Xuất khẩu cá tra sang ASEAN tăng hơn 43%

(HQ Online)-Theo Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu thủy sản Việt Nam (VASEP), năm 2018 là một năm XK cá tra sang thị trường ASEAN có nhiều thuận lợi. Tính đến hết tháng 11/2018, tổng giá trị XK sang thị trường này đạt 183,5 triệu USD, tăng 43,7% so với cùng kỳ năm trước.

Riêng 3 thị trường XK lớn nhất là: Thái Lan, Singapore và Philippines cũng có giá trị tăng trưởng lần lượt 48,1%; 25,1% và 39,3% so với cùng kỳ năm 2017.

11 tháng đầu năm 2018, giá trị XK cá tra sang thị trường Thái Lan đạt 67,5 triệu USD. Đây là thị trường XK lớn nhất của cá tra Việt Nam tại ASEAN, chiếm 36,8% tổng XK sang cả khu vực.

Việt Nam là thị trường nguồn cung cá thịt trắng lớn nhất của Thái Lan, trong đó, sản phẩm NK chủ yếu là cá tra phile đông lạnh (HS 030462) với giá trị NK trung bình từ 4,4 – 6,9 triệu USD/tháng và khối lượng NK từ 2.000 – 3.750 tấn/tháng. Ngoài sản phẩm cá tra Việt Nam, Thái Lan cũng NK một số sản phẩm cá thịt trắng khác như: Thịt cá Alaska (HS 030494) từ Mỹ và cá Alaska pollock (HS 030367) từ Nga. Cho tới thời điểm này, NK cá tra phile đông lạnh của Thái Lan vẫn khá ổn định, nhu cầu tốt.

Ngoài Thái Lan, trong năm 2018, XK cá tra sang hai thị trường Singapore và Phillipines cũng đạt mức tăng trưởng cao với giá trị đạt lần lượt 42,3 triệu USD và 37,4 triệu USD.

Theo phản ánh của một số DN cá tra, nhu cầu NK của hai thị trường này trong năm nay tăng mạnh. Singapore NK cá tra chủ yếu từ Việt Nam, ngoài ra, nước này cũng NK cá tra từ Trung Quốc và Malaysia. Trong năm 2018, nhu cầu NK cá tra từ Singapore và Philippines ổn định và tăng trưởng ở mức hai con số. Đây là những dấu hiệu khả quan cho cá tra Việt Nam tại ASEAN.

Nguồn:baohaiquan

Xuất khẩu cá ngừ tăng đột biến tại một số thị trường

(HQ Online)-Trong tháng 9, XK cá ngừ của Việt Nam sang các thị trường chỉ tăng 1,4% so với tháng 9/2017, nhưng lại có mức tăng đột biến tại một số thị trường. 

Theo Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu thủy sản Việt Nam (VASEP), trong tháng 9, XK cá ngừ của Việt Nam sang các thị trường chỉ tăng 1,4%, trong khi tốc độ tăng trưởng trong tháng 8 đạt 20,4% và tháng 7 là 2,1%. Điều này cho tốc độ tăng trưởng XK không ổn định.

Tuy nhiên, trong tháng 9, XK cá ngừ sang một số thị trường như Tây Ban Nha, Canada… tăng đột biến.

Tính riêng trong tháng 9, Việt Nam đã XK 53 triệu USD các sản phẩm cá ngừ sang các thị trường, nâng tổng giá trị XK trong 9 tháng đầu năm lên gần 474 triệu USD, tăng 10,3% so với cùng kỳ năm 2017.

Cụ thể, sau sự phục hồi trong tháng 8, XK cá ngừ của Việt Nam sang Mỹ lại giảm. Giá trị XK cá ngừ sang thị trường này trong tháng 9 chỉ đạt gần 19 triệu USD, giảm 7,2% so với cùng kỳ. Cuộc chiến trang thương mại Mỹ – Trung đã tạo cơ hội cho các nước Đông Nam Á như Việt Nam, Philippines hay Thái Lan vươn lên chiếm lĩnh thị phần của Trung Quốc trên thị trường này. Nhưng trong cuộc chạy đua này, sức cạnh tranh của các DN Việt Nam vẫn yếu hơn so với Philippines và Thái Lan.

