[Infographic] Kinh tế chia sẻ – Tiềm năng lớn tại thị trường Việt Nam

Những năm gần đây, tại Việt Nam nổi lên 3 loại hình dịch vụ kinh tế chia sẻ là vận tải trực tuyến, chia sẻ phòng ở và cho vay ngân hàng. Ngoài ra, nhiều dịch vụ khác cũng đã hình thành như: Du lịch, chia sẻ chỗ làm việc, gửi xe, chia sẻ nhân lực…

Những năm gần đây, tại Việt Nam nổi lên 3 loại hình dịch vụ kinh tế chia sẻ là vận tải trực tuyến, chia sẻ phòng ở và cho vay ngân hàng. Ngoài ra, nhiều dịch vụ khác cũng đã hình thành như: Du lịch, chia sẻ chỗ làm việc, gửi xe, chia sẻ nhân lực…

Nguồn:baohaiquan

Việt Nam – Campuchia thúc đẩy thương mại hai chiều đạt 5 tỷ USD vào năm 2020

(HQ Online)- Đây là một trong những nội dung quan trọng được thảo luận tại Hội nghị Hợp tác và Phát triển các tỉnh biên giới Việt Nam – Campuchia lần thứ 10 tổ chức tại TPHCM ngày 10/1 do Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Việt Nam Phạm Bình Minh và Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Bộ Nội vụ Vương quốc Campuchia Samdech Krolahom Sar Kheng chủ trì với sự tham gia của đại diện nhiều bộ, ngành hữu quan hai nước và lãnh đạo các tỉnh biên giới Việt Nam – Campuchia.

Tại hội nghị hai bên bày tỏ hài lòng về hợp tác kinh tế – thương mại – đầu tư tiếp tục duy trì được đà tăng trưởng đáng ghi nhận. Kim ngạch thương mại hai chiều năm 2018 đã có bước tiến lớn, đạt 4,68 tỷ USD. Năm 2018, du khách Việt Nam sang Campuchia đạt khoảng 800.000 lượt người, tiếp tục đứng thứ hai trong số du khách quốc tế đến Campuchia. Du khách Campuchia đến Việt Nam trong năm 2018 đạt khoảng 203.000 lượt người, là một trong số những thị trường lớn về du lịch của Việt Nam. Việt Nam có 210 dự án đầu tư tại Campuchia với tổng số vốn đăng ký 3,033 tỷ USD, là một trong những nước có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài nhiều nhất tại Campuchia. Đầu tư của Campuchia vào Việt Nam cũng tăng lên. Đến nay, có 19 dự án với tổng vốn đầu tư 63,42 triệu USD.

Hai bên sẽ nỗ lực thúc đẩy kim ngạch thương mại hai chiều sớm đạt 5 tỷ USD vào năm 2020 theo thỏa thuận của người đứng đầu chính phủ hai nước. Để đạt mục tiêu này, hai nước cũng như các tỉnh biên giới Việt Nam – Campuchia đã nhất trí ưu tiên đẩy mạnh kết nối hai nền kinh tế.

Theo đó, thời gian tới các bộ, ngành và cơ quan có liên quan của hai nước sẽ tập trung vào nhiều hoạt động. Cụ thể như: Triển khai hiệu quả Khung Thỏa thuận về kết nối hai nền kinh tế đã ký kết năm 2017, chú trọng kết nối các tuyến giao thông vận tải, điện năng, du lịch, viễn thông, ngân hàng…; Đẩy mạnh giao thương tại các cửa khẩu; thực hiện Bản ghi nhớ về hoàn tất đàm phán Hiệp định Thương mại biên giới và sớm chính thức ký kết Hiệp định này; sớm đưa chợ biên giới kiểu mẫu tại thôn Đa Kan-đa, xã Đa, huyện Memot, tỉnh Tbong Khmum vào hoạt động, đồng thời nghiên cứu, trao đổi về cách thức triển khai mô hình “Một cửa một lần dừng” tại cặp cửa khẩu quốc tế Mộc Bài – Bavet.

Bên cạnh đó nỗ lực đề ra các cơ chế chính sách và triển khai các biện pháp tạo môi trường thông thoáng nhằm thu hút mạnh mẽ hơn nữa các doanh nghiệp hai bên đầu tư vào khu vực biên giới, bao gồm: mở các chi nhánh ngân hàng của hai nước ở khu vực biên giới nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho việc thanh toán biên mậu; ơn giản hóa các thủ tục hải quan, kiểm dịch; tổ chức triển lãm, diễn đàn xúc tiến thương mại, quảng bá sản phẩm thương hiệu của hai nước; đồng thời phổ biến, tuyên truyền về chính sách, pháp luật về kinh tế, thương mại và đầu tư của hai nước.

Khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp hai nước đầu tư vào lĩnh vực cây công nghiệp và một số loại cây trồng khác, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi trong việc thành lập các cơ sở sản xuất, chế biến sản phẩm tại chỗ.

Thúc đẩy việc điều phối thương mại và nâng cao hợp tác trong việc ngăn chặn và trấn áp những hành vi gian lận thương mại, trốn thuế, buôn bán hàng giả và những mặt hàng cấm xuất, nhập khẩu theo quy định của pháp luật mỗi nước. Tiếp tục hợp tác mua bán điện. Việt Nam và Campuchia sẽ đàm phán để tiếp tục thực hiện trong 5-10 năm tới.

Hai bên hoan nghênh việc đồng ý về chủ trương nâng cấp cặp cửa khẩu phụ Tân Nam (tỉnh Tây Ninh) – Mơn Chây (tỉnh Prây Veng) lên thành cửa khẩu quốc tế và sớm hoàn tất các công tác chuẩn bị cần thiết để khai trương cặp cửa khẩu này vào thời gian thích hợp cũng như việc hoàn tất thủ tục nâng cấp cặp cửa khẩu Phước Tân (tỉnh Tây Ninh) – Bô-sa-môn (tỉnh Svay Riêng) thành cửa khẩu quốc gia; nhất trí phối hợp ngăn chặn việc qua lại các cửa khẩu chưa được thành lập chính thức và nâng cao hiệu quả kiểm tra hàng hóa, hành khách và phương tiện qua lại biên giới.

Hai bên cũng nhất trí thúc đẩy Nhóm công tác hỗn hợp về cửa khẩu biên giới thảo luận và kiến nghị cấp có thẩm quyền việc mở, nâng cấp thêm các cửa khẩu trong thời gian tới đảm bảo thiết thực, hiệu quả và đáp ứng nhu cầu thực tế của các tỉnh biên giới.

Hai bên nhất trí đẩy mạnh xây dựng đường và cầu qua biên giới nhằm tăng cường kết nối; triển khai hiệu quả Bản ghi nhớ cấp Chính phủ về Chiến lược hợp tác giao thông vận tải Việt Nam – Campuchia giai đoạn 2018-2025, tầm nhìn đến 2030 ký ngày 7/12/2018; thúc đẩy sớm ký kết Nghị định thư sửa đổi Nghị định thư thực hiện Hiệp định vận tải đường bộ Việt Nam – Campuchia và Bản ghi nhớ về sửa đổi Hiệp định Vận tải đường thủy Việt Nam – Campuchia.

