350 văn bản pháp luật về quản lý, kiểm tra chuyên ngành

(HQ Online)- Theo thống kê của Tổng cục Hải quan, hiện có khoảng 350 văn bản pháp luật quy định về chính sách quản lý và kiểm tra chuyên ngành (KTCN) đối với hàng hóa xuất nhập khẩu gồm: 39 Luật, 77 Nghị định của Chính phủ và Quyết định/Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ, 240 Thông tư/Quyết định của bộ, ngành.

Với vai trò là đơn vị đầu mối, phối hợp với các bộ liên quan triển khai thực hiện Quyết định 2026/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động KTCN đối với hàng hóa xuất nhập khẩu, từ năm 2017 đến nay, Bộ Tài chính (Tổng cục Hải quan) đã tích cực, chủ động phối hợp với các bộ, ngành đẩy mạnh cải cách, đổi mới phương thức quản lý và KTCN.

Cụ thể, Bộ Tài chính (Tổng cục Hải quan) đã chủ động nghiên cứu, rà soát các quy định pháp luật về quản lý và KTCN để kịp thời phát hiện những bất cập, vướng mắc; tập hợp những vướng mắc, kiến nghị của doanh nghiệp và hải quan địa phương, tổng hợp, phản ánh và kiến nghị các đơn vị chuyên môn thuộc các bộ, ngành sửa đổi, bổ sung các quy định về quản lý và KTCN; tham gia, góp ý vào các dự án xây dựng văn bản nghị định, thông tư liên quan đến công tác KTCN do các bộ, ngành xây dựng, ban hành.

Chủ trì, phối hợp với các đơn vị chuyên môn thuộc các bộ, ngành (làm việc tập trung cùng với công chức hải quan) rà soát các văn bản quy phạm pháp luật về KTCN còn bất cập, vướng mắc, chưa đáp ứng được theo chỉ đạo tại Quyết định 2026/QĐ-TTg và các Nghị quyết 19 năm 2015, 2016, 2017 của Chính phủ.

Trong tháng 8/2018, Tổng cục Hải quan đã chủ trì, phối hợp với một số đơn vị chuyên môn thuộc các bộ, ngành tổ chức đợt làm việc tập trung để rà soát văn bản quy phạm pháp luật còn bất cập, rà soát mã số HS.

Tháng 9/2018, Bộ Tài chính đã có các công văn gửi 5 Bộ: Y tế, Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Khoa học và Công nghệ, Thông tin và Truyền thông, Tài nguyên và Môi trường thúc đẩy các bộ triển khai Cơ chế một cửa quốc gia và KTCN.

Chủ trì tổ chức, phối hợp với các bộ, ngành rà soát, chuẩn hóa Danh mục hàng hóa xuất nhập khẩu kèm mã số HS phù hợp với Danh mục hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu Việt Nam kèm theo Thông tư số 65/2017/TT-BTC của Bộ Tài chính.

Đồng thời, rà soát chỉ rõ các mặt hàng xuất khẩu, nhập khẩu chồng chéo trong quản lý và kiểm tra, đang phải thực hiện cùng lúc nhiều thủ tục, chịu nhiều hình thức quản lý, KTCN trước thông quan, báo cáo Thủ tướng Chính phủ và đề xuất, kiến nghị một số giải pháp cụ thể.

Đặc biệt, thời gian qua Tổng cục Hải quan được Bộ Tài chính giao chủ trì xây dựng dự thảo Nghị định quy định về thực hiện Cơ chế một cửa quốc gia, Cơ chế một cửa ASEAN và KTCN đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu trong đó quy định rõ trách nhiệm của các bộ quản lý chuyên ngành trong việc thực hiện các quy định về KTCN.

Trong đó các vấn đề quan trọng được đưa vào dự thảo Nghị định gồm: Áp dụng nguyên tắc quản lý rủi ro trong KTCN; Ban hành Danh mục hàng hóa thuộc đối tượng KTCN trước thông quan phải đảm bảo các tiêu chí: Có tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật để kiểm tra (trường hợp chưa có/không có tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật phải có chỉ tiêu kiểm tra), quy trình, thủ tục, cơ quan kiểm tra, có mã số HS; Chỉ được đưa vào danh mục hàng hóa KTCN trước thông quan đối với hàng hóa có nguy cơ rủi ro cao ảnh hưởng đến sức khỏe con người, môi trường, an ninh quốc phòng; Quy định thống nhất các đối tượng được miễn KTCN trước thông quan…

Cũng trong năm 2018, Bộ Tài chính đã báo cáo Thủ tướng Chính phủ chủ trì tổ chức Hội nghị “Thúc đẩy Cơ chế một cửa quốc gia, Cơ chế một cửa ASEAN và tạo thuận lợi thương mại”. Sau hội nghị, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định 1254/QĐ-TTg về việc phê duyệt Kế hoạch hành động thúc đẩy Cơ chế một cửa quốc gia, Cơ chế một cửa ASEAN, cải cách công tác KTCN đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu và tạo thuận lợi thương mại giai đoạn 2018 – 2020. Tại Quyết định giao các bộ, ngành thực hiện các giải pháp cụ thể nhằm cải cách công tác quản lý và KTCN đối với hàng hóa xuất nhập khẩu, tạo thuận lợi thương mại.

Nguồn:baohaiquan

Cải cách kiểm tra chuyên ngành là chìa khoá cho thuận lợi hoá thương mại

(HQ Online)- Đó là nhận định của các chuyên gia tại Diễn đàn hội nhập kinh tế quốc tế TPHCM 2018 với chủ đề “Tạo thuận lợi thương mại và nâng cao năng lực cạnh tranh” được tổ chức tại TPHCM vào chiều 8/11.

Phát biểu tại diễn đàn, ông Ngô Chung Khanh, Phó Vụ trưởng Vụ Chính sách thương mại đa biên, Bộ Công Thương chia sẻ, thời gian qua Việt Nam đã rất chủ động và tích cực tham gia các hiệp định thương mại tự do (FTA). Tính đến thời điểm hiện tại, Việt Nam đã tham gia 17 FTA. Trong đó có 10 FTA đã ký và có hiệu lực, 2 FTA đã ký nhưng chưa có hiệu lực, 2 FTA đã kết thúc đàm phán và 3 FTA đang đàm phán.

Ông Khanh cho hay, việc tăng cường ký kết các FTA không chỉ đơn thuần là mở cửa, hội nhập kinh tế quốc tế, mà còn nhằm cải thiện thâm hụt thương mại. Cụ thể, nếu trước năm 2007 Việt Nam mới chỉ ký kết được hai FTA, thì sau thời điểm này, rất nhiều FTA song phương và đa phương khác đã được ký kết. Nguyên nhân của sự “nở rộ” này chính là việc Việt Nam gia nhập WTO vào năm 2007.

Sự tăng trưởng của ngành dệt may chính là minh hoạ rõ nét về lợi ích của FTA đối với xuất khẩu của Việt Nam. Cụ thể, khi tham gia WTO, thuế quan áp dụng với hàng may mặc thành phẩm trung bình là 25%, nhưng với các FTA ký kết sau này, mức thuế quan giảm mạnh chỉ còn trung bình từ 0-5%.

“Không có công nghệ nào có thể giúp tiết kiệm chi phí lên tới 25%, nhưng với việc ký kết FTA, hàng hoá Việt Nam sẽ được lợi về giá lên tới 25%” – ông Khanh nói.

Tăng trưởng xuất khẩu của Việt Nam trong 23 năm qua cũng cho thấy những tác động tích cực của các FTA tới xuất khẩu của Việt Nam. Cụ thể, năm 1995, khi Việt Nam gia nhập ASEAN, kim ngạch xuất khẩu chỉ ở mức 5,4 tỷ USD. Đến năm 2007, khi Việt Nam gia nhập WTO, kim ngạch xuất khẩu tăng lên mức 48,5 tỷ USD và đạt 213,8 tỷ USD trong năm 2018.

Như vậy, phải mất tới 12 năm (1995-2007) để kim ngạch xuất khẩu tăng trưởng được 43 tỷ USD, nhưng với hàng loạt FTA được ký kết sau khi gia nhập WTO, chỉ cần 11 năm (2007-2018), kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam đã tăng trưởng tới hơn 165 tỷ USD.

Việc tham gia các FTA cũng tạo sức ép đối với cải cách thủ tục hành chính của Việt Nam. Theo khảo sát của VCCI mới đây, tỷ lệ doanh nghiệp hài lòng với các thủ tục thuế, hải quan, bảo hiểm xã hội, thành lập doanh nghiệp ngày càng tăng lên, trong đó 75% hài lòng về thủ tục thuế, 68% hài lòng về thủ tục hải quan…

Ông Nguyễn Anh Dương, Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương (CIEM) đánh giá, những cải cách mang tính nền tảng hướng tới tạo thuận lợi thương mại còn ý nghĩa nhiều hơn so với việc cam kết cắt giảm các rào cản thuế quan và phi thuế quan. Theo đó, những giai đoạn hội nhập kinh tế quốc tế mạnh mẽ nhất cũng là những giai đoạn Việt Nam cải cách kinh tế và tăng trưởng mạnh mẽ nhất.