XK cá ngừ của Việt Nam sang EU có xu hướng chậm lại, tốc độ độ tăng trưởng từ mức 47% trong tháng 8 đã giảm xuống còn 1,3% trong tháng 9. Tuy nhiên, tính tổng 9 tháng năm 2018, XK cá ngừ sang khối thị trường này vẫn tăng trưởng tốt 22% so với cùng kỳ năm 2017, đạt 118 triệu USD.

Bên cạnh đó, trong đáng 9, diễn biến XK cá ngừ của Việt Nam sang các thị trường đơn lẻ trong khối EU có nhiều biến động không ngờ. Cụ thể, Tây Ban Nha với tốc độ tăng trưởng đột biến lên tới 336% đã vượt lên soán ngôi vị trí dẫn đầu của Đức. Trong khi, XK cá ngừ của Việt Nam sang Đức và Hà Lan trong tháng 9 lại có mức tăng trưởng âm.

Sau sự sụt giảm trong tháng 8, XK cá ngừ sang Israel trong tháng 9 đã phục hồi. Giá trị XK cá ngừ sang thị trường này trong tháng 9 đạt 4,3 triệu USD, tăng 75% so với tháng 9/2017, nâng tổng giá trị XK trong 9 tháng đầu năm lên 53 triệu USD, tăng 51% so với cùng kỳ năm trước. Với xu hướng tiêu thụ ngày càng tăng, thị trường này đang rất thu hút các DN Việt Nam.

Nguồn:baohaiquan

Xuất khẩu cá tra: Giá chót vót nhưng không còn “độc tôn”

(HQ Online)- Tình hình nuôi trồng, XK cá tra từ đầu năm đến nay ghi nhận nhiều kết quả tích cực, dự kiến giá cá tra sẽ duy trì cao đến hết năm. Tuy nhiên, vấn đề nổi cộm hiện nay là cá tra Việt Nam đã không còn duy trì được thế “độc tôn” trên thị trường quốc tế, ngày càng phải đối mặt với sự cạnh tranh mạnh mẽ.

Giá cao kỷ lục

Theo Bộ NN&PTNT, 9 tháng đầu năm nay, tình hình nuôi cá tra gặp nhiều thuận lợi do giá bán luôn ở mức cao và thị trường tiêu thụ ổn định. Sản lượng nuôi cá tra của các tỉnh ĐBSCL 9 tháng đầu năm ước đạt 992,7 nghìn tấn, tăng 6% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, một số tỉnh nuôi cá tra trọng điểm đạt sản lượng lớn như: Đồng Tháp sản lượng đạt 319,9 nghìn tấn, tăng 4,5%; An Giang sản lượng đạt 262 nghìn tấn, tăng 22,3%; Bến Tre sản lượng 157 nghìn tấn, tăng 12,5%…

Nhìn lại 9 tháng đầu năm, vượt qua những khó khăn như sự khủng hoảng cá tra giống và những rào cản từ thị trường NK, hoạt động sản xuất, XK cá tra vẫn phát triển tốt với giá cá giống, giá cá nguyên liệu liên tục duy trì ở mức cao. Cụ thể, ngay trong tháng 9 vừa qua, giá cá tra nguyên liệu tại ĐBSCL có xu hướng tăng so với tháng trước đó. Mức giá trung bình trong khoảng 30.000 – 32.000 đồng/kg (cá loại I, 700 – 900g/con) tại các vùng sản xuất như An Giang, Vĩnh Long, Đồng Tháp…, tăng khoảng 3.000 đồng/kg so với tháng trước. Bộ NN&PTNT lý giải, giá cá tra nguyên liệu tăng do nguồn cung cá giống khan hiếm. Bên cạnh đó, trữ lượng cá nguyên liệu đang ở mức khá thấp, trong khi nhu cầu thu mua cá nguyên liệu sản xuất cho XK sang thị trường Hoa Kỳ và EU tăng, đặc biệt là cá tra có kích thước nhỏ.

