Xây dựng bộ Hướng dẫn đầu tư ra nước ngoài cho doanh nghiệp

(HQ Online)- Việc đối mặt với những rủi ro về pháp lý, môi trường kinh doanh của các DN Việt Nam khi đầu tư ra nước ngoài sẽ phần nào được giải quyết hiệu quả khi có tổ chức đứng ra đồng hành, hỗ trợ. 

Ngày 10/1, tại Hà Nội, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), Tổ chức Oxfam Việt Nam và Trung tâm Con người và Thiên nhiên (Pan Nature) đã phối hợp tổ chức hội thảo “Đầu tư của DN Việt Nam ra nước ngoài: Các rủi ro và thách thức tuân thủ pháp luật”.

Theo thống kê của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, trong 11 tháng năm 2018, tổng vốn đầu tư ra nước ngoài của Việt Nam mới được cấp đã tăng thêm 357,5 triệu USD. Lào, Campuchia và Myanmar lần lượt xếp thứ 1,2 và 8 trong các điểm đến đầu tư kinh doanh của Việt Nam.

Tuy nhiên, theo các chuyên gia, các DN Việt Nam khi đầu tư ra nước ngoài, bên cạnh những đóng góp tích cực cho sự phát triển kinh tế xã hội của Việt Nam, các quốc gia và cộng đồng tiếp nhận đầu tư, thì các DN phải đối mặt với những rủi ro liên quan đến môi trường, xã hội do nhu cầu về quỹ đất và lực lượng lao động lớn.

Bà Babeth Ngọc Hân Lefur, Giám đốc Tổ chức Oxfam Việt Nam cho biết, số lượng dự án đầu tư vào nông nghiệp trong tiểu vùng sông Mekong tăng lên đã và đang tác động to lớn đến đời sống kinh tế, xã hội cả tích cực và tiêu cực. Theo đó, các dự án đầu tư tạo ra nhiều việc làm mới nhưng cũng khiến địa phương bị mất đi phương thức sinh kế truyền thống; điều này gây ảnh hưởng tiêu cực đến sự phát triển bền vững của cả DN và người dân.

Mặt khác, theo bà Nguyễn Thị Hải, Phó Giám đốc Công ty Cổ phần cao su Dak Lak, khi đầu tư ra nước ngoài, ngoài những khó khăn về khác biệt ngôn ngữ, văn hóa, DN còn g ạp khó khi không hiểu hết được những quy định pháp lý của nước sở tại và những quy định theo công ước quốc tế, trong khi đó việc tìm kiếm một đơn vị tư vấn, đồng hành phù hợp lại rất khó khăn.

Chính từ những nguyên nhân trên, các DN cho rằng, họ rất cần những công cụ hướng dẫn, những cầu nối để giải quyết những khó khăn, vướng mắc của DN trong quá trình đầu tư ra nước ngoài.

Với thực trạng đó, trong khuôn khổ Dự án nghiên cứu về đầu tư của DN Việt Nam tại Lào và Campuchia, VCCI, Tổ chức Oxfam Việt Nam và Trung tâm Con người và Thiên nhiên (Pan Nature) đã xây dựng một bộ Hướng dẫn tự nguyện nhằm giảm thiểu rủi ro cho DN Việt Nam đầu tư ra nước ngoài tại tiểu vùng Sông Mê Kông.

Đây là bộ hướng dẫn đầu tiên trong lĩnh vực này. Tài liệu được xây dựng dựa trên phương pháp tiếp cận từ dưới lên “bottom-up” thông qua kinh nghiệm thực tế của nhóm DN tiên phong đã được thí điểm trước đó. Ngoài ra, bộ hướng dẫn còn được tham khảo từ các nguyên tắc hướng dẫn của Liên Hiệp Quốc về kinh doanh và nhân quyền nên dù được xây dựng để sử dụng chủ yếu cho các DN đầu tư trong lĩnh vực nông nghiệp tại các nước thuộc tiểu vùng sông Mekong, nhưng vẫn có giá trị tham khảo áp dụng tại các quốc gia khác.

Ông Đậu Anh Tuấn, Trưởng ban Pháp chế, VCCI cho biết, bộ Hướng dẫn tự nguyện được xây dựng nhằm cung cấp thông tin về quy trình đầu tư ra nước ngoài với từng bước cụ thể, kèm theo những rủi ro môi trường, xã hội tiềm ẩn qua những chính sách và pháp luật liên quan. Hướng dẫn này sẽ giúp các nhà đầu tư giảm thiểu rủi ro trong hoạt động đầu tư, đồng thời cung cấp các thông tin và địa chỉ hữu ích giúp kết nối các bên nhằm tăng cường hiệu quả đầu tư.