Ngoài ra, Hai bên đã nhất trí đề ra một số phương hướng nhằm củng cố và tăng cường hợp tác trên lĩnh vực nông – lâm – ngư nghiệp, hợp tác về y tế. Đồng thời, khuyến khích các tỉnh biên giới tiếp tục hợp tác giúp đỡ lẫn nhau trong việc đào tạo nguồn nhân lực, đào tạo nghề, cung cấp các trang thiết bị học tập và hỗ trợ xây dựng cơ sở hạ tầng giáo dục cần thiết khác; đồng thời tăng cường hợp tác quảng bá về tiềm năng du lịch, sản phẩm du lịch, thúc đẩy hoạt động du lịch và thể thao tại các tỉnh biên giới Việt Nam – Campuchia…

Nguồn:baohaiquan

CPI 2018 tăng 3,54%, Việt Nam thành công trong kiểm soát lạm phát

(HQ Online)- Sau nhiều lo ngại về khả năng lạm phát có thể vượt mục tiêu đề ra từ đầu năm là dưới 4%, cuối cùng, lạm phát của Việt Nam năm 2018 đã dừng ở mức an toàn khi tăng 3,54% so với 2017, theo thông tin từ Tổng cục Thống kê. 

Chiều 27/12, tại buổi họp báo Công bố số liệu thống kê kinh tế – xã hội năm 2018 do Tổng cục Thống kê tổ chức, ông Nguyễn Bích Lâm, Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê nhấn mạnh, năm 2018 được coi là thành công trong việc kiểm soát lạm phát.

Theo đó, CPI bình quân năm 2018 tăng 3,54% so với năm 2017 và tăng 2,98% so với tháng 12 năm 2017. Như vậy, mục tiêu kiểm soát lạm phát, giữ CPI bình quân năm 2018 dưới 4% đã đạt được trong bối cảnh điều chỉnh được gần hết giá các mặt hàng do nhà nước quản lý đặt ra trong năm 2018.

Theo Tổng cục trưởng Nguyễn Bích Lâm, thực hiện Nghị quyết số 01/NQ-CP ngày 1/1/2018 của Chính phủ về những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội và dự toán ngân sách nhà nước năm 2018, trong đó, tốc độ tăng giá tiêu dùng bình quân năm 2018 đặt ra dưới 4%, các ngành, các cấp đã tích cực triển khai thực hiện các giải pháp.

Cụ thể như, ngành Công Thương phối hợp với các ngành liên quan chỉ đạo các DN thương mại dự trữ hàng hóa, tham gia bình ổn thị trường phục vụ Tết Nguyên đán nên không xảy ra hiện tượng tăng giá đột biến vào dịp Tết.

Bộ Tài chính tăng cường công tác kiểm tra, kiểm soát thị trường, tổ chức các đoàn công tác liên ngành kiểm tra tình hình triển khai thực hiện công tác quản lý bình ổn giá tại một số địa phương.

Về quản lý giá xăng dầu, Bộ Tài chính phối hợp với Bộ Công Thương điều hành kinh doanh xăng dầu phù hợp tình hình thị trường thế giới và trong nước góp phần thực hiện mục tiêu ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát.

Giải thích một số yếu tố gây tăng giá trong năm 2018, bà Đỗ Thị Ngọc, Vụ trưởng Vụ Thống kê giá cho biết, đối với điều hành của Chính phủ, giá dịch vụ y tế tăng theo Thông tư số 02/2017/TT-BYT của Bộ Y tế và Thông tư số 39/2018/TT- BYT của Bộ Y tế thì giá các mặt hàng dịch vụ y tế tăng 13,86% làm cho CPI năm 2018 tăng 0,54% so với cùng kỳ năm trước.

Bên cạnh đó, thực hiện lộ trình tăng học phí theo Nghị định số 86/2015/NĐ-CP ngày 2/10/2015 của Chính phủ, các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đã tăng học phí các cấp học làm cho chỉ số giá nhóm dịch vụ giáo dục năm 2018 tăng 7,06% so với cùng kỳ, tác động làm cho CPI năm 2018 tăng 0,36% so với cùng kỳ.

Cũng theo Tổng cục Thống kê, lạm phát cơ bản (CPI sau khi loại trừ lương thực, thực phẩm tươi sống; năng lượng và mặt hàng do Nhà nước quản lý bao gồm dịch vụ y tế và dịch vụ giáo dục) năm 2018 so năm 2017 tăng 1,48%.

Năm 2018, lạm phát chung có mức tăng cao hơn lạm phát cơ bản, điều này phản ánh biến động giá chủ yếu từ việc tăng giá lương thực, thực phẩm, giá xăng dầu và yếu tố điều hành giá cả qua việc điều chỉnh tăng giá dịch vụ y tế và giáo dục.

“Mức tăng lạm phát cơ bản trong năm 2018 so với cùng kỳ có biên độ dao động trong khoảng từ 1,18% đến 1,72%, lạm phát cơ bản bình quân năm tăng 1,48% thấp hơn mức kế hoạch 1,6%, cho thấy chính sách tiền tệ vẫn đang được điều hành ổn định”, ông Lâm nói.

Về mục tiêu CPI năm 2019, Nghị quyết về Kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội năm 2019 đã được Quốc hội thông qua, trong đó, đề ra mục tiêu kiểm soát lạm phát khoảng 4%. Theo Nghị quyết, mục tiêu tổng quát của năm 2019 vẫn đặt lên hàng đầu yêu cầu tiếp tục ổn định kinh tế vĩ mô và kiểm soát lạm phát.

Nguồn:baohaiquan

Hoa Kỳ nhập siêu gần 32 tỷ USD từ Việt Nam

(HQ Online)- Tốc độ tăng trưởng xuất khẩu sang Hoa Kỳ đạt khá giúp tổng kim ngạch trong 11 tháng vượt kết quả của cả năm 2017.

43,455 tỷ USD là tốc kim ngạch xuất khẩu sang Hoa Kỳ tính hết tháng 11, theo thông tin cập nhật của Tổng cục Hải quan.

Hoa Kỳ tiếp tục là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam với thị phần kim ngạch chiếm hơn 19,4% trong 11 tháng qua.

Đáng chú ý, kết quả trên không chỉ tăng cao so với cùng kỳ mà còn vượt cả tỷ USD kim ngạch của cả năm 2017 tại thị trường này.

Nếu so với cùng kỳ 2017, trị giá tăng thêm đạt 5,409 tỷ USD, trong khi so với cả năm, trị giá cũng đã vượt 1,864 tỷ USD (tổng kim ngạch xuất khẩu sang Hoa Kỳ năm 2017 đạt 41,591 tỷ USD).

Tốc độ tăng trưởng xuất khẩu 14,2% sang thị trường Hoa Kỳ là kết quả rất tích cực so với nhiều năm gần đây và cũng khá tương đồng với tốc độ tăng trưởng xuất khẩu của cả nước (xuất khẩu cả nước 11 tháng tăng 14,5%).

Hết tháng 11 có tới 10 nhóm hàng xuất khẩu sang Hoa Kỳ đạt kim ngạch từ 1 tỷ USD trở lên.

Hiện thị trường này là nhà nhập khẩu lớn nhất đối với nhiều mặt hàng chủ lực của Việt Nam như dệt may; thủy sản; giày dép; máy móc, thiết bị…

Cụ thể, 11 tháng đầu năm nay xuất khẩu dệt may sang Hoa Kỳ đạt trị giá 12,45 tỷ USD, tăng 11,8% và chiếm tỷ trọng 45% tổng kim ngạch xuất khẩu mặt hàng này của cả nước.

Ngoài ra, máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng đạt 3,08 tỷ USD, tăng 39%; giày dép đạt 5,26 tỷ USD, tăng 14,5%; thủy sản đạt 1,48 tỷ USD, tăng 14,3%; gỗ và sản phẩm gỗ đạt 3,5 tỷ USD, tăng 18,4%…

Thêm một thông tin đáng chú ý là trị giá xuất siêu của Việt Nam sang Hoa Kỳ tiếp tục được duy trì ở mức cao.