Nhận thức được điều đó, từ những năm 2010, CIEM và Tổng cục Hải quan cùng phối hợp triển khai nhiều hoạt động hướng tới cải cách, tạo thuận lợi thương mại, trong đó có việc triển khai cơ chế một cửa quốc gia (NSW).

Theo tính toán của Tổ chức OECD, chi phí thương mại của Việt Nam ước tính sẽ giảm 18,3% nếu thực hiện đầy đủ các cam kết theo Hiệp định thuận lợi hoá thương mại WTO.

Tuy nhiên, hiệu quả thuận lợi hoá thương mại của Việt Nam vẫn còn nhiều hạn chế so với các nước ASEAN. Việt Nam đứng thứ 73 trên 136 nền kinh tế trong bảng xếp hạng thuận lợi hoá thương mại của WEF và đứng thứ 5 trong ASEAN, sau Singapore, Malaysia, Thái Lan và Indonesia.

Để khắc phục điều này, ông Dương cho rằng cần có sự chuyển đổi mạnh mẽ trong hoạt động kiểm tra chuyên ngành.

Theo bà Lê Nguyễn Việt Hà, Phó trưởng phòng giám sát quản lý I, Cục Giám sát quản lý, Tổng cục Hải quan, hai Nghị định 74 và Nghị định 15 vừa được Chính phù ban hành năm 2018 là bước tiến quan trọng trong việc cải cách công tác kiểm tra chuyên ngành đối với hàng hoá xuất nhập khẩu. Theo đó, nhiều mặt hàng được miễn kiểm tra chất lượng khi nhập khẩu.

Cùng với đó, NSW cũng là một bước đột phá về cải cách thủ tục hành chính. Bà Hà cho biết, hiện đã có 125 thủ tục được kết nối trên NSW, dự kiến đến cuối năm 2018, con số này sẽ tăng lên 138 thủ tục.

Nguồn:baohaiquan

Địa điểm kiểm tra chuyên ngành tập trung: Đã đến lúc thay đổi

(HQ Online)- 10 địa điểm kiểm tra chuyên ngành tập trung (KTCNTT) được Bộ Tài chính (Tổng cục Hải quan) phối hợp với các đơn vị có liên quan thành lập tại các khu vực cảng biển, cửa khẩu, theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ cuối năm 2015. Sau khoảng 3 năm hoạt động, với những thay đổi theo chiều hướng tích cực của công tác quản lý, KTCN, cùng với đó cũng có những địa điểm KTCNTT hoạt động không hiệu quả, đã đến lúc quy hoạch lại các địa điểm này.

Từng phát huy hiệu quả

Có thể thấy trong các năm 2013, 2014, 2015, công tác quản lý và KTCN đối với hàng hóa XNK, bên cạnh mặt được thì hoạt động này cũng là lực cản đối với thương mại hàng hóa qua biên giới, làm kéo dài thời gian thông quan và tăng chi phí cho DN. Nguyên nhận được xác định là mặt hàng thuộc đối tượng quản lý và KTCN tại khâu thông quan quá nhiều, phạm vi rộng, nhiều mặt hàng chưa có mã số HS, còn chồng chéo trong việc kiểm tra, trong khi phương pháp KTCN chủ yếu là thủ công, chưa áp dụng quản lý rủi ro trong kiểm tra. Tại nhiều cửa khẩu quốc tế cảng biển, cảng hàng không, nơi có lưu lượng hàng hóa XNK thuộc đối tượng KTCN nhiều nhưng không có lực lượng KTCN làm việc tại cửa khẩu.

Trước thực tế đó, thực hiện công văn 7910/VPCP-KTTT của Văn phòng Chính phủ thông báo ý kiến của Thủ tướng Chính phủ về việc KTCN đối với hàng hóa XNK và Quyết định 2026/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt đề án “Giải pháp nâng cao hiệu quả, hiệu lực hoạt động KTCN đối với hàng hóa XK, NK”, Tổng cục Hải quan (Bộ Tài chính) đã chủ trì phối hợp với các đơn vị liên quan thuộc các bộ chuyên ngành thành lập 10 địa điểm KTCN.

Ngay khi các địa điểm KTCNTT đi vào hoạt động, các cơ quan KTCN đã bố trí lực lượng, kịp thời giải quyết các thủ tục hành chính cho tổ chức, cá nhân, trong đó 31/39 đơn vị KTCN đã bố trí cán bộ thường trực tại văn phòng trực tiếp giải quyết thủ tục như: Tiếp nhận hồ sơ, lấy mẫu, trả kết quả kiểm tra… góp phần rút ngắn thời gian giải quyết thủ tục. Trong từng lĩnh vực, thời gian kiểm tra đã giảm như kiểm tra VSATTP tại địa điểm Lạng Sơn giảm từ 5-6 ngày xuống còn 3-4 ngày, tại địa điểm Hà Nội giảm từ 10 ngày xuống 6 ngày.

Tuy nhiên, cho đến nay với nhiều thay đổi từ cơ chế chính sách, cũng như nhu cầu triển khai, hoạt động các một số địa điểm KTCN không còn hiệu quả.

Theo rà soát của Bộ Tài chính (Tổng cục Hải quan) hiện có 4/10 địa điểm KTCNTT còn duy trì hoạt động thường xuyên do lượng tờ khai KTCN trước thông quan nhiều và các đơn vị KTCN không có trụ sở ngay cạnh cửa khẩu, cạnh địa điểm KTCN như: Địa điểm KTCNTT tại Hải Phòng; địa điểm KTCNTT tại sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất; địa điểm KTCNTT tại cảng Cát Lái; địa điểm KTCNTT tại Kim Thành-Lào Cai.

Tuy nhiên, 6/10 địa điểm KTCN không còn duy trì hoạt động thường xuyên, trong đó 3 địa điểm do đơn vị Hải quan bố trí: Cảng Cái Lân, Cảng Đà Nẵng, Dung Quất-Quảng Ngãi và 3 địa điểm do DN kinh doanh cảng bố trí: Móng Cái-Quảng Ninh, Sân bay Nội Bài-Hà Nội và Tân Thanh-Lạng Sơn. Hiện nay các đơn vị KTCN không cử người thường trực tại các địa điểm này, do lượng tờ khai KTCN ít hoặc không phát sinh do hàng hóa đã chuyển sang sau thông quan hoặc các đơn vị có lượng tờ khai KTCN nhiều như đơn vị kiểm dịch nhưng các đơn vị này có trụ sở ngay cạnh cửa khẩu hoặc cạnh địa điểm KTCNTT.

Chẳng hạn, địa điểm KTCNTT tại cảng Đà Nẵng do Chi cục Hải quan cửa khẩu cảng Đà Nẵng bố trí, tại đây có 5 đơn vị KTCN hoạt động tại địa điểm KTCNTT. Tổng tờ khai năm 2016-2018 làm thủ tục tại điểm điểm KTCNTT/Tổng tờ khai KTCN tại đơn vị là 862/4.744, tỉ lệ 18,1%, trong đó năm 2017-2018 không phát sinh tờ khai KTCN đăng kí tại địa điểm KTCNTT.

Địa điểm KTCNTT tại sân bay Nội Bài (Hà Nội) do DN kinh doanh kho bố trí, tại đây có 2 đơn vị KTCN làm việc tại địa điểm KTCNTT gồm Viện Kiểm nghiệm vệ sinh ATTP Quốc gia và Chi nhánh công ty VP tập đoàn Vinacontrol. Hai đơn vị kiểm dịch gồm Trạm kiểm dịch thực vật Nội Bài và Trạm kiểm dịch động vật Nội Bài có trụ sở ngay cạnh Chi cục Hải quan cửa khâu sân bay quốc tế Nội Bài nên không bố trí tại địa điểm KTCNTT mà làm việc ngay tại trụ sở đơn vị.

Những biến động từ thực tế

Theo Bộ Tài chính đến thời điểm hiện nay (nhất là từ năm 2017) thực hiện chỉ đạo quyết liệt của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, nhiều văn bản quy phạm pháp luật về KTCN đã được ban hành hoặc sẽ ban hành theo hướng cắt giảm mặt hàng phải KTCN trước thông quan, chuyển thời điểm KTCN từ trước thông quan sang sau thông quan; áp dụng quản lý rủi ro trong KTCN, đẩy mạnh xã hội hóa KTCN… Đồng thời, các bộ cũng đang tích cực thực hiện thủ tục hành chính thông qua Cơ chế một cửa quốc gia.