Nguồn:baohaiquan

Làm giàu từ “kho báu” nông nghiệp

(HQ Online)- Nông nghiệp vốn là lĩnh vực được đánh giá có nhiều rủi ro và phụ thuộc lớn vào thời tiết. Thế nhưng, với nhiều DN đang hoạt động trong lĩnh vực này thì đây lại chính là kho báu vô cùng quý giá.

Đánh thức tiềm năng

Ông Nguyễn Lâm Viên, Chủ tịch HĐQT Vinamit cho rằng, lâu nay Việt Nam đã lãng quên tiềm năng to lớn của nông nghiệp bằng cách phó mặc cho phương pháp canh tác hóa học. Do đó, Vinamit đang đi theo hướng canh tác hữu cơ với mong muốn “đánh thức” kho báu nông nghiệp của Việt Nam. Cùng với việc đầu tư vùng nguyên liệu đạt chuẩn, Vinamit còn đặc biệt chú trọng đầu tư cho công nghệ sinh học, công nghệ chế biến sâu để tạo ra giá trị gia tăng cho sản phẩm. Đến nay, Vinamit đã xây dựng được một thương hiệu uy tín, xuất khẩu tới 15 quốc gia trên thế giới.

Còn theo quan điểm của ông Nguyễn Quốc Hoàng, Tổng giám đốc PAN Food, nhìn về dài hạn thì nông nghiệp và thực phẩm chính là thế mạnh cốt lõi của Việt Nam. Hiện có tới 70% người dân Việt Nam sống dựa vào nông nghiệp, nhưng thu nhập vẫn ở mức thấp là do hàm lượng chế biến còn thấp và những hạn chế về an toàn thực phẩm. Chính bởi lẽ đó nên đầu năm 2016, Tập đoàn PAN (PAN Group) đã hoàn thành việc thoái vốn khỏi lĩnh vực vệ sinh công nghiệp (PAN Services) để “toàn tâm toàn ý” với mảng nông nghiệp và thực phẩm. Theo đó, PAN Group đã tiến hành M&A những công ty hàng đầu trong lĩnh vực nông nghiệp và thực phẩm nhằm tạo ra chuỗi giá trị khép kín, mang đến các sản phẩm an toàn, chất lượng cao, truy xuất nguồn gốc.

Theo ban lãnh đạo PAN Group, trong bối cảnh ngành nông nghiệp và thực phẩm được đánh giá là rất tiềm năng ở Việt Nam, việc tập trung chiến lược khai thác các cơ hội từ các lĩnh vực này sẽ đảm bảo sự tăng trưởng cao, bền vững của tập đoàn ít nhất trong vòng 20-30 năm nữa. Thay vì đa dạng hóa các lĩnh vực kinh doanh trong tất cả các ngành nghề, PAN Group tập trung vào đa dạng hóa các lĩnh vực kinh doanh trong ngành nông nghiệp và thực phẩm để hoàn thiện chuỗi giá trị và kiểm soát tối đa rủi ro hoạt động và rủi ro thị trường cũng như chất lượng sản phẩm.

Ông Nguyễn Đình Mười (bên trái) trao đổi cùng nông dân tại vùng nguyên liệu nhãn xuất khẩu của Công ty Vina T&T. Ảnh: N.Hiền

Đến nay, PAN Group đã trở thành một trong các công ty nông nghiệp – thực phẩm có quy mô hàng đầu cả nước với gần 20 công ty con và công ty liên kết có uy tín hàng đầu trong ngành như Bibica, Công ty Giống cây trồng Trung ương (NSC), Công ty giống cây trồng miền Nam (SSC), Thực phẩm Sao Ta…

Nói như câu chuyện của PAN và Vinamit không có nghĩa là cơ hội làm giàu từ nông nghiệp chỉ dành cho những DN lớn, mà ngay cả với những DN nhỏ, cơ hội vẫn luôn có sẵn. Vấn đề là phải biết lựa chọn đúng hướng đi phù hợp với khả năng của mình và phải làm nông nghiệp “bằng cả trái tim” – theo như cách nói của ông Nguyễn Lâm Viên.

Câu chuyện của Công ty Vina T&T chính là minh chứng cho sự phát triển thần kỳ của một DN nhỏ trong lĩnh vực nông nghiệp.