Hết tháng 11, tổng kim ngạch nhập khẩu từ thị trường Hoa Kỳ đạt 11,703 tỷ USD. Như vậy, mức xuất siêu của Việt Nam sang đối tác quan trọng này lên đến 31,752 tỷ USD, tăng hơn 2 tỷ USD so với cùng kỳ 2017.

Kết quả xuất siêu sang Hoa Kỳ góp phần quan trọng giúp Việt Nam duy trì được thặng dư thương mại hơn 7,4 tỷ USD trong 11 tháng đầu năm 2018.

Nguồn:baohaiquan

Thành tựu đáng nể của ngành công nghiệp sản xuất vắc xin Việt Nam

(HQ Online)- Trong hơn 30 năm thực hiện tiêm chủng mở rộng Việt Nam đã sản xuất được nhiều loại vắc xin tham gia chương trình, khẳng định sự phát triển  của ngành công nghiệp này ở Việt Nam.

 

Thống kê của Cục Y tế Dự phòng, Bộ Y tế, hiện Việt Nam đã sản xuất được 10 loại vắc xin phòng bệnh lao, sởi, Rubella, rota, tả, thương hàn, bạch hầu, ho gà, uốn ván, sởi- Rubella…

Việt Nam đã thanh toán bệnh bại liệt vào năm 2000 và duy trì được thành quả này hơn 17 năm qua nhờ triển khai uống vắc xin phòng bệnh bại liệt và nhiều năm duy trì tỉ lệ uống vắc xin ở mức cao trên 90%.

PGS.TS Dương Thị Hồng, Phó viện trưởng Viện Vệ sinh dịch tễ Trung ương, cho hay những năm 1959-1960 bùng phát dịch bại liệt lớn ở các tỉnh phía Bắc, làm 17.000 người mắc bệnh và 500 người tử vong, mỗi năm hàng ngàn trẻ em bị di chứng bại liệt suốt đời, tỉ lệ mắc lên đến trên 126/100.000 dân.

“Nhờ vắc xin Liên Xô hỗ trợ, năm 1961 tỉ lệ mắc bại liệt đã giảm xuống 3,09/100.000 dân. Nhưng để chủ động phòng chống bại liệt, Bộ trưởng Bộ Y tế khi đó là bác sỹ Phạm Ngọc Thạch đã yêu cầu phải sản xuất được vắc xin phòng bại liệt.

Ngay năm 1962, vắc xin Sabin phòng bại liệt do Việt Nam nghiên cứu sản xuất đã ra đời, nhờ đó tỉ lệ mắc 3/100.000 dân duy trì suốt những năm 1960-1970 và giảm rõ rệt khi Việt Nam thực hiện tiêm chủng mở rộng vào năm 1985.

“Từ năm 1990 tỉ lệ trẻ dưới 1 tuổi được uống đủ ba liều vắc xin phòng bại liệt được duy trì trên 90% và đây là tiền đề để Việt Nam thanh toán bệnh bại liệt năm 2000”, bà Hồng chia sẻ.

Vắc xin tả uống cũng là một vắc xin được Việt Nam phát triển thành công từ công nghệ được Thụy Điển chuyển giao và năm 2000-2001,Việt Nam tiếp tục chuyển giao miễn phí công nghệ này cho Viện vắc xin Hàn Quốc và từ đó một công ty của Ấn Độ đã có bản quyền sản xuất vắc xin tả uống xuất khẩu khắp thế giới.

Ngoài bại liệt, tả, viêm não Nhật Bản cũng là một loại vắc xin mà Việt Nam phát triển thành công và đến nay đã có trên 70 triệu liều vắc xin này được xuất xưởng với giá thành rẻ. Việt Nam cũng đã xuất khẩu trên 5,3 triệu liều vắc xin viêm não Nhật Bản sang Ấn Độ.

Với những thành tích nêu trên, năm 2015, Việt Nam được Tổ chức Y tế thế giới công nhận đạt tiêu chuẩn NRA (Cơ quan Quản lý về vắc xin của Việt Nam) về hệ thống giám sát và quản lý vắc xin quốc gia, đây là một trong những tiêu chí quan trọng để đủ điều kiện xuất khẩu vắc xin. Thời điểm đó, Việt Nam được đánh giá là 1 trong 45 quốc gia có ngành công nghiệp vắc xin và là 1 trong 39 quốc gia đạt NRA.

Thời gian vừa qua, Việt Nam cũng đã sản xuất thành công vắc xin phức tạp Hib bảo vệ trẻ em khỏi các bệnh về đường hô hấp, viêm màng não mủ do vi khuẩn Hib. Đây được coi là một loại vắc xin phức tạp nhất, qua nhiều khâu tinh chế. Hiện vắc xin này được chọn là một trong các sản phẩm nằm trong Chương trình phát triển sản phẩm quốc gia đến năm 2020.

Năm 2018, loại vắc xin MR kết hợp sởi- Rubella do Trung tâm Nghiên cứu, sản xuất vắc-xin và Sinh phẩm y tế (POLYVAC) Việt Nam sản xuất đã được sử dụng trên quy mô toàn quốc cho trẻ từ 18- 24 tháng tuổi trong tiêm chủng mở rộng, thay thế cho loại vắc xin sởi – Rubella nhập khẩu.

Gần đây, tháng 5/2018, đề tài nghiên cứu sản xuất vắc xin ngừa cúm thế hệ hai dạng mảnh, giá thành thương mại rẻ chỉ bằng 1/2-2/3 so với vắc xin ngoại nhập đã được hội đồng của Bộ Y tế nghiệm thu đạt kết quả xuất sắc. Hiện hồ sơ đăng ký lưu hành vắc xin đang được Cục Quản lý dược xem xét và hi vọng vắc xin sớm ra thị trường.

Chưa kể, vắc xin Quinvaxem 5 trong 1 trong Chương trình Tiêm chủng mở rộng ở nước ta bị dừng đột ngột do Hàn Quốc ngừng sản xuất. Trước mắt, loại vắc xin của Ấn Độ là ComBE Five được dùng thay thế Quinvaxem. Tuy nhiên, mới đây đại diện Bộ Y tế cho biết, 2 năm tới Việt Nam sẽ tự sản xuất được vắc xin 5 trong 1 (vắc xin phòng bệnh bạch hầu, ho gà, uốn ván, viêm gan b và Hib) để dùng trong Chương trình Tiêm chủng mở rộng.

Ngoài ra, trong năm 2018 và 2019, sẽ có thêm 3 loại là vắc xin phòng cúm mùa, viêm não Nhật Bản tế bào và bại liệt bất hoạt “made in” Việt Nam được đưa vào sử dụng. Các loại vắc xin này đang trong giai đoạn chuẩn bị hồ sơ xin cấp phép lưu hành.

Thành công này sẽ góp phần quan trọng thực hiện mục tiêu đề ra của Chính phủ là đến năm 2020, Việt Nam sẽ sản xuất được 12 loại vắc xin và đến năm 2030 sẽ sản xuất được 14 loại để sử dụng trong Chương trình Tiêm chủng mở rộng.

Chương trình phát triển sản phẩm quốc gia đến năm 2020 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt với mục tiêu hình thành, phát triển các sản phẩm hàng hóa thương hiệu Việt Nam bằng công nghệ tiên tiến, có khả năng cạnh tranh về tính mới, về chất lượng và giá thành dựa trên việc triển khai các lợi thế về nhân lực, tài nguyên, điều kiện tự nhiên của đất nước.

Chương trình phát triển sản phẩm quốc gia đã phê duyệt 11 nhiệm vụ trong đó tập trung nghiên cứu, sản xuất phát triển vắc xin. Theo đó, rất nhiều đề án về sản xuất vắc-xin phòng bệnh cho người đã được phê duyệt.