Đánh giá về tình hình sản xuất, XK cá tra từ đầu năm đến nay, nhất là về mức giá cá tra nguyên liệu, ông Dương Nghĩa Quốc, Chủ tịch Hiệp hội Cá tra Việt Nam cho rằng: Đây là mức giá cao kỷ lục trong hàng chục năm qua. “9 tháng đầu năm, XK cá tra đạt 1,6 tỷ USD, tăng 24,6% so với cùng kỳ năm trước. Ngoài nhu cầu từ EU và Hoa Kỳ tăng mạnh, thị trường Trung Quốc cũng đang tăng cường NK cá tra của Việt Nam. Nếu như trước kia, Trung Quốc chỉ NK cá tra loại 1kg/con trở lên thì thời gian gần đây, thị trường này NK cả loại cá tra 700 – 800 g/con”, ông Quốc phân tích.

Cạnh tranh ngày càng tăng

Bộ NN&PTNT dự báo: Với tình hình hiện tại, nguồn cá nguyên liệu phục vụ cho nhu cầu XK trong quý IV sẽ hạn chế. Giá cá tra XK sẽ được giữ ở mức tốt và có thể kéo dài đến hết năm 2018. Đưa ra con số đong đếm cụ thể hơn, ông Dương Nghĩa Quốc nhận định, cả năm nay, kim ngạch XK cá tra có thể đạt ngưỡng kỷ lục 2 tỷ USD, cao hơn 200 triệu USD so với năm 2017.

Vượt qua nhiều khó khăn, thách thức, có thể khẳng định, năm nay XK cá tra đã thu về không ít “trái ngọt”. Tuy nhiên, xem xét rộng dài trong câu chuyện sản xuất, XK mặt hàng này, điểm bất ổn nổi cộm dễ thấy là cá tra Việt Nam đã không còn giữ được thế “độc tôn” trên thị trường như trước. Do là loài thủy sản dễ nuôi, thời gian gần đây một số nước đã bắt đầu đẩy mạnh đầu tư phát triển cá tra. Điều này tạo áp lực cạnh tranh ngày càng lớn cho cá tra Việt Nam.

Liên quan tới vấn đề này, ông Đào Xuân Hiếu, Phó Trưởng phòng Phát triển thị trường thủy sản, Cục chế biến và Phát triển thị trường nông sản (Bộ NN&PTNT) phân tích: Dù hiện nay Việt Nam đang chiếm 60-70% thị phần cá tra XK, song một số nước như Baladesh, Ấn Độ cũng đã bắt đầu tham gia vào thị trường XK cá tra. Ngoài ra, thông tin từ Vụ Nuôi trồng Thủy sản, Tổng cục Thủy sản (Bộ NN&PTTN) cho thấy: Mặc dù Trung Quốc vẫn đang là một trong những khách hàng tiêu thụ sản phẩm cá tra Việt Nam nhiều nhất nhưng quốc gia này đang có khả năng trở thành nhà cung cấp cá tra rất tiềm năng cho thế giới. Đây cũng là một rào cản lớn cho ngành cá tra về sau. “Bộ NN&PTNT coi cá tra là sản phẩm quốc gia và đã có chính sách đặc thù riêng để phát triển mặt hàng này. Trong đó, Bộ NN&PTNT có nội dung phối hợp cùng Bộ Công Thương xây dựng thương hiệu sản phẩm cá tra trên thị trường thế giới”, ông Hiếu nói.

Đứng trước áp lực cạnh tranh, song ông Dương Nghĩa Quốc lại đưa ra cái nhìn có phần lạc quan. Đó là, so với các nước khác, Việt Nam có lợi thế địa lý và tự nhiên phù hợp để phát triển nuôi cá tra nên tốc độ tăng trưởng sản lượng cao hơn. Dù vậy, ông Quốc cũng khẳng định: Ngành cá tra Việt Nam không thể chủ quan, phải tăng cường sản xuất, quản lý cá tra theo chuỗi, đảm bảo sản lượng, chất lượng sản phẩm. Đặc biệt, cá tra Việt Nam cần làm tốt hơn nữa khâu xây dựng thương hiệu trên thị trường quốc tế.