Mới đây, Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Kế hoạch hành động thúc đẩy Cơ chế một cửa quốc gia, Cơ chế một cửa ASEAN và cải cách KTCN tại Quyết định 1254/QĐ-TTg, trong đó yêu cầu nghiên cứu thực hiện bảo lãnh thông quan đối với hàng hóa XNK. Hiện Bộ Tài chính đang nghiên cứu xây dựng Đề án thí điểm áp dụng bảo lãnh thông quan tại Việt Nam. Nếu Đề án được thông qua sẽ được triển khai thí điểm đối với những mặt hàng hiện đang có yêu cầu về KTCN, thời gian thực hiện các thủ tục, cấp giấy phép, KTCN kéo dài trong quy trình, thủ tục thông quan hàng hóa, thuộc nhóm hàng hóa thông thường và là mặt hàng được các bộ ngành đánh giá có độ rủi ro thấp, lưu lương thông qua cửa khẩu lớn… Điều này cũng ảnh hưởng đến hoạt động của các địa điểm KTCNTT, do lượng hàng hóa thực hiện KTCN tại cửa khẩu sẽ giảm.

Trên cơ sở đánh giá những mặt được, chưa được của các địa điểm KTCN, mới đây, Bộ Tài chính đã có báo cáo Thủ tướng Chính phủ đề xuất nhiều giải pháp đối với các địa điểm KTCNTT. Bộ Tài chính cho rằng không nên tổ chức các địa điểm KTCNTT như thời gian qua. Đối với các địa điểm đã thành lập, tiếp tục duy trì đơn vị KTCN tại địa điểm KTCNTT nếu lượng tờ khai phải KTCN phát sinh nhiều; đơn vị KTCN có nhu cầu được tiếp tục làm việc tại địa điểm KTCNTTT; đơn vị bố trí địa điểm KTCNTT tiếp tục bố trí được địa điểm để các đơn vị KTCN làm việc.

Giải thể địa điểm KTCNTT hoặc đồng ý cho đơn vị KTCN dừng không làm việc tại địa điểm KTCNTT nếu lượng tờ khai phải KTCN của từng đơn vị KTCN phát sinh thấp; đơn vị KTCN có trụ sở gần địa điểm KTCNTT; đơn vị KTCN có đề nghị không cử cán bộ đến làm việc tại địa điểm KTCNTT; thủ tục KTCN đã được thực hiện thông qua Cổng thông tin điện tử.

Cụ thể, đối với 6 địa điểm KTCNTT thời gian qua hoạt động không hiệu quả và các đơn vị KTCN kiến nghị xin rút hoạt động khỏi địa điểm KTCNTT do số lượng tờ khai KTCN đăng ký làm thủ tục thấp, Bộ Tài chính đề nghị giao đơn vị chỉ đạo các đơn vị Hải quan thông báo cho các đơn vị liên quan dừng hoạt động, bàn giao trang thiết bị. Đối với 4 địa điểm KTCNTT đang hoạt động, các đơn vị KTCN kiến nghị tiếp tục duy trì, Bộ Tài chính đề nghị Thủ tướng Chính phủ giao đơn vị chỉ đạo các đơn vị liên quan làm việc với các đơn vị kinh doanh kho, cảng và đơn vị KTCN có nhu cầu làm việc để thống nhất cách thức hoạt động.

Nguồn:baohaiquan

Nhiều giải pháp cải cách kiểm tra chuyên ngành đã có hiệu quả

(HQ Online)-Với sự quan tâm, chỉ đạo quyết liệt của Chính phủ, Thủ tướng Chính và sự chủ động, vào cuộc mạnh mẽ của các bộ, ngành, năm 2017 và đầu năm 2018, công tác kiểm tra chuyên ngành (KTCN) đối với hàng hóa XNK có nhiều chuyển biến rõ rệt, nhiều văn bản được sửa đổi, bổ sung, ban hành mới đã đáp ứng được yêu cầu tại Quyết định 2026/QĐ-TTg và Nghị quyết 19-2017/NQ-CP.

Chính sách dần sửa đổi, hoàn thiện



Tại Quyết định 2026/QĐ-TTg ngày 17/11/2015, Thủ tướng Chính phủ giao 13 Bộ, ngành sửa đổi 87 văn bản quy phạm pháp luật về quản lý và KTCN. Theo rà soát của Tổng cục Hải quan (Bộ Tài chính), đến tháng 9/2018, các Bộ, ngành đã sửa đổi, bổ sung 82/87 văn bản (chiếm 94%), trong đó có 9 Bộ đã hoàn thành là: Bộ Công Thương, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Lao động- Thương binh và Xã hội, Bộ Thông tin và Truyền thông, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Bộ Xây dựng, Bộ Y tế, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.

Nhiều văn bản được sửa đổi, ban hành mới theo hướng tạo thuận lợi cho DN, cắt giảm danh mục hàng hóa phải KTCN, thay đổi phương thức kiểm tra, áp dụng quản lý rủi ro trong kiểm tra, nhiều mặt hàng đã được chuyển thời điểm kiểm tra từ giai đoạn trước thông quan sang sau thông quan, tăng đối tượng được miễn kiểm tra, minh bạch hóa danh mục hàng hóa kèm mã số HS, bãi bỏ những quy định không phù hợp.

Một số văn bản nổi bật như: Thông tư số 07/2017/TT-BKHCN ngày 16/6/2017 của Bộ Khoa học và Công nghệ đã cắt giảm hơn 90% mặt hàng phải kiểm tra chất lượng trước khi thông quan; Quyết định số 37/2017/QĐ-TTg bãi bỏ Quyết định 50/2006/QĐ-TTg về việc kiểm tra chất lượng hàng hóa; Thông tư số 23/2016/TT-BCT ngày 12/10/2016 bãi bỏ Thông tư số 37/2015/TT-BCT ngày 30/10/2015 của Bộ Công Thương quy định về mức giới hạn và việc kiểm tra hàm lượng formaldehyt và amin thơm chuyển hóa từ thuốc nhuộm azo trong sản phẩm dệt may; Thông tư số 18/2017/TT-BCT ngày 21/9/2017 của Bộ Công Thương bãi bỏ việc kiểm tra chất lượng đối với hơn 100 mặt hàng thép NK; Nghị định số 15/2018/NĐ-CP ngày 2/2/2018 về An toàn thực phẩm cắt giảm 95% lô hàng NK phải kiểm tra nhà nước về an toàn thực phẩm…

Ứng dụng các giải pháp đổi mới quản lý

Bên cạnh đó, giải pháp điện tử hóa thủ tục KTCN cũng đang được các bộ tích cực thực hiện, đồng thời tham gia Cơ chế một cửa quốc gia. Đến nay, 11 Bộ, ngành đã triển khai 68 thủ tục trên Cơ chế một cửa quốc gia.

Đặc biệt, Bộ Tài chính đã chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành xây dựng cổng thông tin về KTCN trong Cổng Thông tin một cửa quốc gia. Trong khi chờ Cổng thông tin điện tử quốc gia hoàn thiện, tại Cục Hải quan TP Hồ Chí Minh đã chủ động xây dựng Cổng thông tin KTCN để giải quyết yêu cầu đặt ra phục vụ cho hoạt động KTCN. Chương trình này được triển khai tại Chi cục Hải quan cửa khẩu cảng Sài Gòn khu vực 1 (cảng Cát Lái) từ 15/6/2016, tại Chi cục Hải quan cửa khẩu sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất và Chi cục Hải quan Chuyển phát nhanh từ 12/7/2016, phục vụ thiết thực cho hoạt động KTCN tại các địa điểm này.

Hiện nay, việc đầu tư cơ sở vật chất, nguồn lực, xã hội hóa hoạt động KTCN cũng đang được Bộ Tài chính chú trọng triển khai. Bộ Tài chính đã nâng cấp Trung tâm Phân tích phân loại hàng hóa XNK thành Cục Kiểm định Hải quan thuộc Tổng cục Hải quan – đơn vị quản lý nhà nước thực hiện công tác phân tích, kiểm tra về tiêu chuẩn, chất lượng, kiểm dịch, tiêu chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm đối với hàng hóa xuất NK theo đề nghị của các Bộ hoặc theo phân công của Thủ tướng Chính phủ.

Cục Kiểm định đã được tăng cường năng lực, cơ sở vật chất, chuyên sâu trong lĩnh vực kiểm tra chất lượng, kiểm tra vệ sinh an toàn thực phẩm và sẵn sàng thực hiện nhiệm vụ được giao. Hiện tại, Cục Kiểm định hải quan có 6 Chi cục Kiểm định với các phòng thí nghiệm hiện đại đặt tại các khu vực trọng điểm về hàng hóa xuất NK, trang bị 4 trạm kiểm định di động (xe mobile lab) sẵn sàng áp sát cửa khẩu, tác nghiệp ngay tại hiện trường và cho các kết quả phân tích chính xác. Hiện nay, Tổng cục Hải quan đang hoàn thiện đề án trình Thủ tướng Chính phủ cho phép cơ quan Hải quan tham gia thí điểm thực hiện KTCN theo hình thức phối hợp, thắt chặt công tác quản lý chuyên ngành.

