản xuất khẩu, không phải lô hàng nào cũng phải cần giấy Chứng nhận kiểm dịch. Theo quy định hiện hành, chỉ những các lô hàng thủy sản xuất khẩu cần có Giấy chứng nhận kiểm dịch kèm theo nếu nước nhập khẩu hoặc chủ hàng có yêu cầu bắt buộc, còn với các nước không có yêu cầu bắt buộc và chủ hàng không yêu cầu thì các lô hàng thủy sản XK không nhất thiết phải có giấy này mới được phép thông quan.

“Hầu hết hàng xuất khẩu đi luồng Xanh – miễn kiểm tra, trừ những lô hàng phải kiểm tra chuyên ngành, DN phải xuất trình hồ sơ giấy cho cơ quan Hải quan kiểm tra, nhưng thủ tục cũng rất nhanh. Những lô hàng phải xuất vào sáng sớm, hoặc tối muộn, khi DN có yêu cầu đều được giải quyết ngay”- ông Luân chia sẻ.

Theo lãnh đạo Đội thủ tục hàng hóa xuất khẩu – Chi cục Hải quan cửa khẩu sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất, hàng hóa xuất khẩu qua đường hàng không sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất chủ yếu thủy, hải sản, trái cây tươi… trung bình mỗi ngày đơn vị này làm thủ tục cho khoảng 140 tờ khai hải quan xuất khẩu. Do hàng hóa phải đi theo chuyến bay nên tùy theo nhu cầu xuất khẩu hàng hóa của DN, lãnh đạo đội sẽ bố trí công chức trực thông quan hàng hóa cho DN 24/24 giờ.

Lãnh đạo Đội thủ tục hàng hóa xuất khẩu cũng thường xuyên, lưu ý hướng dẫn DN, đối với những lô hàng thủy sản xuất khẩu không cần Giấy chứng nhận kiểm dịch, DN khai báo vào phần ghi chú trên tờ khai hải quan điện tử: Người xuất khẩu và người nhập khẩu không yêu cầu kiểm dịch./.

Nguồn:baohaiquan

Thị trường thay đổi, xuất khẩu gỗ đối mặt thách thức lớn

(HQ Online)- Mặc dù kim ngạch xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ tăng trưởng khá đều đặn với mức khoảng 10-15%/năm, song thời gian tới, với các thay đổi tại những thị trường xuất khẩu, dự kiến ngành chế biến, xuất khẩu gỗ sẽ phải đối mặt với không ít khó khăn.

Chính sách bảo hộ từ Hoa Kỳ

Báo cáo “Việt Nam xuất nhập khẩu gỗ và sản phẩm gỗ: Thực trạng và xu hướng phát triền bền vững” do các đơn vị là Tổ chức Forest Trends, Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam (VIFORES), Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Bình Định (FPA Bình Định), Hội Gỗ mỹ nghệ và Chế biến gỗ Thành phố Hồ Chí Minh (HAWA) tiến hành được công bố tại hội thảo cùng tên diễn ra sáng nay (27/3), tại Hà Nội cho thấy: Thời gian tới, ngành chế biến, xuất khẩu gỗ có thể sẽ phải đối mặt với một số khó khăn do các thay đổi tại các thị trường xuất khẩu, đặc biệt là 4 thị trường quan trọng nhất của Việt Nam gồm: Hoa Kỳ, Trung Quốc, Hàn Quốc và Nhật Bản.

Cụ thể, tại thị trường Hoa Kỳ, chính sách thương mại của Tổng thống Trump hiện đi theo hướng giảm thâm hụt thương mại, bảo hộ mậu dịch, khuyến khích sản xuất trong nước. Chính sách này đã tác động trực tiếp đến Trung Quốc, quốc gia có mức thặng dư thương mại lớn nhất từ Hoa Kỳ. Thời gian gần đây đã diễn ra sự tăng trưởng trong đầu tư vào ngành gỗ của các doanh nghiệp Trung Quốc vào Việt Nam.

Sự dịch chuyển này được đánh giá có thể là những động thái nhằm tránh các chính sách về thuế của Hoa Kỳ áp dụng cho các mặt hàng của Trung Quốc xuất khẩu vào Hoa Kỳ. Gia tăng đầu tư Trung Quốc vào chế biến gỗ của Việt Nam cũng có thể là phản ứng của các doanh nghiệp Trung Quốc với chính sách môi trường ngày càng nghiêm ngặt của Chính phủ Trung Quốc đối với các ngành sản xuất nội địa.

Liên quan tới vấn đề này, ông Tô Xuân Phúc, Tổ chức Forest Trend phân tích: Tăng đầu tư của Trung Quốc vào ngành gỗ của Việt Nam ẩn chứa những rủi ro cho ngành gỗ Việt Nam. Hoa Kỳ là thị trường tiêu thụ khoảng 20% tổng lượng hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam. Việt Nam đã trở thành quốc gia được Hoa Kỳ quan tâm lớn, đặc biệt là đối với các mặt hàng xuất khẩu như hàng điện tử, may mặc, giầy dép và đồ gỗ.