Đánh giá để phát triển bền vững ngành cá tra, còn rất nhiều việc phải làm, Bộ trưởng Bộ NN&PTNT Nguyễn Xuân Cường nhấn mạnh: Các địa phương phải quy hoạch lại sản xuất từ khâu giống, thức ăn, chăn nuôi, chế biến cho tới XK; đa dạng hóa sản phẩm, ưu tiên hàng giá trị gia tăng, đa dạng hóa thị trường XK…

Nguồn:baohaiquan

Xuất khẩu cà phê thô là thiệt thòi lớn với người Việt?

(HQ Online)- Mặc dù là nước thứ 2 trên thế giới xuất khẩu cà phê thô, nhưng người tiêu dùng Việt Nam lại đang phải đối mặt với tình trạng cà phê pha trộn, kém chất lượng.

Khúc nghẽn” thị trường cà phê nội địa

Theo thống kê, Việt Nam là quốc gia đứng thứ 2 trên thế giới về xuất khẩu cà phê (riêng năm 2017, Việt Nam xuất khoảng 1,8 triệu tấn cà phê nhân). Vì vậy, có tới 90% lượng cà phê xuất khẩu thô nên thương hiệu cà phê Việt Nam vẫn chưa có tên trên bản đồ thế giới. Trong khi đó, tại thị trường trong nước, người tiêu dùng phải đối mặt hàng ngày với cà phê trộn phụ gia, cà phê nguyên chất chiếm tỷ lệ rất ít. Vì vậy, trong khi các loại cà phê chất lượng nhất được các doanh nghiệp tập trung xuất khẩu ra nước ngoài thì mỗi năm, Việt Nam lại phải nhập khoảng 60.000 tấn cà phê đã qua chế biến từ các nước như Brazil, Mỹ, Trung Quốc…

Trong buổi bình luận về cà phê diễn ra ngày 3/10, tại Hà Nội, Đại biểu Quốc hội Dương Trung Quốc cho rằng: “ Việt Nam là nước thứ 2 sản xuất lớn nhất về sản lượng cà phê hạt, nhưng lại yếu ở khâu chế biến. Hơn nữa, tách cà phê nội địa không thực sự chuẩn mực. Đặc biệt là sự nguyên chất cà phê và đảm bảo an toàn hệ sinh thái môi trường. Có thể nói, xuất khẩu cà phê thô là sự thiệt thòi lớn với người tiêu dùng Việt Nam”.

Theo Đại biểu Quốc hội Dương Trung Quốc: Thực tế, Việt Nam có rất nhiều tiềm năng sản xuất ra hạt cà phê, nhưng người dùng trong nước lại thường xuyên đối mặt với vấn đề chất lượng. Bởi vì, việc xây dựng chuẩn mực với cà phê không hề đơn giản. Tuy nhiên, chuẩn mực đầu tiên mà ta không thể không làm được, đó là khai thác tối thiểu sự an toàn từ hệ sinh thái môi trường như sự bạc hoá thổ nhưỡng, đến chất lượng sản phẩm. Từ nền tảng đó, mới có thể phát huy tất cả những chất liệu, chất lượng cà phê khác nhau, để có thể tạo ra những hương vị chinh phục người dùng. Chúng ta có một điều kiện thuận lợi, chính là sản xuất ra hạt cà phê, nếu chế biến theo tư duy mang lại những gì tốt nhất cho chính đồng bào ta, mà đồng bào ta là một thị trường khổng lồ thì tôi cho đó là sự thành công.

Nông dân được hưởng gì từ quy chuẩn cà phê?