Trong khi đó, ở các bộ, giải pháp xã hội hóa hoạt động KTCN đang từng bước được áp dụng. Hiện nay, một số bộ quản lý chuyên ngành đã ủy quyền/chỉ định nhiều cơ quan, tổ chức được chỉ định/ủy quyền thực hiện công tác KTCN đối với hàng hóa xuất NK.

Chẳng hạn Nghị định 108/2017/NĐ-CP ngày 20/9/2017 của Chính phủ quy định Cơ quan kiểm tra nhà nước về chất lượng phân bón NK là Cục Bảo vệ thực vật thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn. Cục Bảo vệ thực vật đã ủy quyền cho 8 đơn vị thực hiện kiểm tra chất lượng phân bón NK.

Bộ Công Thương đã chỉ định 11 cơ quan thực hiện kiểm tra nhà nước về an toàn thực phẩm đối với thực phẩm NK thuộc phạm vi quản lý của Bộ Công Thương.

Nghị định 36/2016/NĐ-CP ngày 20/9/2017 của Chính phủ về quản lý trang thiết bị y tế quy định việc phân loại trang thiết bị y tế phải do tổ chức đủ điều kiện theo quy định tại Điều 7 Nghị định này thực hiện. Các đơn vị đối chiếu nếu đáp ứng đủ điều kiện sẽ đề nghị Bộ Y tế công nhận để thực hiện phân loại trang thiết bị y tế theo quy định tại Nghị định 36/2016/NĐ-CP.

Hạn chế vẫn còn

Dù có nhiều bước chuyển biến trong công tác quản lý, KTCN, nhưng vấn đề tồn tại trong hoạt động này vẫn còn khá lớn. Số lượng hàng hóa phải KTCN còn chiếm tỷ trọng lớn (năm 2017, số tờ khai (lô hàng hóa) NK thuộc diện quản lý và KTCN so với tổng số lô hàng NK làm thủ tục hải quan tại các cửa khẩu chiếm 19,2%).

Văn bản quy phạm pháp luật quy định về quản lý và KTCN nhiều, phạm vi quản lý và kiểm tra rộng, nhiều mặt hàng chưa có mã số HS, chưa có đầy đủ tiêu chuẩn, quy chuẩn để thực hiện việc kiểm tra; còn quy định chồng chéo một hàng hóa phải thực hiện cùng lúc nhiều thủ tục, chịu nhiều hình thức quản lý, kiểm tra chuyên ngành do cùng một Bộ hoặc nhiều Bộ quy định; việc sửa đổi các văn bản quy phạm pháp luật trong quản lý và KTCN đối với hàng hóa XNK còn chậm.

KTCN thực hiện chủ yếu bằng phương thức thủ công, chưa áp dụng rộng rãi phương pháp quản lý rủi ro; Chưa áp dụng việc công nhận kết quả kiểm tra; Chưa đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong việc tiếp nhận xử lý hồ sơ, trao đổi dữ liệu về KTCN; Chưa xây dựng cơ sở dữ liệu phân tích thông tin, đánh giá mức độ rủi ro của DN XNK hàng hóa.

Nguồn lực (bao gồm nguồn nhân lực, tài chính, trang thiết bị máy móc, phương tiện làm việc) thực hiện nhiệm vụ KTCN đối với hàng hóa XNK tại cửa khẩu còn thiếu và còn yếu; Chưa đẩy mạnh xã hội hóa trong hoạt động KTCN.

Một số Bộ đã ban hành văn bản bãi bỏ danh mục hoặc chuyển thời điểm kiểm tra mặt hàng thuộc quản lý từ giai đoạn kiểm tra trước thông quan sang giai đoạn sau thông quan song vẫn quy định DN phải nộp chứng từ cho cơ quan hải quan để thông quan hàng hóa.

Để giải quyết những bất cập, Bộ Tài chính cho biết sẽ tiếp tục tích cực chủ động, phối hợp với các bộ, ngành triển khai cắt giảm và đơn giản hóa Danh mục hàng hóa phải KTCN; xây dựng, hoàn thiện văn bản pháp luật về quản lý chuyên ngành và KTCN; cải cách toàn diện hoạt động KTCN đối với hàng hóa XNK theo hướng loại bỏ những chồng chéo, quy định cụ thể đối tượng miễn KTCN, ban hành đầy đủ tiêu chuẩn, quy chuẩn…; triển khai cơ chế bảo lãnh thông quan.

Nguồn:baohaiquan

Doanh nghiệp khổ vì kiểu kiểm tra chuyên ngành “dàn hàng ngang”

(HQ Online)- Hiện tại các sản phẩm thực phẩm chứa sản phẩm có nguồn gốc từ động vật NK vào Việt Nam, mặc dù đã có giấy chứng nhận y tế của nước XK đều phải kiểm dịch 100% thì mới được thông quan theo các Thông tư 25/2016 và Thông tư số 24/2017 của Bộ NNPTNT, bất kể động vật tươi sống hay đã qua chế biến, hay chỉ chứa một thành phần có nguồn gốc động vật như đạm sữa, đường lactose… Đây là một trong những phản ánh của DN về kiểm tra chuyên ngành trong lĩnh vực nông nghiệp. 

Sản phẩm có vài giọt sữa cũng phải kiểm tra

Tại Hội thảo “Rà soát quy định về điều kiện kinh doanh, kiểm tra chuyên ngành trong lĩnh vực nông nghiệp và phát triển nông thôn: Vấn đề kiểm dịch động vật, sản phẩm động vật và những khuyến nghị chính sách” do Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương tổ chức ngày 1/11, đại diện Cục Thú y (Bộ NN-PTNT) đã thông tin những điểm mới trong các dự thảo sửa đổi các thông tư liên quan lĩnh vực này.

Theo đó, Dự thảo sửa đổi Thông tư 25/2016/TT- BNNPTNT quy định về kiểm dịch động vật, sản phẩm động vật trên cạn, Dự thảo sửa đổi thông tư 26/2016/TT-BNTPTNT quy định về kiểm dịch động vật, sản phẩm động vật thủy sản có nhiều sửa đổi bổ sung đột phá.

Cụ thể như: thực hiện thủ tục kiểm dịch qua Cổng thông tin một cửa quốc gia; miễn giấy chứng nhận kiểm dịch của nước XK và miễn kiểm tra đối với các hàng mẫu NK có trọng lượng dưới 50 kg; việc kiểm dịch được thực hiện tại cửa khẩu hoặc kho hàng đối với sản phẩm động vật có nguy cơ thấp và sản phẩm không phải kiểm tra AND…

Tại hội thảo, ông Nguyễn Thanh Bình, nguyên Cục trưởng Cục Giám sát quản lý (Tổng cục Hải quan) đồng tình và đánh giá cao Dự thảo sửa đổi Thông tư 25/2016/TT- BNNPTNT. Theo ông Bình, những nội dung sửa đổi này thể hiện những cải tiến lớn, những thay đổi lớn và tinh thần cầu thị của Bộ NN-PTNT.

Tuy nhiên, chuyên gia này cũng chỉ ra 3 hạn chế trong lĩnh vực kiểm dịch thú y của dự thảo này, đó là phạm vi quá rộng, thủ tục quá phức tạp, chi phí quá cao. Đơn cử, về sản phẩm động vật phải kiểm dịch, ông Bình cho rằng dự thảo đã mở rộng danh mục quá mức cần thiết.

Về thủ tục, chuyên gia này đề nghị áp dụng nguyên tắc quản lý rủi ro trong kiểm dịch. Căn cứ vào mức độ rủi ro để áp dụng phương thức, phạm vi, mức độ, địa điểm kiểm dịch. Cụ thể, nên phân thành 3 loại tương ứng 3 mức độ nguy cơ gồm: nguy cơ cao sẽ kiểm tra hồ sơ, lấy mẫu kiểm tra từng lô hàng; nguy cơ trung bình sẽ kiểm tra hồ sơ, lấy mẫu kiểm tra ngẫu nhiên và theo tần suất; nguy cơ thấp chỉ kiểm tra hồ sơ.

Chia sẻ những vướng mắc hiện tại của các DN, ông Nguyễn Hồng Uy, Tiểu ban thực phẩm dinh dưỡng Phòng Thương mại châu Âu tại Việt Nam (Eurocham) cho biết: theo các Thông tư 25/2016 và Thông tư số 24/2017 của Bộ NN-PTNT, các sản phẩm thực phẩm chứa sản phẩm có nguồn gốc từ động vật NK vào Việt Nam, mặc dù đã có giấy chứng nhận y tế của nước XK, đều phải kiểm dịch 100% thì mới được thông quan, bất kể động vật tươi sống hay đã qua chế biến, hay chỉ chứa một thành phần có nguồn gốc động vật như đạm sữa, đường lactose…

“Với quy định này, một cái bánh quy hay một gói cà phê sữa trong thành phần có chứa vài giọt sữa, hay sản phẩm dinh dưỡng y tế vốn dĩ rất an toàn vì đã qua xử lý nhiệt và chỉ chứa một lượng nhỏ đạm chiết suất từ sữa (casein) vẫn phải kiểm dịch động vật”, đại diện Eurocham nói.