Riêng đối với các mặt hàng đồ gỗ, thặng dư thương mại của Việt Nam từ Hoa Kỳ đạt trên 2 tỷ USD. Mức thặng dư này, cộng với luồng đầu tư từ Trung Quốc vào ngành chế biến gỗ của Việt Nam có thể sẽ tạo ra những mối quan tâm đặc biệt từ các cơ quan quản lý Hoa Kỳ. “Điều này đòi hỏi ngành gỗ và các cơ quan quản lý của Việt Nam cần có những bước chuẩn bị thích hợp, nhằm giảm thiểu những thay đổi trong xuất khẩu vào thị trường Hoa Kỳ”, ông Phúc nói.

Tăng cường kiểm soát tính hợp pháp

Ngoài Hoa Kỳ, sự đổi thay chính sách từ các thị trường Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản chủ yếu liên quan tới vấn đề kiểm soát tính hợp pháp của gỗ cũng sẽ đặt ngành chế biến, xuất khẩu gỗ trước những khó khăn đáng kể.

Báo cáo nêu rõ: Đến nay, Trung Quốc là thị trường rất mở đối với các mặt hàng gỗ của Việt Nam. Thặng dư thương mại các mặt hàng gỗ của Việt Nam từ thị trường này khoảng trên 600 triệu USD mỗi năm. Tuy nhiên, các mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam vào thị trường Trung Quốc chủ yếu là các sản phẩm thô như dăm gỗ, các loại gỗ tròn/đẽo vuông thô và gỗ xẻ.

Ông Tô Xuân Phúc cho hay: Trung Quốc đang cân nhắc áp dụng chính sách từng bước (step-wise) trong việc kiểm soát tính hợp pháp của nguồn gỗ sử dụng tại quốc gia này. Hiện, Chính phủ Trung Quốc đã áp dụng quy định chỉ có gỗ hợp pháp được sử dụng trong các cơ quan công quyền.

Với Nhật Bản, Chính phủ Nhật Bản đã ban hành Đạo luật Gỗ sạch (Clean Wood Act), có hiệu lực vào tháng 5/2017. Hiện, Chính phủ Nhật Bản đang ban hành các văn bản hướng dẫn việc áp dụng Đạo luật này.

Liên quan tới câu chuyện sử dụng gỗ, Chính phủ Hàn Quốc cũng đã ban hành Đạo luật Sử dụng gỗ bền vững (Act on the Sustainable Use of Wood), chính thức có hiệu lực vào tháng 3/2018.

Theo ông Phúc: “Thực thi các Đạo luật này có thể đồng nghĩa với việc áp dụng các biện pháp nhằm thắt chặt kiểm soát nhập khẩu các mặt hàng gỗ vào thị trường này. Điều đó sẽ tác động đến các hoạt động xuất khẩu các mặt hàng gỗ của Việt Nam vào các thị trường này trong thời gian tới”.

Tại hội thảo, một số đại biểu cho rằng, ngành chế biến, xuất khẩu gỗ của Việt Nam vẫn trên đà tăng trưởng. Trong những năm gần đây, tăng trưởng thể hiện cả trên khía cạnh mở rộng xuất khẩu và đi vào chiều sâu với tỷ trọng các mặt hàng có giá trị gia tăng đang ngày càng cao, các mặt hàng nguyên liệu thô đang giảm.

Động lực phát triển của ngành chế biến gỗ xuất khẩu có liên quan mật thiết với nguồn cung gỗ trong nước và tiêu dùng nội địa. Điều này có nghĩa, để ngành chế biến, xuất khẩu gỗ phát triển một cách bền vững trong tương lai cần phải có những chiến lược cấp quốc gia và cấp doanh nghiệp, trong việc cân đối cung – cầu nguyên liệu từ nguồn nhập khẩu, khai thác trong nước và xuất khẩu, cân đối giữa thị trường nội địa và thị trường xuất khẩu, cân đối giữa các mảng sản xuất khác nhau của ngành…

m 2017, kim ngạch xuất khẩu lâm sản đạt 8 tỷ USD, trong đó gỗ và sản phẩm gỗ đạt gần 7,7 tỷ USD. 300 triệu USD còn lại trong số 8 tỷ là giá trị xuất khẩu các sản phẩm lâm sản ngoài gỗ như sản phẩm mây tre, cói và thảm. Năm 2018, mục tiêu xuất khẩu lâm sản đặt ra 9 tỷ USD. Mục tiêu này được các doanh nghiệp nhận định tương đối khả thi.

Nguồn:baohaiquan