Năm 2013, Bộ Y tế đã phê duyệt Đề án khung phát triển sản phẩm quốc gia “Sản phẩm vắc xin phòng bệnh cho người” gồm 12 dự án khoa học và công nghệ và 7 dự án đầu tư. Năm 2017- 2018, Bộ tiếp tục phê duyệt bổ sung 3 dự án khoa học và công nghệ vào Đề án khung. Như vậy, đến nay có 22 dự án; trong đó có 15 dự án khoa học và công nghệ (đang triển khai 9 dự án) và 7 dự án đầu tư (chưa có kinh phí triển khai).

Trong số 9 dự án (với 11 nhiệm vụ) khoa học và công nghệ đang triển khai thực hiện có nhiều dự án đã đạt được kết quả bước đầu như: Dự án “Nghiên cứu phát triển sản phẩm vắc xin viêm não Nhật Bản trên tế bào Vero”, “Nghiên cứu phát triển sản phẩm vắc xin Hib cộng hợp”, “Nghiên cứu phát triển sản phẩm vắc-xin bại liệt bất hoạt”, “Nghiên cứu phát triển sản phẩm vắc xin cúm mùa”…

Nguồn:baohaiquan

EVFTA mang đến cơ hội vàng cho ngành nông sản, thực phẩm Việt Nam

(HQ Online)- Không chỉ mở ra cơ hội to lớn về thị trường cho hàng nông sản, thực phẩm Việt Nam, Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam – EU (EVFTA) còn giúp các sản phẩm Việt Nam dần nâng cao tiêu chuẩn chất lượng thông qua việc tiếp nhận các công nghệ hiện đại từ dòng vốn đầu tư của các DN EU.

Tăng tốc xuất khẩu

Ông Jean Jacques Bouflet, Phó Chủ tịch Phòng Thương mại châu Âu tại Việt Nam đánh giá, với việc giảm thuế quan và rào cản cho cả hai bên, EVFTA sẽ thúc đẩy mạnh mẽ thương mại song phương cho các sản phẩm hàng hóa như thực phẩm, nông nghiệp, các sản phẩm thủy sản, rượu vang và rượu mạnh. Theo ông Jean Jacques Bouflet, ngay sau khi EVFTA có hiệu lực, các sản phẩm như hạt tiêu, cà phê, các loại hạt và hải sản từ Việt Nam nhập khẩu vào châu Âu sẽ lập tức tăng mạnh. Đặc biệt là khi có khoảng 40 sản phẩm có chỉ dẫn địa lý của Việt Nam sẽ được bảo hộ ở EU. “Dĩ nhiên là các sản phẩm này phải đáp ứng các tiêu chuẩn nghiêm ngặt của EU. Tuy nhiên, điều này sẽ giúp nâng cao nhận thức về thực phẩm an toàn và bền vững ở Việt Nam” – ông Jean Jacques Bouflet nói.

Ông Thierry Rocaboy, Chủ tịch Ủy ban Ngành thực phẩm, nông thủy sản – Phòng Thương mại châu Âu tại Việt Nam, cũng chỉ ra rằng, thời gian qua, EU luôn thâm hụt thương mại với Việt Nam. Trong giai đoạn 2007-2017, mức thâm hụt này đã tăng gấp 6 lần, tức Việt Nam hưởng lợi lớn trong giao thương với EU. Cùng với EVFTA, rau củ quả và rau gia vị là những mặt hàng mà Việt Nam có nhiều thế mạnh để thâm nhập thị trường EU.

Tuy nhiên, đi kèm với cơ hội luôn là những thách thức không hề dễ dàng. Các chuyên gia nhận định, ngành công nghiệp chế biến thực phẩm là ngành mang tính cạnh tranh cao và ngày càng gay gắt. Hiện nay, mặc dù các DN sản xuất thực phẩm và đồ uống trong nước đã xây dựng được chỗ đứng nhất định trong thị trường nội địa, tuy nhiên hầu hết các hãng sản xuất thực phẩm và đồ uống nổi tiếng thế giới đã có mặt tại Việt Nam. Hơn nữa, với EVFTA hàng hoá EU vào Việt Nam cũng được hưởng các ưu đãi thuế quan. Điều này đồng nghĩa với việc hàng hoá EU sẽ tràn vào Việt Nam, ảnh hưởng rất lớn đến sức cạnh tranh của các sản phẩm trong nước, trong khi các sản phẩm nông sản, thực phẩm Việt Nam vẫn còn nhiều hạn chế về tiêu chuẩn kỹ thuật, an toàn thực phẩm, cách thức đóng gói, nhãn mác… Điều này đòi hỏi các DN cần phải nỗ lực rất lớn trong thời gian tới, cùng với đó, Nhà nước cũng cần có các chính sách hỗ trợ, đồng hành cùng các DN để giữ vững thị trường nội địa.

Bùng nổ đầu tư, M&A

Ông Vũ Văn Chung – Phó Cục trưởng Cục Đầu tư nước ngoài, Bộ Kế hoạch và Đầu tư cho biết, hiện Việt Nam thu hút trên 22.000 dự án với tổng vốn đăng ký trên 336 tỷ USD. Tuy nhiên, đầu tư vào lĩnh vực thực phẩm lại chưa nhiều, chỉ có 770 dự án với 11,2 tỷ USD (chưa tính M&A và mua cổ phần). Vốn FDI vào lĩnh vực chế biến thực phẩm chủ yếu đến từ các nước châu Á có công nghệ chế biến thực phẩm chưa thực sự phát triển cao như Thái Lan, Đài Loan, Malaysia và Trung Quốc. Dù đã có những chính sách ưu đãi đầu tư, nhưng Việt Nam vẫn chưa thu hút được nhiều dự án FDI từ các nước có ngành công nghiệp chế biến thực phẩm mạnh như Nhật Bản, Mỹ, Australia và các nước EU.

Theo các chuyên gia, tỷ lệ đầu tư của các DN EU tại Việt Nam còn thấp cho thấy dư địa lớn trong thu hút đầu tư từ EU vào Việt Nam. “Sau khi EVFTA bắt đầu có hiệu lực, nhiều DN châu Âu sẽ đầu tư vào Việt Nam, các công ty này sẽ mang theo những công nghệ mới, kỹ năng quản lý và chuyển giao kiến thức trong các lĩnh vực như chế biến thực phẩm, đồ uống và máy nông nghiệp” – ông Jean Jacques Bouflet dự báo. Điều này cũng đồng nghĩa với sự cải thiện mạnh mẽ về kỹ năng lao động, giúp phát triển một nền nông nghiệp công nghệ cao và bền vững hơn, gia tăng hàm lượng khoa học công nghệ trong các sản phẩm nông sản, thực phẩm…

Theo ông Jean Jacques Bouflet, nếu nắm bắt được cơ hội từ EVFTA, Việt Nam sẽ trở thành một trung tâm thương mại và đầu tư của EU trong lĩnh vực thực phẩm và nông nghiệp tại ASEAN. Để làm được điều đó, ông Lee Hyuk, Tổng thư ký Trung tâm ASEAN – Hàn Quốc khuyến nghị, Việt Nam cần đảm bảo tính minh bạch trong luật pháp và thực thi pháp luật công bằng, xây dựng đội ngũ lao động lành nghề và đảm bảo mạnh mẽ việc bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ.