Việc kiểm tra “dàn hàng ngang” 100% không dựa theo nguyên tắc quản lý rủi ro và thông lệ quốc tế đang gây ra nhiều bất cập, vướng mắc cho cả cơ quan quản lý và cộng đồng DN.

Đại diện Amcham cũng cho biết, việc kiểm tra không dựa vào “mối nguy”, 100% lô hàng sữa và sản phẩm sữa NK phải kiểm dịch bất luận nhập từ đâu, đã được kiểm tra bởi nước XK và cấp chứng nhận y tế an toàn cho người sử dụng.

Thời gian kiểm dịch kéo dài, lãng phí

Cho rằng Dự thảo Thông tư sửa đổi Thông tư 25/2016/TT-BNNPTNT đã có một tiến bộ là quản lý theo rủi ro khi chia ra các mặt hàng nguy cơ cao và nguy cơ thấp để có tần suất kiểm tra khác nhau, song đại diện EuroCham cho rằng, cần làm rõ danh mục sản phẩm nguy cơ cao và nguy cơ thấp.

Đơn cử, trong dự thảo, sữa tươi nguyên liệu được xếp vào nhóm nguy cơ cao nhưng lại chưa thấy có sữa bột nguyên liệu, hay “sữa đã qua chế biến” được xếp vào nhóm nguy cơ thấp nhưng không rõ là thuộc mã HS nào.

Hay việc kiểm tra 1 trong 5 lô với nhóm có nguy cơ thấp là một bước tiến về quản lý rủi ro, tuy nhiên nên cải tiến hơn nữa vì chưa có sự khác biệt giữa vùng có cảnh báo dịch và vùng không có cảnh báo, cũng như với những mặt hàng 1-2 năm mới nhập một lô thì hầu như không bị kiểm tra.

“Thay vì 5 lô kiểm tra 1 lô, nên kiểm tra ngẫu nhiên mỗi năm 1 lô, còn các lô khác kiểm tra hồ sơ là đủ (có giấy chứng nhận y tế của nước XK). Nếu phát hiện mẫu không đạt, hay vùng đang có cảnh báo dịch bệnh thì chuyển sang kiểm tra tất cả các lô, sau 1 năm thấy tất cả các lô đều đạt hay đã có thông báo hết dịch thì lại cho phép giảm kiểm tra như trước”, ông Nguyễn Hồng Uy nói.

Tại hội thảo, đại diện Amcham cũng phản ánh tình trạng thời gian chờ kiểm dịch kéo dài, lãng phí hàng trăm tỉ đồng và ảnh hưởng tới chất lượng sản phẩm, đặc biệt các mặt hàng có hạn dùng ngắn như sữa chua, sữa thanh trùng, kem…

Quy trình kiểm tra cũng tốn kém, bởi lấy 5 mẫu để kiểm tra thì giá tiền kiểm nghiệm đội lên 5 lần. Thời hạn chứng nhận kiểm dịch cũng bất cập khi chỉ có giá trị trong 2 tháng

Đại diện Amcham kiến nghị cần làm rõ khái niệm “sản phẩm sữa” tránh cho việc áp nhầm sản phẩm cà phê, bánh kẹo có một chút sữa cũng bị coi là sản phẩm sữa. Đồng thời chỉ thực hiện kiểm dịch đối với các sản phẩm tươi sống hoặc sơ chế. Các sản phẩm sữa đã có chứng nhận y tế cấp bởi cơ quan có thẩm quyền của nước XK xác nhận an toàn cho người dùng cần được miễn kiểm dịch.

Nguồn:baohaiquan

Cắt giảm kiểm tra chuyên ngành chưa có nhiều chuyển biến

(HQ Online)- Cải cách các quy định về quản lý, kiểm tra chuyên ngành mới chỉ đạt kết quả bước đầu ở một số Bộ trong một số lĩnh vực như Y tế, Xây dựng, Tài nguyên và Môi trường, song vẫn còn quá ít so với yêu cầu, và mức độ vào cuộc của các Bộ vẫn còn khác biệt.

Đây là một trong những nội dung của báo cáo của Bộ Kế hoạch và Đầu tư về tình hình thực hiện Nghị quyết số 19 của Chính phủ về tiếp tục thực hiện những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.

Theo đó, Nghị quyết 19 yêu cầu 12 Bộ báo cáo tình hình thực hiện các nhiệm vụ về cải cách hoạt động quản lý, kiểm tra chuyên ngành, trong đó có nội dung cắt giảm 50% danh mục mặt hàng kiểm tra chuyên ngành. Tuy nhiên, trong quý III, chỉ có 3 Bộ (gồm Tài nguyên và Môi trường, Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Giao thông vận tải) báo cáo về nội dung này.

Theo Bộ KH&ĐT, cải cách các quy định về quản lý, kiểm tra chuyên ngành mới chỉ đạt kết quả bước đầu ở một số Bộ trong một số lĩnh vực như Y tế, Xây dựng, Tài nguyên và Môi trường, song vẫn còn quá ít so với yêu cầu, và mức độ vào cuộc của các Bộ vẫn còn khác biệt.

Cụ thể, với Bộ Y tế, với Nghị định 15/2018/NĐ-CP ngày 2/2/2018 về quản lý an toàn thực phẩm (ATTP) thay thế Nghị định 38/2012/NĐ-CP đã giảm 95% lô hàng phải kiểm tra ATTP (kiểm tra chặt tối đa 2%; kiểm tra xác suất tối đa 5%). Tuy nhiên, Bộ KH&ĐT chưa có thông tin cập nhật về đề xuất cắt giảm danh mục các mặt hàng khác thuộc trách nhiệm quản lý của Bộ Y tế.

Với việc ban hành Thông tư 03/2018/TT-BTNMT ngày 14/8/2018 sửa đổi, bãi bỏ các quy định thủ tục hành chính liên quan đến kiểm tra chuyên ngành, Bộ Tài nguyên và Môi trường bãi bỏ và đơn giản hóa 38/74 sản phẩm, hàng hóa phải kiểm tra chuyên ngành; bãi bỏ 6 thủ tục hành chính, đơn giản hóa 11 thủ tục.

Báo cáo cũng cho biết, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã có động thái tích cực trong việc đề xuất các giải pháp thống nhất một đầu mối kiểm tra chuyên ngành đối với sản phẩm, hàng hóa chịu sự kiểm tra của nhiều đơn vị thuộc Bộ hoặc của nhiều Bộ.

Tuy nhiên, việc thực hiện nhiệm vụ cắt giảm 50% danh mục mặt hàng kiểm tra chuyên ngành của Bộ chưa đạt yêu cầu. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn có 7.698 dòng hàng, và Bộ xác định danh mục hàng hóa kiểm tra chuyên ngành trước thông quan là 1.675 dòng hàng. Theo báo cáo của Bộ thì tỷ lệ cắt giảm 78,2%. Tuy vậy, con số này chưa chính xác; 78,2% không phải là tỷ lệ cắt giảm mà là chuyển từ giai đoạn trước thông quan sang giai đoạn sau thông quan.

“Tóm lại, những kết quả về rà soát, cắt giảm danh mục hàng hoá kiểm tra chuyên ngành nêu trên chưa có nhiều chuyển biến trong quý III/2018. Trong khi đó, hầu hết các Bộ đang thực hiện ở giai đoạn đề xuất phương án, chưa hiện thực hóa bằng việc xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Do vậy, kết quả còn thấp so với yêu cầu của Chính phủ.

Những vướng mắc trong quản lý, kiểm tra chuyên ngành như danh mục mặt hàng nhiều, quản lý chồng chéo, quản lý không theo nguyên tắc rủi ro, chi phí kiểm tra chuyên ngành lớn… vẫn đang gây nhiều trở ngại cho hoạt động sản xuất, kinh doanh của DN.

Nguồn:baohaiquan

Một số bộ đã áp dụng xã hội hóa hoạt động kiểm tra chuyên ngành

(HQ Online)-Xã hội hóa hoạt động kiểm tra chuyên ngành (KTCN) đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu (XK, NK) là một giải pháp nhằm đổi mới phương pháp KTCN đã được nêu tại Quyết định 2026/QĐ-TTg năm 2016 của Thủ tướng Chính phủ. Đến nay, một số bộ quản lý chuyên ngành đã ủy quyền/chỉ định nhiều cơ quan, tổ chức thực hiện công tác KTCN.

Chẳng hạn tại Nghị định 108/2017/NĐ-CP của Chính phủ quy định cơ quan kiểm tra nhà nước về chất lượng phân bón NK là Cục Bảo vệ thực vật thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn. Cục Bảo vệ thực vật đã ủy quyền cho 8 đơn vị thực hiện kiểm tra chất lượng phân bón NK.

Hay tại Nghị định 36/2016/NĐ-CP của Chính phủ về quản lý trang thiết bị y tế quy định việc phân loại trang thiết bị y tế phải do tổ chức đủ điều kiện theo quy định tại Điều 7 Nghị định. Các đơn vị nếu đáp ứng đủ điều kiện sẽ đề nghị Bộ Y tế công nhận để thực hiện phân loại trang thiết bị y tế.