Mới chỉ bắt đầu tham gia xuất khẩu trái cây từ năm 2014, nhưng chỉ sau một năm, Vina T&T đã đưa thành công trái thanh long, nhãn và chôm chôm vào thị trường Mỹ. Những năm sau đó, công ty tiếp tục xuất khẩu thành công nhiều loại trái cây đặc sản khác như xoài, vú sữa… Đáng chú ý, thị trường của Vina T&T đều là những thị trường vô cùng khắt khe về chất lượng như Mỹ, Úc, Canada… Ông Nguyễn Đình Mười, Phó Tổng giám đốc Vina T&T cho biết, thành công của Vina T&T đến từ chính cách làm khác biệt của công ty, đó là luôn đặt uy tín, chất lượng lên hàng đầu, chấp nhận tiến chậm nhưng phải thật vững chắc.

Đặc biệt, năm 2017, lần đầu tiên Vina T&T đã đưa được trái dừa xiêm Bến Tre sang Mỹ, phá vỡ thế độc quyền của trái dừa Thái Lan trên đất Mỹ, đồng thời giải quyết được bài toán đầu ra cho trái dừa Bến Tre, nhất là tại những mua thấp điểm. Nói về thành công trong việc đưa trái dừa tươi sang Mỹ, ông Nguyễn Đình Tùng, Tổng Giám đốc Vina T&T cho biết, trước đây đã từng có DN Việt Nam tìm cách đưa trái dừa tươi vào thị trường Mỹ, nhưng đều thất bại. Nguyên nhân là các DN này chỉ lo tập trung cạnh tranh về giá cả mà quên đi thế mạnh đặc biệt của trái dừa Bến Tre, đó chính là sự khác biệt về hương vị.

Tháng 8/2017, Vina T&A đã xuất khẩu thử nghiệm lô dừa xiêm đầu tiên (20.000 trái) vào Mỹ. Kết quả, sức tiêu thụ tại thị trường này vượt trên cả mong đợi, ngay sau đó, phía đối tác tăng số lượng đặt hàng lên 40.000 trái và hiện giờ thì đều đặn xuất 100.000 trái mỗi tuần. Điều này đặc biệt có ý nghĩa với nông dân trồng dừa của Bến Tre bởi những năm trước, tiêu thụ dừa vào mùa mưa rất thấp, giá rớt thê thảm nhưng vẫn không có người mua. Nhưng với đầu ra qua kênh của Vina T&T, người trồng dừa Bến Tre đã có được nguồn thu nhập ổn định cao so với trước đây.

Thừa thắng xông lên, mới đây Vina T&T đã khởi công nhà máy đóng gói dừa tươi xuất khẩu tại huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre nhằm khẳng định hơn nữa uy tín, chất lượng với các đối tác nhập khẩu. Sau khi hoàn thành, nhà máy này sẽ có công suất 25 triệu trái dừa tươi/năm, đạt các tiêu chuẩn quốc tế. Từ đó mở đường xuất khẩu vững chắc cho trái dừa Bến Tre tại thị trường Mỹ cũng như nhiều thị trường tiềm năng khác.

Nguồn tài nguyên vô tận

Để có nguồn nguyên liệu ổn định và đạt chất lượng, những năm qua, Vina T&T đã chú trọng việc phát triển vùng nguyên liệu đạt chuẩn. Từ đó tạo cơ sở vững chắc cho tăng trưởng xuất khẩu của công ty. Năm 2017, Vina T&T đã đóng góp 26 triệu USD vào kim ngạch xuất khẩu trái cây của cả nước. Trong 10 tháng năm 2018, kim ngạch xuất khẩu của công ty tiếp tục tăng trưởng ấn tượng và đã đạt gần 36 triệu USD.

Sản phẩm bày bán tại chuỗi cửa hàng Vinamit Organic . Ảnh: ST

Trong khi đó, tại PAN Group, từ khi tập trung hoàn toàn vào lĩnh vực nông nghiệp – thực phẩm, kết quả kinh doanh của tập đoàn cũng đạt mức tăng trưởng ổn định. Cụ thể, doanh thu tăng từ 2.753 tỷ đồng trong năm 2016 lên 4.075 tỷ đồng trong năm 2017 và đạt 5.419 tỷ đồng trong 9 tháng năm 2018. Tương tự, lợi nhuận sau thuế cũng tăng trưởng từ 336 tỷ đồng trong năm 2016 lên 503 tỷ đồng năm 2017. Trong 3 quý đầu năm nay, lãi ròng của PAN Group cũng đã đạt 323 tỷ đồng. Nếu không tính lợi nhuận bất thường từ đánh giá lại giá trị hợp lý của khoản mục đầu tư khi đạt quyền kiểm soát doanh nghiệp trong năm trước thì mức lợi nhuận này cũng tăng trưởng 16% so với cùng kỳ năm 2017. Với mức tăng trưởng cao và ổn định đó, ban lãnh đạp PAN Group đã đặt mục tiêu là đến năm 2022 đạt quy mô doanh thu 1 tỷ USD, lợi nhuận sau thuế khoảng 95-100 triệu USD, trở thành một trong các công ty hàng đầu Việt Nam và khu vực trong lĩnh vực nông nghiệp và thực phẩm.