Luật sư Yuho Richark Kim đến từ Công ty Luật Baker & McKenzie cũng nhận định, ngoài cơ hội đầu tư trực tiếp vào lĩnh vực thực phẩm tại Việt Nam là xu hướng đầu tư nhanh theo hình thức M&A. Chỉ trong vòng 2-3 năm trở lại đây, hàng loạt các thương vụ M&A lớn trong lĩnh vực thực phẩm tại Việt Nam đã diễn ra thành công, điển hình là Thai Beverage mua 53% cổ phần SABECO với giá trị gần 5 tỷ USD; Singha Group mua cổ phần của Masan Group với 470 triệu USD… Theo ông Richark Kim, M&A trong lĩnh vực thực phẩm tại Việt Nam sẽ tiếp tục được các nhà đầu tư lựa chọn.

Khoảng trống về nguyên liệu

Theo báo cáo của Bộ Công Thương, hiện nguồn nguyên liệu cho sản xuất trong nước còn thiếu và không ổn định, nguyên liệu nhập khẩu chiếm tỷ trọng lớn. Điều này dẫn đến các DN không chủ động được số lượng, chất lượng, giá nguyên liệu ảnh hưởng tới hoạt động sản xuất kinh doanh. Cụ thể, sữa tươi nguyên liệu mới đáp ứng được khoảng 40% nhu cầu sản xuất và tiêu thụ trong nước. Mỗi năm, kim ngạch nhập khẩu sữa và sản phẩm sữa đều trên dưới 1 tỷ USD. Tương tự, với các nguyên liệu sản xuất bia, ngoại trừ gạo được sử dụng với số lượng nhỏ được sản xuất trong nước, còn lại hoa bia và đại mạch là hoàn toàn phải nhập khẩu. Việt Nam cũng chưa phát triển được cây nguyên liệu có dầu nên hàng năm DN phải nhập trên 90% nguyên liệu dầu thô các loại để tinh luyện thành dầu ăn tiêu thụ trong nước và phục vụ xuất khẩu. Các nguyên liệu phục vụ sản xuất bánh kẹo là bột mỳ, hương liệu và chất phụ gia cũng phải nhập khẩu phần lớn… Do đó, nhu cầu thu hút đầu tư sản xuất các nguyên liệu cho ngành chế biến thực phẩm đáp ứng cho sản xuất trong nước là rất lớn.

Nguồn:baohaiquan

Sản xuất tại Việt Nam, các sản phẩm Mazda có chất lượng tương đương sản xuất tại Nhật Bản

(HQ Online)- Đầu tư nhà máy sản xuất lắp ráp các sản phẩm mang thương hiệu Mazda lớn nhất Đông Nam Á với số vốn lên tới 12.000 tỷ đồng, Nhà máy Thaco Mazda đã được Tập đoàn Mazda (Nhật Bản) khẳng định: Chất lượng các sản phẩm Mazda lắp ráp tại Việt Nam có chất lượng tương đương với các sản phẩm sản sản xuất tại nhà máy Ujina, Hiroshima – Nhật Bản.

Ngày 27/10, tại Nhà máy Thaco Mazda thuộc Khu phức hợp cơ khí và ô tô Chu Lai – Trường Hải tỉnh Quảng Nam, Công ty Ô tô Trường Hải (Thaco) đã tổ chức sự kiện Mazda “Sản xuất Việt Nam – Chất lượng Nhật Bản” với sự tham gia của lãnh đạo Cục Đăng kiểm Việt Nam, lãnh đạo Tập đoàn Mazda Nhật Bản cùng các cơ quan báo chí.

Tổ chức chương trình Mazda “Sản xuất Việt Nam – Chất lượng Nhật Bản” Thaco mong muốn chuyển tải đến khách hàng Việt Nam niềm tin: “Sản phẩm Mazda được sản xuất tại nhà máy Thaco Mazda, Chu Lai, Việt Nam hoàn toàn tương đương với sản phẩm được sản xuất tại nhà máy Ujina, Hiroshima, Nhật Bản”.

Theo tiêu chuẩn Mazda toàn cầu, chất lượng sản phẩm của nhà máy Thaco-Mazda đã đạt tương đương với nhà máy Mazda tại Nhật Bản. Đó là nhờ nhà máy Thaco-Mazda được trang bị máy móc thiết bị hiện đại, tự động, những công nghệ sơn mới, hệ thống quản lý chất lượng và nguồn nhân lực đạt tiêu chuẩn toàn cầu. Nhà máy Thaco Mazda hoàn toàn không khác biệt so với những nhà máy Mazda trên toàn cầu

Ông NiiNai – GĐ Điều hành Mazda khu vực Đông Nam Á

Phát biểu tại sự kiện, ông Phạm Văn Tài – Tổng giám đốc Thaco cho biết: Vào ngày 26/3/2017, Thaco đã khởi công xây dựng nhà máy Thaco Mazda, được định vị là nhà máy sản xuất xe du lịch Mazda hiện đại nhất khu vực ASEAN, công suất 100.000 xe/năm.

Nhà máy có diện tích 30 ha, trong đó diện tích nhà xưởng là 17 ha, được chuyển giao công nghệ tự động hóa và hoàn toàn đáp ứng yêu cầu chất lượng sản phẩm thế hệ mới của Mazda.

Tại Lễ khánh thành nhà máy, ông Hiroshi Inoue – Chủ tịch Mazda Đông Nam Á khẳng định:“ Nhà máy Thaco Mazda được trang bị những công nghệ tiên tiến nhất của Mazda toàn cầu.

Đây là nền tảng để sản xuất ra những chiếc xe Mazda ngày càng ổn định với chất lượng hoàn toàn tương đương Nhật Bản, thông qua những quy trình sản xuất chuẩn, trang thiết bị và công nghệ tự động hóa hoàn toàn”.

Thaco Mazda, được định vị là nhà máy sản xuất xe du lịch Mazda hiện đại nhất khu vực ASEAN

Tập đoàn Mazda luôn đồng hành, hỗ trợ Thaco trong việc lắp đặt thiết bị, vận hành, đào tạo nhân lực và thường xuyên tổ chức các chương trình đánh giá định kỳ nhằm đảm bảo tiêu chuẩn toàn cầu của Mazda Nhật Bản.

Do vậy, mỗi chiếc xe Mazda trước khi đến tay khách hàng đều phải trải qua quá trình kiểm định nghiêm ngặt, thông qua hệ thống kiểm soát chất lượng kết nối trực tiếp với Mazda Nhật Bản để đảm bảo xe xuất xưởng tại nhà máy Thaco Mazda tương đương sản phẩm Mazda sản xuất tại Nhật Bản.

Ông Susumu Niinai – Giám đốc Điều hành Mazda khu vực Đông Nam Á “Chất lượng sản phẩm của nhà máy Thaco-Mazda hoàn toàn tương đương với sản phẩm được sản xuất tại nhà máy Ujina, Hiroshima – Nhật Bản.

Tại buổi lễ công bố sự kiện Mazda “Sản xuất Việt Nam – Chất lượng Nhật Bản”, ông NiiNai- Giám đốc Điều hành Mazda khu vực Đông Nam Á cho biết: từ quan điểm của khách hàng, chúng tôi muốn tiến hành đánh giá thông qua so sánh và cảm nhận sản phẩm thực tế.

Do đó, chúng tôi đã tiến hành kiểm tra tĩnh và kiểm tra động một cách cẩn thận bằng hình thức so sánh giữa xe được sản xuất tại nhà máy Ujina ở Hiroshima và xe được sản xuất tại nhà máy Thaco Mazda tại Chu Lai – Quảng Nam. Và bây giờ, tôi rất tự tin để công bố chất lượng của nhà máy Thaco Mazda tương đương với nhà máy Mazda tại Nhật Bản không chỉ theo quan điểm của nhà sản xuất mà còn từ quan điểm của khách hàng.