Bộ Công Thương đã chỉ định 11 cơ quan thực hiện kiểm tra nhà nước về an toàn thực phẩm đối với thực phẩm NK thuộc phạm vi quản lý của Bộ Công Thương.

Bên cạnh đó, nhằm nâng cao hiệu quả công tác KTCN, việc điện tử hóa thủ tục KTCN cũng đang được các bộ, ngành tích cực thực hiện thông quan việc triển khai Cơ chế một cửa quốc gia. Đến nay 11 bộ, ngành đã triển khai 68 thủ tục trên Cơ chế một cửa quốc gia.

Bộ Tài chính cũng đã chủ trì phối hợp với các bộ, ngành xây dựng cổng thông tin về KTCN trong Cổng thông tin một cửa quốc gia. Trong khi chờ Cổng thông tin điện tử quốc gia hoàn thiện, tại Cục Hải quan TP. Hồ Chí Minh đã chủ động xây dựng Công thông tin KTCN để giải quyết yêu cầu đặt ra phục vụ cho hoạt động KTCN.

Chương trình này được triển khai tại Chi cục Hải quan cửa khẩu cảng Sài Gòn khu vực 1 từ 15/6/2016, tại Chi cục Hải quan cửa khẩu sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất và Chi cục Hải quan Chuyển phát nhanh từ 12/7/2016.

Ngoài ra, một giải pháp mới nhằm đổi mới hoạt động KTCN đang được Bộ Tài chính và các bộ ngành nghiên cứu triển khai là cơ chế bảo lãnh thông quan.

Năm 2019, Bộ Tài chính sẽ chủ trì phối hợp với bộ, ngành liên quan xây dựng, trình Chính phủ, trình Ủy ban thường vụ Quốc hội phê duyệt Đề án thí điểm thực hiện cơ chế bảo lãnh thông quan đối với hàng hóa XNK và tử chức triển khai Đề án ngay sau khi được phê duyệt.

Năm 2020 trở đi triển khai thực hiện chính thức Đề án bảo lãnh thông quan đối với hàng hóa XNK.

Theo thống kê của Tổng cục Hải quan, hiện nay có khoảng 356 văn bản pháp luật quy định về chính sách quản lý và KTCN đối với hàng hóa XNK gồm: 39 Luật, 77 nghị định của Chính phủ và Quyết định/Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ, 240 Thông tư/Quyết định của bộ, ngành.

Dù đã thực hiện nhiều giải pháp đơn giản hóa, cắt giảm thủ tục quản lý, KTCN, tuy nhiên số lượng hàng hóa phải KTCN còn chiếm tỉ trọng lớn so với số lô hàng NK làm thủ tục hải quan tại các cửa khẩu. Thống kê năm 2017 là 19,2%.

Nguồn:baohaiquan

Bộ Nông nghiệp với đề xuất bỏ 152 nhóm hàng phải kiểm tra chuyên ngành

(HQ Online)- Số lượng nhóm hàng được Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN&PTNT) đề xuất bãi bỏ chiếm gần 61% tổng số nhóm hàng thuộc diện kiểm tra chuyên ngành (KTCN) của Bộ này.

Gần 7.700 dòng hàng phải KTCN

Theo Tổ công tác của Thủ tướng Chính phủ, Bộ NN&PTNT có 7.698 dòng hàng thuộc 251 nhóm sản phẩm hàng hóa phải kiểm tra chuyên ngành, bao gồm: Hàng hóa thuộc diện kiểm dịch 53 nhóm sản phẩm; Hàng hóa thuộc diện kiểm tra chất lượng 104 nhóm sản phẩm; Hàng hóa phải kiểm tra an toàn thực phẩm 94 nhóm sản phẩm.

Mặt khác, theo yêu cầu tại Nghị quyết 01/NQ-CP của Chính phủ, Bộ cần cắt giảm 125 nhóm sản phẩm hàng hóa. Theo Bộ NN&PTNT, sau khi rà soát các văn bản quy phạm pháp luật, hiện nhóm mặt hàng phải kiểm tra chuyên ngành thuộc phạm vi quản lý của Bộ còn 118 nhóm sản phẩm hàng hóa. Tất cả hàng hóa kiểm tra chuyên ngành thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ đều có mã HS (với tổng số 7.698 dòng hàng, quy định tại Thông tư 24/2017/TT-BNNPTNT).

Để tạo thuận lợi cho cộng đồng DN, Bộ NN&PTNT đề xuất loại 152 nhóm hàng hóa, sản phẩm khỏi Danh mục hàng hóa KTCN thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ (chiếm 60,6% tổng số nhóm hàng phải KTCN hiện nay).

Trong đó, nhóm kiểm dịch, lược bỏ 37/53 nhóm; nhóm kiểm tra chất lượng, lược bỏ (bỏ không kiểm tra hoặc gộp vào nhóm hàng khác) 87/104 nhóm; nhóm kiểm tra an toàn thực phẩm, lược bỏ (chủ yếu là gộp vào nhóm mặt hàng khác hoặc trùng mặt hàng kiểm tra) 44/94 nhóm.

Về rà soát, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính KTCN, Bộ NN&PTNT cho hay, Bộ hiện có 64 thủ tục hành chính (TTHC) liên quan tới KTCN. Cụ thể, lĩnh vực kiểm dịch có 23 thủ tục; kiểm tra chất lượng hàng hóa có 30 thủ tục; kiểm tra an toàn thực phẩm có 11 thủ tục.

Sau khi thực hiện rà soát, Bộ này đề xuất cắt giảm, đơn giản hóa 35 TTHC (đạt 54,6%).

Các TTHC được Bộ đề xuất cắt giảm, đơn giản hóa tập trung vào đơn giản hóa, lược bỏ một số giấy tờ trong hồ sơ yêu cầu thực hiện; đơn giản hóa trình tự thực hiện; giảm thời gian giải quyết thủ tục hành chính; thực hiện gộp một số TTHC có liên quan chặt chẽ trong chuỗi trình tự thực hiện của cơ quan nhà nước nhằm giảm thời gian thực hiện; thực hiện quản lý hàng hóa theo phương thức quản lý rủi ro; giảm tần suất lấy mẫu lô hàng…

Ban hành 140 quy chuẩn, tiêu chuẩn

Để cải cách toàn diện công tác quản lý, KTCN theo chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ NN&PTNT đặt mục tiêu, cải thiện môi trường kinh doanh, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia; cải cách toàn diện quy định về quản lý đối với hàng hóa XNK chuyên ngành của lĩnh vực Nông nghiệp và phát triển nông thôn.

Trong đó, tiếp tục rà soát, đánh giá, đề xuất bãi bỏ 50% số điều kiện kinh doanh đang gây cản trở, khó khăn cho hoạt động đầu tư kinh doanh của DN, thúc đẩy đầu tư, nâng cao năng suất và sức cạnh tranh của nền kinh tế.

Thay đổi căn bản phương thức quản lý, KTCN, thực hiện trên cơ sở quản lý rủi ro; dựa trên mức độ tuân thủ của DN; tăng cường việc công nhận lẫn nhau về kết quả đánh giá sự phù hợp; đẩy mạnh việc xã hội hóa công tác khảo nghiệm, kiểm nghiệm các mặt hàng phải KTCN; điện tử hoá thủ tục quản lý, kiểm tra chuyên ngành.

Đồng thời cắt giảm, đơn giản hóa 50% danh mục hàng hóa, sản phẩm và thủ tục KTCN; khắc phục chồng chéo KTCN đối với mặt hàng chịu sự kiểm tra chuyên ngành của nhiều cơ quan.

Các nhiệm vụ, giải pháp được Bộ này đặt ra là hoàn thiện cơ chế chính sách, pháp luật như: Xây dựng và trình cơ quan có thẩm quyền ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về điều kiện đầu tư kinh doanh (Luật Chăn nuôi, Luật Trồng trọt, Nghị định sửa đổi một số Nghị định về điều kiện đầu tư kinh doanh trong lĩnh vực nông nghiệp); sửa đổi, bổ sung 6 thông tư của Bộ liên quan tới KTCN.

Đáng chú ý, Bộ NN&PTNT đặt mục tiêu xây dựng, ban hành 13 quy chuẩn kỹ thuật quốc gia và 127 tiêu chuẩn Việt Nam liên quan đến KTCN.

Cùng với đó là đề xuất cụ thể cách thức quản lý, KTCN đối với danh mục hàng hóa phải đang có sự chồng chéo giữa các đơn vị thuộc Bộ. Đồng thời, nhân rộng mô hình của Trung tâm chẩn đoán, xét nghiệm bệnh động vật thuộc Cơ quan Thú y vùng VI tại các cơ quan Kiểm dịch thú y trên cả nước để tạo điều kiện thuận lợi cho DN và nâng cao hiệu quả công tác KTCN.