Chia sẻ về vấn đề này, ông Phan Minh Thông, Tổng giám đốc Công ty CP Phúc Sinh, đại diện nhãn hàng K-Coffee cho rằng: “Một trong những quy chuẩn trong ngành cà phê và cần thiết với người trồng cà phê là quy chuẩn UTZ Certified. Đây là chứng nhận do một tổ chức Hà Lan đưa ra quy định quy chuẩn cho các ngành thực phẩm trên thế giới. UTZ có rất nhiều yêu cầu người nông dân phải đáp ứng, như vấn đề môi trường, độ tuổi gốc cà phê, phân bón, thời gian dùng thuốc trừ sâu, nhân lực, đất đai, thổ nhưỡng… ví dụ, với cà phê, trước thu hoạch 60 ngày, không được sử dụng thuốc trừ sâu và phân bón…

Tiêu chí của UTZ là đảm bảo làm sao cho người nông dân luôn phát triển bền vững, từ đó, tạo nền tảng, động lực cho ngành hàng phát triển. Bản thân người nông dân khi đáp ứng các điều kiện trong quy chuẩn UTZ, thì sản lượng sẽ tăng, bán đắt hàng, thậm chí bán ở đâu cũng được.

Theo ông Thông, thực tế hiện nay cho thấy, đại đa số chúng ta tận diệt môi trường, chưa thực sự chú trọng đến môi trường. “Chúng tôi là người làm trong ngành nông nghiệp nên chứng kiến rất rõ, nhiều sản phẩm, nhiều lô hàng có dư lượng thuốc trừ sâu cao rất nhiều lần. Hiệp hội Gia vị của Mỹ đã đưa ra lời cảnh báo về vấn đề này và có lẽ, đã đến lúc chúng ta bắt buộc phải thay đổi”, Phan Minh Thông nói.

Là một người có nhiều năm làm trong ngành cà phê, ông Phan Minh Thông chia sẻ rằng, một sản phẩm cà phê hoàn hảo, nguyên chất thì không cần phải có thêm bất cứ thành phần nào khác. Cà phê nguyên chất là không sánh, không có bột, không có sự sệt sệt hay thơm nức mùi cà phê. Cà phê nguyên chất sẽ có màu cánh gián hoặc hơi đen nếu pha đặc.

Nguồn:baohaiquan

Xuất khẩu cà phê “bắt tay” vượt khó

(HQ Online)- Dù đứng thứ hai thế giới về XK, song suốt nhiều năm qua, cà phê Việt lại hầu như chẳng có mấy tiếng tăm trên thị trường quốc tế. Tập trung xây dựng thương hiệu, đồng thời thúc đẩy hợp tác quốc tế đang được nhìn nhận là giải pháp khả thi giúp ngành này phát triển bền vững.

Lượng tăng, giá giảm

Thống kê mới nhất của Bộ NN&PTNT cho thấy, XK cà phê tháng 2 ước đạt 146 nghìn tấn, giá trị đạt 280 triệu USD, đưa khối lượng XK cà phê 2 tháng đầu năm ước đạt 347 nghìn tấn và 672 triệu USD, tăng 21,5% về khối lượng và tăng 3,9% về giá trị so với cùng kỳ năm 2017. Tuy nhiên, tính về giá, bình quân giá XK cà phê trong tháng đầu năm chỉ đạt 1.952 USD/tấn, giảm 13,5% so với cùng kỳ năm 2017. Đức và Hoa Kỳ tiếp tục là hai thị trường tiêu thụ cà phê lớn nhất của Việt Nam trong tháng 1 với thị phần lần lượt là 13,4% và 12,2%.

Theo ông Nguyễn Mạnh Dũng, Cục Chế biến và Phát triển thị trường nông sản (Bộ NN&PTNT), dù đứng vị trí thứ hai thế giới, song từ nay đến năm 2020, định hướng đến năm 2030, Việt Nam sẽ giảm diện tích trồng cà phê, đồng thời giảm XK cà phê nhân, tăng sản lượng cà phê chế biến.