Dây chuyền sản xuất tự động tại Nhà máy Thaco Mazda

Trả lời câu hỏi của phóng viên về tiêu chuẩn đánh giá cụ thể, ông NiiNai tiết lộ: Các nhà máy như Hiroshima, Nhà máy Thái Lan, Nhà máy Thaco mazda và các nhà máy Mazda trên toàn cầu đều có chung tiêu chuẩn tiêu chí đánh giá về chất lượng và tất cả các nhà máy này đều nằm trong mạng lưới sản xuất toàn cầu của Mazda.

Ngoài các tiêu chí tiêu chuẩn chung về đánh giá chất lượng, giữa các nhà máy của Mazda trên toàn cầu và Mazda thường xuyên tổ chức các hoạt động cải tiến để nâng cao chất lượng và tổ chức các cuộc họp bao gồm tất cả các Nhà máy của Mazda trên toàn cầu cùng trao đổi các giải pháp nâng cao chất lượng hơn nữa.

Và chính các nhà máy này sẽ cạnh tranh với nhau để có những vị trí dẫn đầu về chất lượng trong hệ thống sản xuất của Mazda và nhà máy Thaco Mazda đã trở thành thành viên của mạng lưới sản xuất của Tập đoàn Mazda.

Công nghệ sơn hiện đại
Robot hàn tự động
Nhà máy hiện đại, có cảnh quan thân thiện với môi trường

Ngày 25/3/2018, nhà máy Thaco Mazda đã chính thức khánh thành và đưa vào hoạt động giai đoạn 1 công suất 50.000 xe/năm,với dây chuyền, thiết bị hiện đại, tự động hóa, quy trình sản xuất chuẩn và công nghệ mới nhất, gồm: Dây chuyền hàn bằng robot với công nghệ hàn laser; Hệ thống sơn tĩnh điện với công nghệ sơn liên tục; Dây chuyền sơn màu với công nghệ sơn mới wet-on-wet(sơn 2 lớp sơn màu liên tục), sử dụng chất sơn đậm đặc giúp tạo độ bóng mịn, chắc chắn hơn, tăng khả năng chống chịu các vết xước, vết loang và chống ăn mòn do axit trong quá trình sử dụng, đáp ứng tiêu chuẩn bề mặt theo yêu cầu khắt khe của các màu sơn cao cấp.Sản phẩm được thiết kết heo ngôn ngữ Kodo – Linh hồn của sự chuyển động và sử dụng công nghệ SkyActi vvượt trội tối ưu hóa hoạt động.

Nguồn:baohaiquan

Việt Nam, những ngày kiểm định sức đề kháng chính sách tiền tệ

Nhiều tác động đang hội tụ để kiểm định sức đề kháng của chính sách tiền tệ Việt Nam…

Một tuần sau sự kiện Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED) tăng lãi suất, tại thị trường Việt Nam, lãi suất, tỷ giá, giá vàng, thị trường chứng khoán gần như không có biến động nào lớn.

Một số chuyên gia nhìn nhận, một phần của sự kiện trên đã được thị trường phản ánh, thị trường chủ động hấp thụ nên đã hạn chế xáo trộn. Nhưng đó không hẳn là phản ánh một cách tự nhiên.

Khớp nhịp điều hành

Biến động đáng chú ý chủ yếu trên thị trường liên ngân hàng, cùng hoạt động điều tiết của Ngân hàng Nhà nước.

Một ngày sau quyết định tăng lãi suất của FED, lãi suất tín phiếu của Ngân hàng Nhà nước (phát hành để hút bớt tiền về) tăng thêm, từ 2,5%/năm lên 2,75%/năm ở kỳ hạn 7 ngày.

Đặt trong chuỗi diễn biến từ tháng 7/2018 đến nay, thay đổi trên không có gì bất ngờ. Hai tháng trước đó, các tổ chức tín dụng đã quen với tín hiệu nhà điều hành nâng lãi suất này lên, cũng như tăng quy mô chào thầu tín phiếu tại một số thời điểm.

Một mặt, nó phản ánh lượng tiền trong hệ thống vẫn đang dôi dư, phản ánh ở số dư lưu hành tín phiếu Ngân hàng Nhà nước còn khá lớn, trong khoảng 60.000 – 80.000 tỷ đồng tùy thời điểm gần đây.

Mặt khác, mặc dù có những phiên tăng lượng chào thầu, nhưng lượng tiền hấp thụ qua tín phiếu hạn chế, do lãi suất không còn hấp dẫn và việc nâng lên có thể xem như bắt nhịp với thị trường.

Lãi suất tín phiếu Ngân hàng Nhà nước tăng lên là thay đổi nổi bật, đặt trong bối cảnh FED đã ba lần nâng lãi suất năm nay. Trên thế giới và trong khu vực, hàng chục ngân hàng trung ương cũng đã và vừa lần lượt tăng lãi suất điều hành. Còn Việt Nam, chủ yếu chỉ thể hiện ở thay đổi trên, các lãi suất điều hành chủ chốt vẫn ổn định.

Thay đổi chủ yếu chỉ ở lãi suất tín phiếu, nhưng phạm vi tác động có phổ rộng.

Sau ba tuần giảm mạnh liên tiếp, lãi suất VND trên liên ngân hàng cũng bắt nhịp lãi suất tín phiếu tăng khá mạnh trở lại. Nhịp cân đối này khớp ngay với sự kiện FED tăng lãi suất và nó trực tiếp góp phần giữ ổn định tỷ giá.

Trung tuần tháng 9 vừa qua, lãi suất VND qua đêm trên liên ngân hàng rơi sâu dưới mốc 2%/năm, tạo chênh lệch bất lợi so với lãi suất USD và tác động nhất định đến tỷ giá USD/VND. Tuy nhiên, qua nhịp điều tiết trên, lãi suất VND trên thị trường này đã nhanh chóng tăng trở lại, đến đầu tuần này qua đêm đã vượt mốc 3%/năm, chênh dương đáng kể so với lãi suất USD.

Sức đề kháng trên nền tốt hơn

Trước thềm sự kiện FED tăng lãi suất lần thứ ba kể từ đầu năm, một chuyên gia trao đổi dự đoán với VnEconomy: “Điều hành chính sách tiền tệ với áp lực đa mục tiêu, vừa hỗ trợ tăng trưởng, kiềm chế lạm phát, ổn định tỷ giá, thậm chí lúc này người ta vẫn đặt yêu cầu tiếp tục giảm lãi suất, mà thế giới thì nhiều biến động, liên tục biến động, tôi nghĩ Ngân hàng Nhà nước vẫn phải dùng “những miếng võ cổ truyền” thôi”.

Đó chủ yếu là bơm – hút tiền điều tiết, cân đối lãi suất. Nó thể hiện như thay đổi ở trên. Nhưng “những miếng võ” giờ đã linh hoạt, uyển chuyển và khớp nhịp với các biến động, nhất là từ bên ngoài.

Bên ngoài, cùng với lộ trình tăng lãi suất liên tiếp của FED, cuộc chiến thương mại Mỹ – Trung liên tục leo thang, đồng Nhân dân tệ mất giá mạnh kéo dài, giá dầu có những bước tăng phi mã…

Nhưng về cơ bản, thị trường tiền tệ Việt Nam vẫn ổn định; lãi suất, tỷ giá tương đối ổn định; lạm phát vẫn được kiểm soát.

Những kết quả này vừa được khẳng định tại phiên họp Chính phủ thường kỳ kết thúc quý 3/2018, cũng như tại cuộc họp của Hội đồng Tư vấn chính sách tiền tệ Quốc gia.