Về thưc hiện Cơ chế một cửa quốc gia (NSW), Bộ NN&PTNT đặt mục tiêu: Các thủ tục hành chính liên quan đến hàng hóa XNK, tạm nhập tái xuất, tạm xuất tái nhập và quá cảnh thuộc lĩnh vực quản lý nhà nước chuyên ngành của Bộ được thực hiện thông qua NSW dưới hình thức dịch vụ công trực tuyến mức độ 4.

Triển khai NSW đảm bảo mục tiêu yêu cầu và lộ trình Kế hoạch tổng thể, sẵn sàng về mặt kỹ thuật để trao đổi thông tin với các đối tác thương mại trong và ngoài ASEAN theo các hiệp định, thỏa thuận và cam kết quốc tế.

Hoàn thành triển khai mở rộng trên phạm vi toàn quốc đối với 9 TTHC đã triển khai giai đoạn thí điểm, và mở rộng đối với 24 TTHC mới.

Nguồn:baohaiquan

Kế hoạch thúc đẩy Cơ chế một cửa, kiểm tra chuyên ngành của Bộ Công Thương

(HQ Online)- Sớm hoàn thành kết các thủ tục hành chính vào Cơ chế một cửa quốc gia (NSW); giảm danh mục hàng hóa kiểm tra chuyên ngành (KTCN); đẩy mạnh cải cách hành chính tạo thuận lợi thương mại là những mục tiêu được Bộ Công Thương đặt ra nhằm hiện thực hóa các chủ trương, mục tiêu của của Chính phủ.

Năm 2020 hoàn thành kết nối NSW

Theo Bộ Công Thương, từ nay đến năm 2020, toàn bộ các thủ tục hành chính liên quan đến công tác quản lý nhà nước trong lĩnh vực XNK (thuộc lĩnh vực quản lý của Bộ) sẽ kết nối NSW.

Đến năm 2020, hoàn thành triển khai mở rộng ra phạm vi toàn quốc các thủ tục hành chính liên quan đến công tác quản lý nhà nước trong lĩnh vực XNK hàng hóa của Bộ Công Thương thông qua NSW.

Đồng thời, đảm bảo các chứng từ (giấy phép điện tử, giấy chứng nhận điện tử và các văn bản điện tử tương đương) cấp thông qua NSW được sử dụng khi thực hiện các thủ tục hành chính khác có liên quan.

Đại diện Bộ Công Thương cho hay, để thực hiện các mục tiêu trên, đơn vị sẽ tập trung thực hiện tốt các nhóm giải pháp: Xây dựng lộ trình cụ thể trong kế hoạch triển khai của Bộ Công Thương sau khi kế hoạch hành đồng của Chính phủ được Thủ tướng Chính phủ ký ban hành.

Bên cạnh đó, đẩy mạnh đưa các thủ tục hành chính lên Cổng Dịch vụ công trực tuyến của bộ; đưa các thủ tục hành chính liên quan đến XNK trên Cổng Dịch vụ công trực tuyến kết nối với NSW; phối hợp với Bộ Tài chính đưa một số thủ tục hành chính đã kết nối với NSW sang kết nối với Cơ chế một cửa ASEAN.

Mặt khác, Bộ cũng chủ động đàm phán với một số nước, vùng lãnh thổ để triển khai các cam kết quốc tế liên quan đến thủ tục hành chính về XNK theo hình thức điện tử, trực tuyến.

Giải pháp khác là rà soát, sửa đổi các văn bản quy phạm pháp luật nhằm hỗ trợ cho các dịch vụ công trực tuyến được triển khai thuận lợi; nghiên cứu biện pháp khuyến khích DN nhanh chóng áp dụng, sử dụng dịch vụ công trực tuyến; phối hợp với Bộ Tài chính đẩy mạnh tuyên truyền, đào tạo về NSW, Cơ chế một cửa ASEAN.

Xử lý sự chồng chéo về quản lý

Đối với nhiệm vụ cải cách công tác KTCN, Bộ Công Thương đặt mục tiêu bảo đảm cắt giảm, đơn giản hóa 50% danh mục hàng hóa, sản phẩm, thủ tục KTCN của Bộ Công Thương.

Nâng cao hiệu lực, hiệu quả của hoạt động KTCN nhằm đảm bảo quản lý chặt chẽ, đúng quy định pháp luật, phù hợp với thông lệ quốc tế đối với hàng hoá XNK.

Tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động thương mại nói chung và hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa tại cửa khẩu nói riêng theo hướng đơn giản hóa thủ tục, nhanh chóng, thuận tiện, giảm chi phí cho DN và ngân sách nhà nước nhưng vẫn đảm bảo hợp lý và phù hợp với cam kết quốc tế bảo vệ các ngành sản xuất công nghiệp trong nước.

Theo đại diện Bộ Công Thương, thời gian tới, Bộ sẽ ban hành Thông tư quy định danh mục mã HS hàng hóa phải KTCN của Bộ Công Thương và kế hoạch rà soát hàng năm phù hợp với danh mục mã HS hàng hóa XNK của Bộ Tài chính.

Ban hành kế hoạch sửa đổi, bổ sung hệ thống văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến hoạt động KTCN của Bộ Công Thương trong giai đoạn đến năm 2020.

Bộ sẽ phê duyệt đề án rà soát, xây dựng hệ thống tiêu chuẩn kỹ thuật, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia của Bộ Công Thương trong giai đoạn đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030, trong đó ưu tiên đáp ứng tiến độ cải cách thủ tục KTCN trong giai đoạn đến năm 2020.

Đáng chú ý, Bộ Công Thương kiến nghị cấp có thẩm quyền xem xét phương án, giải pháp xử lý đối với các nhóm hàng hóa có sự trùng lặp về thủ tục KTCN giữa quy định của Chính phủ giao Bộ Công Thương quản lý về kiểm tra an toàn thực phẩm, kiểm tra chất lượng hàng hóa nhóm 2 với quy định của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về kiểm dịch động vật, kiểm dịch thực vật, quy định của Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội về kiểm tra các loại máy, thiết bị có yêu cầu nghiệm ngặt về an toàn lao động.

Ngoài ra, Bộ Công Thương ban hành thông tư công bố mã HS cho các sản phẩm, hàng hóa có thủ tục KTCN về an toàn thực phẩm; nhóm sản phẩm khăn giấy, giấy vệ sinh, giấy tissue phải kiểm tra chất lượng theo quy chuẩn kỹ thuật; phê duyệt Đề án xây dựng hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia của Bộ Công Thương trong giai đoạn đến năm 2020, tầm nhìn 2030, trong đó ưu tiên tập trung nguồn lực hoàn thiện hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia liên quan đến công tác KTCN…

Không phát sinh mới thủ tục gây cản trở cho DN

Về nội dung tạo thuận lợi thương mại, Bộ Công Thương đẩy mạnh cải cách hành chính, ứng dụng chính phủ điện tử nhằm tạo thuận lợi cho DN; đảm bảo không duy trì hoặc phát sinh mới các thủ tục hành chính gây cản trở hoạt động kinh doanh, thương mại của DN một cách bất hợp lý; duy trì xếp hạng về cải cách hành chính trong nhóm các bộ ngành từ thứ 5 trở lên.

Theo đó, Bộ Công Thương sẽ ban hành Chỉ thị của Bộ trưởng về đẩy mạnh tạo thuận lợi thương mại; thường xuyên rà soát, đánh giá tác động của các văn bản quy phạm pháp luật nhằm sửa đổi, bổ sung theo hướng tạo thuận lợi cho DN.

Đảm bảo mọi văn bản pháp luật liên quan đến thủ tục hành chính và danh mục hàng hóa khi ban hành đều kèm theo mã HS; đảm bảo mọi văn bản pháp luật trước khi ban hành phải có đánh giá tác động đối với cộng đồng DN…

Nguồn:baohaiquan

Địa điểm kiểm tra chuyên ngành tại CK Tân Thanh: Có nên dừng hoạt động?

(HQ Online)- Theo đánh giá của các cơ quan kiểm tra chuyên ngành (KTCN), hiện địa điểm KTCN tại cửa khẩu Tân Thanh (Lạng Sơn) chỉ đáp ứng là đầu mối quản lý hàng hóa thuộc diện phải quản lý chuyên ngành, mang tính thủ tục hành chính, không đáp ứng được yêu cầu giám định kiểm dịch thực vật và kiểm tra an toàn thực phẩm. Do vậy, các cơ quan KTCN cho rằng, cần chấm dứt hoạt động đối với địa điểm KTCN tập trung tại cửa khẩu Tân Thanh.