Trong khi đó, người đứng đầu thương hiệu Vinamit vẫn kiên trì trên hành trình canh tác hữu cơ và tạo ra giá trị gia tăng cao hơn cho nông sản Việt Nam. Ông Viên cho hay, mỗi ly nước mía bán tại Việt Nam chỉ có giá khoảng 5.000 đồng, nhưng Vinamit có thể làm ra ly nước mía có giá tới 30.000 đồng mà người tiêu dùng vẫn cho là rẻ. Đó chính là giá trị thặng dư được tạo ra từ việc đưa hương vị Việt vào từng sản phẩm. Bằng cách này, Vinamit có thể tạo giá trị gia tăng ít nhất 50% so với sản phẩm thông thường.

Năm vừa qua, Vinamit đã rất thành công khi tung ra thị trường nhiều sản phẩm mới có tính đột phá như sữa chua đông khô, nước mía sấy khô, cà phê tươi sấy khô… Giá bán của những sản phẩm này không phải là rẻ, nhưng đều sản xuất đến đâu tiêu thụ hết đến đó. Đặc biệt, với việc đầu tư vào công nghệ sinh học và chế biến sâu, nhiều sản phẩm mới độc đáo sẽ tiếp tục được Vinamit cho ra mắt trong thời gian tới. Theo lời ông Viên, nông nghiệp chính là một nguồn tài nguyên vô tận có thể tái sinh và mang lại giá trị vô cùng to lớn nếu DN biết cách khai thác và khai thác trên cơ sở phát triển bền vững, nâng tầm giá trị cho sản phẩm.

Nguồn:baohaiquan

Cục Hải quan Nghệ An đồng hành cùng doanh nghiệp

(HQ Online)- Để bồi đắp thêm quan hệ đối tác Hải quan- DN, Cục Hải quan Nghệ An vừa ký kết văn bản thỏa thuận hợp tác với các DN  có hoạt động XNK trên địa bàn.

Theo đó, Cục Hải quan Nghệ An đã ký kết với Công ty CP May Minh Anh – Kim Liên, Công ty TNHH Điện tử BSE Việt Nam và Công ty TNHH MLB Tenergy.

Chương trình hợp tác với mục tiêu tạo thuận lợi cho hoạt động XNK các DN, nâng cao hiệu quả hoạt động của cơ quan Hải quan, minh bạch hóa hoạt động hải quan và nâng cao chất lượng giải quyết thủ tục hành chính trong lĩnh vực hải quan, đồng thời hướng đến xây dựng sự hiểu biết, đồng thuận giữa cơ quan Hải quan và cộng đồng DN.

Tại lễ ký kết văn bản hợp tác, Cục Hải quan Nghệ An và các DN thống nhất một số nội dung: Tập trung các nội dung tuyên truyền phổ biến chính sách pháp luật, cơ chế tạo thuận lợi trong hoạt động XNK; hỗ trợ DN trong hoạt động XK, tạo điều kiện thuận lợi trong quá trình làm thủ tục hải quan, đặc biệt là đối với loại hình đặc thù của DN là gia công, sản xuất – XK; giảm thời gian thông quan hàng hóa; hỗ trợ DN giải quyết các vướng mắc trong quá trình thực hiện hợp đồng gia công, sản xuất -XK…

Sau ký kết, các bên thành lập nhóm công tác Hải quan – DN để phối hợp thực hiện các nội dung ký và tổ chức họp rà soát, đánh giá kết quả hợp tác hàng năm.

Nguồn:baohaiquan

Thước đo quan trọng nhất phải là sự hài lòng của doanh nghiệp

(HQ Online)- Ngày 20/11, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) tổ chức Hội thảo Báo cáo Thực hiện Nghị quyết 19 và 35 về cải cách môi trường kinh doanh và phát triển doanh nghiệp – Góc nhìn từ doanh nghiệp. Phát biểu tại hội thảo, TS Vũ Tiến Lộc, Chủ tịch Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) cho rằng, cần có những đánh giá độc lập, giám sát việc thực hiện quá trình cắt giảm, tránh tình trạng chạy theo con số trên báo cáo, lạc quan về các thành tích luôn được nhấn mạnh mà người dân và doanh nghiệp không được hưởng lợi. 