Ở góc nhìn từ bên ngoài, cụ thể nhất, các tổ chức xếp hạng tín nhiệm vừa lần lượt nâng hạng cho Việt Nam, cũng như cho loạt ngân hàng thương mại của Việt Nam.

Một mặt, điều hành chính sách vĩ mô nói chung và chính sách tiền tệ nói riêng góp phần tạo ổn định. Mặt khác, xét riêng hệ thống ngân hàng thương mại, các yếu tố nền tảng đã tốt hơn trước rất nhiều – điều mà Thống đốc Lê Minh Hưng khẳng định tại phiên họp Hội đồng Tư vấn chính sách tiền tệ Quốc gia tuần qua.

Tốt hơn trước như thế nào? Khẳng định này hoàn toàn đo đếm được.

Trước hết, nợ xấu nhận diện tổng thể từ mức 10,8% cuối 2016 hiện đã giảm xuống còn 6,6%; nợ xấu theo báo cáo của các tổ chức tín dụng đã giảm chỉ còn 2,1%.

Đáng chú ý, Thống đốc cho biết, nợ xấu mới phát sinh của hệ thống được kiểm soát chặt chẽ và hạn chế.

Năng lực tài chính của hệ thống cũng đã có bước tiến dài so với giai đoạn 2011 – 2015, thể hiện ở mức độ gia tăng tổng tài sản, quy mô vốn điều lệ và vốn tự có. Năng lực này được nhấn mạnh ở giá trị thực, xác định theo khung khổ pháp lý có những bước tiến và chặt chẽ hơn trước.

Thị trường tiền tệ vẫn ổn định. Nhìn sang nơi có mối liên hệ chặt chẽ, thị trường chứng khoán Việt Nam ba tháng gần đây và hiện nay có hướng tăng trưởng bền vững hơn, giao dịch trở nên sôi động hơn.

Nhưng, phía trước, lộ trình các lần tăng lãi suất của FED dự kiến vẫn tiếp tục, chiến tranh thương mại Mỹ – Trung chưa có điểm dừng, giá dầu định hình ở mức cao, USD-Index tăng mạnh trở lại, Nhân dân tệ vẫn mất giá mạnh so với đầu năm…

Trong nước, áp lực đối với tỷ giá USD/VND vẫn đều đặn nhận những cảnh báo từ giới chuyên gia, nhất là xuất siêu thời gian qua vẫn phụ thuộc lớn vào khối doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.

Lạm phát, đến thời điểm này lạm phát cơ bản vẫn kiểm soát ở mức thấp cho thấy không có tác động lớn từ nhân tố tiền tệ, nhưng các đầu mối chuyên trách đều nhấn mạnh đến áp lực trong suốt 2018.

Dù vậy, bối cảnh, các yếu tố tác động và tiềm ẩn tác động nói trên không đồng nghĩa chỉ riêng tiêu cực và biến động bất lợi.

Một thực tế tham khảo, giá vàng trên thế giới và trong nước suốt thời gian qua gần như lặng sóng. “Hàn thử biểu” thường thấy mỗi khi có bất ổn trước đây cho đến nay vẫn chưa từng một lần được kích hoạt thực sự.

Nguồn:baohaiquan

Tam mã trong cuộc đua thu hút FDI vào Việt Nam

Trong các tập đoàn lớn có đầu tư vào Việt Nam, các nhà đầu tư đến từ Hàn Quốc, Nhật Bản, Singapore đông đảo hơn cả. Ngoài những nhà đầu tư này, Việt Nam hiện mong muốn thu hút nhiều hơn nữa nguồn vốn từ Mỹ và EU.

Tam mã tranh hùng

Mỹ và EU vẫn là những thị trường có nhiều nhà đầu tư tiềm năng nhất, do đó, cần có các hoạt động xúc tiến đầu tư thích hợp với từng loại hình doanh nghiệp, đặc điểm từng quốc gia.

SK Group, một trong những tập đoàn hàng đầu Hàn Quốc trong lĩnh vực năng lượng, viễn thông, linh kiện công nghệ cao, logistics và dịch vụ, vừa quyết định dốc 470 triệu USD để đầu tư vào Masan, một doanh nghiệp lớn của Việt Nam. Với khoản đầu tư này, SK sẽ sở hữu khoảng 9,5% cổ phần của Masan và trở thành nhà đầu tư nước ngoài lớn nhất hiện nay của Masan.

SK chỉ là một trong những cái tên Hàn Quốc mới nhất quyết định đầu tư vào Việt Nam. Theo thông tin từ Cục Đầu tư nước ngoài (Bộ Kế hoạch và Đầu tư), cho đến nay, hầu hết các tập đoàn lớn của Hàn Quốc đều đã có các khoản đầu tư tại Việt Nam, từ Samsung, LG, Lotte, CJ, Hyosung, đến Doosan, Posco, Hyundai, Hanwha… Ngoài ra, còn có Shinhanbank, WooriBank, rồi Nonghyup, Industrial Bank of Korea, Kookmin, Busan, KEB Hana… Lũy kế đến cuối tháng 8/2018, các nhà đầu tư Hàn Quốc đã đầu tư 7.161 dự án, với tổng vốn đăng ký trên 61 tỷ USD.

Tuy tính theo năm, tức là trong 8 tháng đầu năm nay, Nhật Bản đang giữ vị trí quán quân, với vốn đăng ký trên 7 tỷ USD, phần lớn nhờ Dự án Thành phố thông minh 4,18 tỷ USD của liên doanh Sumitomo và BRG, song trong cuộc đua giành ngôi vương nhà đầu tư nước ngoài lớn nhất tại Việt Nam – tính lũy kế, Nhật Bản vẫn đang phải lùi xuống vị trí số 2, sau một thời gian dài chiếm lĩnh đỉnh cao. Cho đến nay, các nhà đầu tư Nhật Bản đang đầu tư vào Việt Nam 3.865 dự án, với tổng vốn đăng ký trên 55,8 tỷ USD.

Hầu hết các tập đoàn lớn của Nhật Bản đã xây “căn cứ địa” ở Việt Nam, từ Honda, Toyota đến Panasonic, Canon, FujiXerox, Kyocera, rồi Sojitz, Kirin, JFE, Itochu… và mới đây là Aeon, Mizuho, Unicharm…

Trong khi đó, Singapore nhiều năm giữ vững vị trí thứ 3, với 2.120 dự án, tổng vốn đăng ký gần 45,9 tỷ USD, tính đến cuối tháng 8/2018. Cũng từng có thời điểm, Singapore là nhà đầu tư nước ngoài lớn nhất tại Việt Nam, với hàng loạt tên tuổi lớn như Sembcorp, Mapletree, Keppel Land, Banyan Tree… Song việc còn cách Nhật Bản tới gần 10 tỷ USD và cách Hàn Quốc hơn 15 tỷ USD vốn cam kết đầu tư vào Việt Nam khiến Singapore khó lòng tranh đua ngôi vị số 1 và số 2 trong số các quốc gia và vùng lãnh thổ có đầu tư lớn vào Việt Nam.

Tuy nhiên, nếu tính tổng thể, thì cuộc đua ở top 3 vẫn sẽ là “tam mã tranh hùng” Singapore, Hàn Quốc và Nhật Bản, bởi vị trí thứ 4 thuộc về nhà đầu tư Đài Loan, nhưng vốn cam kết hiện chỉ ở mức gần 30,1 tỷ USD. Điều đó có nghĩa, khó có nhà đầu tư nào – dù nhanh chân đến mấy – có thể soán ngôi được của ba nhà đầu tư hàng đầu ở Việt Nam hiện nay.