Hạn chế kéo dài

Thống kê cho thấy, từ 1/6/2017 đến 31/3/2018, tổng số tờ khai hải quan thuộc diện phải KTCN tại Cục Hải quan Lạng Sơn là 45.486 tờ khai. Trong đó, các đơn vị KTCN có mặt ở địa điểm KTCN tập trung tại cửa khẩu Tân Thanh tiếp nhận và làm thủ tục mới chỉ có 40.258 tờ khai (Trung tâm Kiểm dịch y tế quốc tế Lạng Sơn tiếp nhận và làm thủ tục cho 20.655 tờ khai; Chi cục Kiểm dịch thực vật vùng VII đã làm thủ tục cho 19.226 tờ khai; Chi cục Kiểm dịch động vật vùng Lạng Sơn làm thủ tục cho 39 tờ khai). Tại các chi cục hải quan không có địa điểm KTCN như Chi Ma, Cốc Na, Hữu Nghị cũng có tới 5.228 tờ khai thuộc diện phải KTCN.

Theo Cục Hải quan Lạng Sơn, tại Chi cục Hải quan Tân Thanh, các DN đăng ký mở tờ khai hải quan NK mặt hàng chủ yếu là hoa quả, nông sản và hàng tiêu dùng. Từ ngày địa điểm KTCN tại cửa khẩu Tân Thanh đi vào hoạt động đã tạo điều kiện thuận lợi, giảm thiểu được thời gian thông quan hàng hóa, giảm chi phí đi lại, chi phí bến bãi cho hoạt động kinh doanh XNK của DN, tuy nhiên, thời gian gần đây, địa điểm KTCN này đang rơi vào tình trạng đóng cửa bởi nhiều nguyên nhân.

Theo Chi cục Kiểm dịch động vật vùng Lạng Sơn, địa điểm KTCN tập trung có diện tích hẹp, chưa có đầy đủ trang thiết bị để kiểm tra, DN chỉ thực hiện đăng ký, việc thực hiện kiểm tra vẫn phải đưa về nội địa. Bên cạnh đó, mặt hàng phải KTCN ít, hầu hết các mặt hàng phải đưa về các địa điểm cách ly kiểm dịch trong nội địa do các cơ quan khác thuộc Bộ NN&PTNT KTCN. Đặc biệt, địa điểm KTCN tại cửa khẩu Tân Thanh có khoảng cách xa với các cửa khẩu, do vậy không thuận tiện cho các DN đăng ký và nhận kết quả KTCN bởi thực tế các Trạm Kiểm dịch vẫn làm việc tại các nhà liên hợp, trụ sở của Trạm nằm trong khu vực cửa khẩu.

Đồng quan điểm, Trung tâm kiểm dịch y tế quốc tế, Sở Y tế Lạng Sơn cho biết, ngay sau khi thành lập địa điểm KTCN tập trung tại cửa khẩu Tân Thanh (ngày 6/1/2016) đến nay việc thực hiện công tác KTCN kiểm dịch y tế tại cửa khẩu Tân Thanh có nhiều khó khăn bất cập, không còn phù hợp với yêu cầu thực tế.

Còn theo ông Vy Công Tường, Phó cục trưởng Cục Cục Hải quan Lạng Sơn, do mặt hàng phát sinh ít nên các đơn vị KTCN chưa bố trí cán bộ làm việc thường xuyên, liên tục tại địa điểm KTCN. Trong khi đó, do địa điểm KTCN tại Tân Thanh xa với cửa khẩu Chi Ma, Hữu Nghị, Cốc Nam nên không thuận tiện cho DN đăng ký và nhận kết quả.

Bên cạnh đó, quy định của Thông tư 38/2015/TT-BTC được sửa đổi, bổ sung tại Thông tư 39/2018/TT-BTC của Bộ Tài chính có điều khoản cho phép DN đưa hàng về kho bảo quản, các DN hoạt động NK các mặt hàng thuộc diện KTCN về hàm lượng formaldehyd, vệ sinh an toàn thực phẩm chủ yếu có trụ sở, địa chỉ kho hàng bảo quản tại Hà Nội, do vậy, các DN đã thực hiện đăng ký, lấy mẫu, nhận kết quả tại cơ sở KTCN tại Hà Nội.

Cục Hải quan Lạng Sơn cho biết thêm, hiện nay miền Bắc có 4 đơn vị cùng được Bộ Y tế chỉ định thực hiện kiểm tra vệ sinh an toàn thực phẩm, khách hàng được lựa chọn 1 trong 4 cơ quan kiểm tra, việc bố trí người tại Tân Thanh là rất khó khăn về hiệu quả kinh tế. Trong khi đó, việc đăng ký và trả kết quả kiểm tra đều được thực hiện qua mạng. Bộ Y tế cũng đã thực hiện kết nối với Tổng cục Hải quan qua Cổng thông tin điện tử một cửa quốc gia, DN chủ yếu đã khai báo trực tiếp qua Cổng thông tin dẫn đến lượng hồ sơ khai báo tại địa điểm KTCN tập trung tại cửa khẩu Tân Thanh là rất ít.

Đặc biệt, từ ngày 26/11/2016 Thông tư 23/2016/TT-BCT của Bộ Công Thương cho phép các mặt hàng dệt may không phải kiểm tra formaldehyd, do đó, đối với công tác của Viện Dệt may không còn phát sinh thủ tục tại cửa khẩu Tân Thanh.

Nên chấm dứt hoạt động

Theo Chi cục Kiểm dịch thực vật vùng VII, tại cửa khẩu Tân Thanh, hàng tháng chỉ phát sinh khoảng 5-7 lô hàng thuộc diện phải kiểm tra vệ sinh an toàn thực phẩm. Trong khi đó, công việc chủ yếu tại địa diểm KTCN cửa khẩu Tân Thanh chỉ thực hiện nghiệp vụ đăng ký và trả kết quả KTCN, không đáp ứng được yêu cầu giám định kiểm dịch thực vật và kiểm tra an toàn thực phẩm.

Theo bà Nguyễn Thị Hà, Chi cục trưởng Chi cục Kiểm dịch thực vật vùng VII, hiện đơn vị có 5 Trạm kiểm dịch thực vật trực thuộc có trụ sở tại các cửa khẩu, được trang bị phòng kỹ thuật giám định kiểm dịch và kiểm tra an toàn thực phẩm. Mọi giám định kiểm dịch thực vật đều phải thực hiện tại các phòng kỹ thuạt của các Trạm kiểm dịch thực vật cửa khẩu.

Trong khi đó, từ ngày 2/2/2018 thực hiện theo Nghị định 15/2015/NĐ-CP quy định một số điều của Luật An toàn thực phẩm đối với thực phẩm có nguồn gốc thực phẩm NK đều thực hiện kiểm tra thông thương, theo đó chỉ kiểm tra hồ sơ của lô hàng NK, do đó, công việc tại địa điểm KTCN ở cửa khẩu Tân Thanh giảm đáng kể và không còn hiệu quả. Từ thực tế đó, Chi cục Kiểm dịch thực vật vùng VII đề xuất chấm dứt hoạt động đối với địa điểm KTCN tại cửa khẩu Tân Thanh, bà Nguyễn Thị Hà nói.

Còn theo Chi cục Kiểm dịch động vật vùng Lạng Sơn, các cơ quan có thẩm quyền nên nghiên cứu, khảo sát, xem xét đầu tư xây dựng địa điểm KTCN mới tại một địa điểm phù hợp đảm bảo thuận lợi cho cả DN và cơ quan kiểm tra.

Đại diện Viện Kiểm nghiệm an toàn vệ sinh thực phẩm quốc gia, Bộ Y tế cho rằng, theo số liệu thống kê tại điểm KTCN ở cửa khẩu Tân Thanh cho thấy lô hàng đăng ký kiểm tra an toàn vệ sinh thực phẩm chủ yếu chuyển qua cửa khẩu Hữu Nghị. Vì vậy, để tạo thuận lợi cho DN trong việc đăng ký, đơn vị đề xuất chuyển địa điểm KTCN về cửa khẩu Hữu Nghị.

Bởi theo Viện Kiểm nghiệm an toàn vệ sinh thực phẩm quốc gia, không nên chấm dứt hoàn toàn địa điểm KTCN tập trung tại Lạng Sơn mà nên chuyển từ cửa khẩu Tân Thanh sang cửa khẩu Hữu Nghị vì số lượng đăng ký kiểm tra an toàn thực phẩm NK tại Lạng Sơn có xu hướng tăng. Bên cạnh đó, nếu chuyển địa điểm KTCN về cửa khẩu Hữu Nghị sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho DN trong việc đăng ký kiểm tra, rút ngắn thời gian thông quan, giảm chi phí, thời gian cho DN. Đặc biệt sẽ thuận lợi cho cơ quan kiểm tra đối với lô hàng thuộc diện kiểm tra chặt, cơ quan kiểm tra đến nơi lưu giữ hàng hóa của DN tại cửa khẩu được nhanh chóng…

Trao đổi với phóng viên, ông Vy Công Tường cho biết, theo quan điểm của Cục Hải quan Lạng Sơn, địa điểm KTCN tập trung tại cửa khẩu Tân Thanh hoạt động không hiệu quả, thực trạng hiện nay khu vực làm việc đã bỏ không. Do vậy, Hải quan Lạng Sơn đề xuất dừng hoạt động đối với địa điểm KTCN tại cửa khẩu Tân Thanh.

Nguồn:baohaiquan