Ông Đỗ Kim Lang, Phó Cục trưởng Cục Xúc tiến thương mại, Bộ Công Thương đánh giá: Việt Nam chủ yếu sản xuất, XK cà phê nhân, không đem lại giá trị gia tăng cao. Thế giới biết Việt Nam XK cà phê, song thực tế không biết cà phê Việt Nam như thế nào. Một số nhãn hàng như Trung Nguyên, Nguyên Trang… đã tự đem cà phê XK tới các thị trường quốc tế, song hầu hết thị trường cũng không mang tầm cạnh tranh đẳng cấp toàn cầu, thậm chí cà phê Việt Nam còn chưa tham gia được vào chuỗi giá trị toàn cầu.

“Cà phê Việt Nam chủ yếu tham gia chuỗi ở phần thấp nhất, điểm khởi nguồn không có nhiều giá trị. Nếu có hợp tác đầu tư thì các DN nước ngoài cũng đem máy móc vào sản xuất, XK sản phẩm. Tuy nhiên, đó không phải là sản phẩm mang thương hiệu cà phê thuần túy của Việt Nam. Tất cả những điều này, ngành cà phê phải để ý, đổi thay nhanh chóng”, ông Lang nói.

Theo ông Lang, trong bối cảnh hiện tại, Chính phủ quan tâm hơn đến đẩy mạnh XK hàng có thương hiệu, nâng giá trị gia tăng của sản phẩm XK cũng như khả năng cạnh tranh trên thị trường. Thương hiệu cho ngành cà phê hay bất kỳ ngành nào khác là mục tiêu chủ yếu của Việt Nam trong XK nông sản. Cục Xúc tiến thương mại đang chủ trì xây dựng thương hiệu cho các ngành hàng, đặc biệt là ngành hàng thực phẩm. Trong đó, cà phê là ngành được ưu tiên hàng đầu. Trong năm 2018, Bộ Công Thương sẽ xây dựng chiến lược thương hiệu cà phê trong chiến lược xây dựng thương hiệu thực phẩm nói chung. Đây là giải pháp tốt cho phát triển ngành cà phê, giúp khắc phục tình trạng chủ yếu XK cà phê nhân. Tuy nhiên, việc này cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa Bộ NN&ptnt và Bộ Công Thương.

Hợp tác cùng phát triển

Liên quan tới vấn đề phát triển, gia tăng sức cạnh tranh cho ngành cà phê, một số chuyên gia cho rằng, thúc đẩy hợp tác trên nhiều phương diện với các quốc gia trồng, XK cà phê lớn trên thế giới cũng là giải pháp quan trọng trong bối cảnh hội nhập kinh tế sâu rộng hiện nay.

Tại hội thảo “Tăng cường hợp tác cà phê Indonesia – Việt Nam” mới đây, đại diện Phòng Thương mại và Công nghiệp Indonesia nêu quan điểm: Ngoài Brazil, hiện nay Việt Nam, Indonesia, Colombia là những nước XK cà phê lớn hàng đầu thế giới. Để nâng cao giá trị cà phê, Việt Nam và Indonesia có thể đẩy mạnh kết hợp. Việt Nam có khả năng cung cấp một lượng cà phê lớn với chi phí sản xuất tương đối tốt. Hai bên có thể hỗ trợ, hợp tác thông qua việc, các nhà sản xuất của Việt Nam đầu tư vào Indonesia và ngược lại. Từ đó, hai bên bổ sung, hợp tác trong cả sản xuất cũng như đưa sản phẩm ra tiếp thị trên thị trường thế giới. Khi cùng nhau chia sẻ chi phí, đến một thời điểm nào đó, chi phí sản xuất sẽ thấp hơn.