Ngóng vốn đầu tư từ Mỹ và EU

Số liệu thống kê từ Cục Đầu tư nước ngoài cho thấy, tính đến cuối tháng 8/2018, châu Á chiếm trên 70% tổng vốn FDI đăng ký vào Việt Nam. Trong khi đó, đầu tư từ châu Âu, Mỹ lại quá ít ỏi so với tổng vốn FDI vào Việt Nam, cũng như so với nguồn vốn đầu tư ra nước ngoài của các nhà đầu tư này trên thế giới và vào các nước ASEAN.

Mỹ, cường quốc kinh tế lớn nhất thế giới và cũng là nhà đầu tư lớn nhất thế giới hiện mới đầu tư vào Việt Nam 886 dự án, với tổng vốn đăng ký hơn 8,96 tỷ USD. Tất nhiên, khoản đầu tư này là chưa tính đến các dự án Intel, Coca-Cola, Procter & Gamble, ConocoPhillips…, do nhà đầu tư Mỹ đầu tư vào Việt Nam thông qua các chi nhánh, công ty con của mình tại một số thị trường khác như British Virgin Islands, Singapore, Hồng Kông…, song gần 9 tỷ USD là con số rất khiêm tốn. Năm 2017, Mỹ đầu tư ra nước ngoài 342 tỷ USD, tăng tới 22% so với năm trước, song lại chỉ đầu tư vào Việt Nam vỏn vẹn trên 868 triệu USD.

Trong khi đó, EU, vào năm ngoái, cũng đã đầu tư ra nước ngoài 334 tỷ USD, tuy giảm 41% so với năm 2016, song vẫn là một khoản đầu tư rất lớn. Tuy vậy, Việt Nam chỉ nhận được một phần rất nhỏ từ khoản vốn đầu tư này. Theo số liệu từ Cục Đầu tư nước ngoài, hiện có 24/28 nước EU đầu tư vào Việt Nam, nhưng riêng khoản vốn đầu tư từ Hà Lan, Anh, Pháp Luxembourg và Đức đã chiếm tới 84,3% trong số này.

Bộ Kế hoạch và Đầu tư thừa nhận, quan hệ kinh tế và thương mại giữa Việt Nam và EU phát triển tương đối thuận chiều, nhưng FDI vẫn còn quá ít, đặc biệt vào các ngành công nghệ cao và dịch vụ hiện đại từ một số nước dẫn đầu EU như Đức, Pháp, Italia…

Chuẩn bị tổng kết 30 năm thu hút FDI, ông Phan Hữu Thắng, nguyên Cục trưởng Cục Đầu tư nước ngoài cho rằng, phải làm rõ vì sao vốn FDI từ hai thị trường đầy tiềm năng này lại khiêm tốn như vậy. Còn các chuyên gia IFC, khi xây dựng Báo cáo Định hướng chiến lược thu hút FDI thế hệ mới giai đoạn 2018-2030 đã nhấn mạnh cần quan tâm đến thu hút đầu tư từ các đối tác Mỹ và EU.

Trong khi đó, Cục Đầu tư nước ngoài khẳng định, Mỹ và EU vẫn là những thị trường có nhiều nhà đầu tư tiềm năng nhất, do đó, cần có các hoạt động xúc tiến đầu tư thích hợp với từng loại hình doanh nghiệp, đặc điểm từng quốc gia, đáp ứng đòi hỏi cao của các tập đoàn xuyên quốc gia hàng đầu thế giới về sở hữu trí tuệ, chống tham nhũng…

“Triển vọng thu hút nhiều hơn vốn FDI từ Mỹ và EU phụ thuộc chủ yếu vào việc giải quyết tốt những đòi hỏi của nhà đầu tư về tính công khai, minh bạch và dễ dự báo của chính sách pháp luật của Việt Nam”, Cục Đầu tư nước ngoài nhận định.

Nguồn:baohaiquan

Chiến tranh thương mại Mỹ- Trung: Nhiều doanh nghiệp lớn sẽ đến Việt Nam

(HQ Online)- Theo nghiên cứu của Công ty JLL Việt Nam, trong bối cảnh tranh chấp thương mại giữa Mỹ và Trung Quốc leo thang, các nhà đầu tư e ngại bất động sản (BĐS) công nghiệp sẽ chịu ảnh hưởng trực tiếp trong ngành BĐS thương mại.

Mới đây nhất, ngày 24/9, Mỹ chính thức áp thuế 10% với gói hàng hóa trị giá 200 tỷ USD nhập khẩu từ Trung Quốc. Lập tức Bắc Kinh cũng đáp trả với việc áp mức thuế tương ứng với 60 tỷ USD hàng hóa nhập khẩu từ Mỹ.

Tổng thống Trump đe dọa áp đặt thuế quan đối với mọi sản phẩm nhập từ Trung Quốc với con số có thể đẩy lên 500 tỷ USD.

Theo ông Ryan Severino, Trưởng phòng kinh tế của JLL, thuế quan cụ thể là hàng rào thuế mà Mỹ áp lên hàng hóa nhập khẩu từ Trung Quốc là một chi phí tăng thêm nhằm kiềm chế tiêu dùng, từ đó làm giảm nhu cầu về kho bãi để lưu trữ hàng hóa.

Dù vậy, động thái này khó có thể kìm lại sự tăng trưởng của BĐS công nghiệp khi mà ngành thương mại điện tử hiện đang bùng nổ và các công ty công nghệ liên tục săn tìm nhà xưởng. Trong quý đầu tiên của năm 2018, tỉ lệ trống của khu công nghiệp tại Trung Quốc giữ mức thấp kỷ lục 4,8%.

Ngược lại hàng rào thuế gần như kéo GDP thực ở Mỹ giảm khoảng 10 điểm phần trăm trong vòng 12-18 tháng tới, kéo theo sự sụt giảm 20 điểm phần trăm về tăng trưởng thuê công nghiệp.

Tuy nhiên, theo JLL, sự tăng trưởng giá thuê đất công nghiệp tại Trung Quốc sẽ thúc đẩy Việt Nam trở thành một trong những điểm đến tiếp theo của các NĐT nhờ vào vị trí địa lý thuận lợi với Trung Quốc và chi phí lao động phải chăng.

Theo báo cáo “Việt Nam – Trung tâm công nghiệp mới của Đông Nam Á” của JLL, các nhà sản xuất đang tìm cách rời khỏi Trung Quốc nhằm tiết kiệm chi phí sản suất, theo chiến lược “Trung Quoc +1”. JLL cho rằng, chiến tranh thương mại sẽ thúc đẩy nhiều doanh nghiệp sản xuất lớn đến và thành lập nhà máy mới tại Việt Nam.

JLL cho rằng, việc tăng thuế quy mô lớn sẽ sớm có những hậu quả nghiêm trọng kéo dài đối với nền kinh tế và thị trường công nghiêp.

Đợt triển khai áp thuế mới nhất tiếp tục khuấy động BĐS thương mại. Các mức thuế đối với thép, nhôm và gỗ được áp dụng trong 3 tháng đầu năm 2018 đã làm tăng chi phí thi công và sẽ làm chậm quá trình phát triển dự án.

Giá gỗ mềm vào tháng 7/2018 đã tăng 19,5% so với cùng kỳ năm ngoái, gỗ ván ép cũng tăng 22,5%, thép non tăng 12,4% và nhôm đúc tăng 17,8%. Theo JLL, chính cuộc chiến thương mại này đang làm gián đoạn nhiều dự án và trì hoãn nhiều dự án mới. Trong khi nguồn cung mới thiếu hụt, các tòa nhà hiện hữu sẽ tăng giá trị dựa theo nguyên lý cung cầu và kìm hãm tăng trưởng kinh tế.

Nguồn:baohaiquan