“Ví dụ cụ thể, trong quá trình trồng cà phê vối, cả Indonesia và Việt Nam có thể cùng chia sẻ chi phí về những rủi ro gây ra bởi khí hậu. Viện nghiên cứu cà phê của Indonesia sẽ đưa ra chiến lược đối phó với những thay đổi của khí hậu nhằm hạn chế tối đa tác động tới ngành cà phê. Ngoài ra, hai nước cũng có thể hỗ trợ nhau trong quá trình thử cà phê nhằm đáp ứng tốt hơn nhu cầu của người tiêu thụ cũng như chuẩn mực quốc tế. Mục tiêu cao nhất là cùng nhau đưa sản phẩm cà phê của hai nước thâm nhập thị trường thế giới tốt hơn với một mức giá cạnh tranh”, vị đại diện này nói.

Nguồn:baohaiquan

Xuất khẩu cá tra có thể tăng 6%

(HQ Online)- Mặc dù các doanh nghiệp xuất khẩu cá tra gặp rất nhiều khó khăn trong 10 tháng năm 2017, nhưng theo dự báo của Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu thủy sản Việt Nam (VASEP) cá tra xuất khẩu năm 2017 có thể vẫn tăng khoảng 6% so với năm 2016. 

Theo VASEP, 9 tháng đầu năm 2017, XK cá tra gặp rất nhiều khó khăn. Cho dù tính đến hết tháng 9/2017, giá trị XK vẫn tăng 5,8% so với cùng kỳ năm 2016, đạt 1,3 tỷ USD nhưng tại hai thị trường quan trọng là Mỹ và EU giá trị XK vẫn trên đà sụt giảm.

Tính đến hết tháng 9/2017, giá trị xuất khẩu cá tra sang thị trường Trung Quốc – Hồng Kông đạt 288,1 triệu USD, tăng 42,7% so với cùng kỳ năm trước. Trong 9 tháng XK, giá trị cá tra sang thị trường này liên tục tăng, điều đó cho thấy sự chuyển hướng và tham gia tích cực của số lượng đông đảo DN cá tra sang thị trường này.

Tuy nhiên, Xuất khẩu sang Mỹ, EU giảm do các rào cản thương mại và kỹ thuật là một lý do khiến các DN XK cá tra chuyển hướng xuất sang thị trường láng giềng Trung Quốc. Trong quý III/2017, giá trị trung bình XK sang thị trường này tương đối ổn định, từ 34-41 triệu USD/tháng. Dự báo từ nay tới hết năm 2017, XK cá tra sang Trung Quốc – Hồng Kông tiếp tục giữ tốc độ tăng trưởng hơn hai con số so với năm 2016.

Trong 9 tháng qua, giá trị XK cá tra sang Mỹ đạt 258,3 triệu USD, giảm 9,9% so với cùng kỳ năm ngoái. Sau khi nhận được thông tin Mỹ tiến hành kiểm tra 100% lô hàng cá tra Việt Nam từ ngày 2/8/2017 và quyết định sơ bộ của POR13, Bộ thương mại Hoa Kỳ công bố mức thuế 2,39 USD/kg, cao gấp 3 lần mức thuế suất riêng lẻ trong kỳ xem xét hành chính lần thứ 12, các DN XK cá tra hết sức hoang mang. Riêng tháng 8 và 9/2017, giá trị XK cá tra sang thị trường Mỹ giảm đột đột lần lượt 54,6% và 41,2% so với cùng kỳ năm 2016. Cho đến tháng 9/2017, giá trị XK cá tra Việt Nam sang Mỹ đang tiến gần tới giá trị XK cá tra sang thị trường EU.

Còn tại thị trường EU, sau nhiều tháng XK giảm, tháng 8 và 9/2017, giá trị XK sang thị trường này giảm lần lượt 8,4% và 23,7% so với cùng kỳ năm 2016. Giá trị XK trung bình trong 3 tháng quý III/2017 đạt từ 15 – 19,4 triệu USD. Hiện tại, sản phẩm cá tra Việt Nam bị cạnh tranh áp đảo từ các sản phẩm cá thịt trắng tại khu vực EU. Mặc dù 9 tháng đầu năm nay, tại một số thị trường lớn như: Anh, Pháp, Bồ Đào Nha… giảm NK cá thịt trắng nhưng giá trị NK sản phẩm cá tra từ Việt Nam vẫn ở mức khiêm tốn.

Bốn thị trường Brazil, Mexico, Colombia và Ảrập Xêut giúp bù đắp phần nào mức sụt giảm giá trị XK tại hai thị trường quan trọng là Mỹ và EU. Tuy nhiên, giá trị XK trong quý III/2017 sang các thị trường này chưa ổn định.

Brazil là thị trường tiềm năng nổi bật. Riêng tháng 9/2017, giá trị XK cá tra sang Brazil đạt 6,73 triệu USD, tăng 103,3% so với cùng kỳ năm trước. Tính đến hết tháng 9/2017, tổng giá trị XK cá tra sang Brazil đạt 77,1 triệu USD, tăng 66,7% so với 9 tháng đầu năm 2016. Đây cũng là thị trường có mức tăng trưởng cao nhất trong 3 quý đầu năm nay.

Ngoài ra, giá trị XK sang Mexico, Colombia và Ảrập Xêut cũng tăng trưởng khá tốt, lần lượt 22,6%; 1,4% và 4% so với cùng quý III/2016.

VASEP dự báo XK cá tra năm 2017 có thể vẫn tăng khoảng 6% so với năm 2016. Tuy nhiên, XK của phần lớn DN cá tra Việt Nam gặp nhiều khó khăn. Dù các DN vẫn đang nỗ lực xoay sở tại các thị trường nhưng nhiều DN sẽ không đạt được mục tiêu đã đề ra, thậm chí khó có thể tiếp tục tham gia vào sản xuất và XK.

Nguồn:baohaiquan

Xuất khẩu cá tra sang Mỹ dự kiến ổn định đến tháng 3/2018

(HQ Online)- Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu thủy sản Việt Nam (VASEP) cho biết: Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ (USDA) sẽ rà soát bản câu hỏi đánh giá tương đương (SRT) cho sản phẩm cá họ Siluriformes và các tài liệu khác do các quốc gia đệ trình, và sẽ xem xét tiến độ thanh tra ở cấp quốc gia trước ngày 1/3/2018.

Quy định của USDA về đánh giá tương đương cho sản phẩm cá họ Siluriformes đồng nghĩa với việc các nước đang tìm cách tiếp tục XK các sản phẩm cá tra sang Mỹ phải nộp tài liệu chứng minh sản phẩm cá tra được sản xuất, chế biến tại các quốc gia đó tương đương với hệ thống của Mỹ trước ngày 1/9/2017.

Theo các nguồn tin, doanh thu cá tra trong giai đoạn từ 1/9/2017 đến trước tháng 3/2018 dự kiến vẫn ổn định, vì đây là khoảng thời gian mà USDA rà soát tất cả các tài liệu đệ trình.

Trong khi đó, 100% cá tra XK của Việt Nam đã được thanh tra tại biên giới Mỹ, kể từ ngày 2/8/2017.

Ông Don Kelley, giám đốc phụ trách mua sắm của công ty NK Mỹ Western Edge Seafood, cho rằng vào tháng 8/2017, giá cá tra trên thị trường đang ở mức 2,05 – 2,15 USD/pao.

Mức giá tăng là do các chi phí liên quan đến USDA chứ không phải là chi phí nguyên liệu trong khi nguồn cung cá tra trong thời gian này giảm.

Nếu quyết định của USDA được thực hiện từ tháng 3/2018, điều đó có nghĩa là thuế quan đối với một số công ty sẽ tăng. Tuy vậy, ngành cá tra Việt Nam vẫn còn hy vọng đảo ngược lại tình thế.

Mỹ hiện vẫn là thị trường xuất khẩu cá tra lớn nhất, chiếm 22% thị phần xuất khẩu cá tra Việt Nam và cũng là thị trường có giá bán cao nhất. Việc Mỹ đưa ra các phán quyết bất lợi, nếu có, sẽ ảnh hưởng rất lớn đến tình hình tiêu thụ cá tra Việt Nam tại thị trường này.

Nguồn:baohaiquan