Không đồng đều về tiêu chí cắt giảm trong cùng một Nghị định



Theo TS Vũ Tiến Lộc, đã gần 5 năm kể từ khi Nghị quyết 19 đầu tiên được ban hành, và hơn 2 năm kể từ Nghị quyết 35 cho thấy đã đạt được những kết quả quan trọng. Môi trường kinh doanh đã có những chuyển biến rõ nét. Tuy nhiên, thời gian qua cho thấy giữa các bộ ngành và địa phương có mức độ thực hiện chưa đồng đều. Nhiều bộ, ngành rất tiên phong, quyết liệt trong cắt giảm và đơn giản hoá điều kiện kinh doanh và cải cách kiểm tra chuyên ngành nhưng một số bộ ngành ít chuyển biến, còn thực hiện đối phó.

“Chính vì như vậy, rất cần có những đánh giá độc lập, giám sát việc thực hiện quá trình cắt giảm này. Tránh tình trạng chạy theo con số trên báo cáo, lạc quan về các thành tích luôn được nhấn mạnh mà người dân và doanh nghiệp không được hưởng lợi. Suy cho cùng thước đo quan trọng nhất là sự hài lòng của doanh nghiệp. Hơn ai hết, chính các doanh nghiệp là người cảm nhận rõ nhất sự thay đổi của môi trường kinh doanh Việt Nam trong các năm qua.”, ông Lộc nhấn mạnh.

Phân tích rõ hơn về Báo cáo Thực hiện Nghị quyết 19 và 35 về cải cách môi trường kinh doanh và phát triển doanh nghiệp – Góc nhìn từ doanh nghiệp của VCCI, ông Đậu Anh Tuấn, Trưởng ban Pháp chế VCCI cho biết, nhìn chung, các doanh nghiệp qua khảo sát đều nhận thấy môi trường đầu tư kinh doanh trong vài năm trở lại đây có sự cải thiện đáng kể. Tuy nhiên, mức độ cải thiện là chưa đồng đều giữa các lĩnh vực, các địa phương. Trong khảo sát 10.000 doanh nghiệp dân doanh về các lĩnh vực khác nhau của Nghị quyết 19, 2 lĩnh vực được đánh giá tốt nhất là thành lập doanh nghiệp và tiếp cận điện năng. Trong khi đó, các lĩnh vực về thủ tục xuất nhập khẩu, bảo vệ nhà đầu tư và phá sản doanh nghiệp được xem là không có cải thiện đáng kể.

Đáng lưu ý mặc dù hầu hết các Bộ đều thực hiện nhiệm vụ và đều có những con số về tỷ lệ cắt giảm nhưng mức độ thực chất của việc cắt giảm điều kiện đầu tư kinh doanh không đồng đều giữa các lĩnh vực khác nhau của cùng một bộ.

Cụ thể, thông thường, lãnh đạo các Bộ sẽ giao cho Vụ Pháp chế chủ trì, phối hợp với các Cục, Vụ trong bộ để tiến hành rà soát. Như vậy, vai trò của Vụ Pháp chế là rất quan trọng. Nhưng nếu Vụ Pháp chế không làm tốt thì chất lượng văn bản phụ thuộc rất nhiều vào Cục, Vụ chuyên môn, dẫn đến việc cắt giảm hình thức, không thực chất, hoặc không đồng đều về tiêu chí cắt giảm trong cùng một Nghị định.

Từ góc độ của doanh nghiệp, việc phải xin các giấy phép con vẫn diễn ra phổ biến và gặp nhiều khó khăn. Theo kết quả điều tra PCI 2017, vẫn có đến 58% trên tổng số doanh nghiệp phản hồi phải xin giấy phép kinh doanh có điều kiện. Trong đó, có 42% doanh nghiệp cho biết có gặp khó khăn khi xin những giấy phép loại này.

Mức độ không đồng đều giữa các địa phương



Báo cáo của VCCI chỉ rõ, một số tỉnh, thành phố được cộng đồng doanh nghiệp trong tỉnh đánh giá cao như Đồng Tháp, Đà Nẵng, Bình Định, Bạc Liêu, Cần Thơ, Vĩnh Phúc, An Giang, Long An. Trong đó, khu vực có tỷ lệ doanh nghiệp cảm nhận tích cực nhất là Đồng bằng Sông Cửu Long.

Theo ông Đậu Anh Tuấn, mặc dù có hàng nghìn thủ tục kiểm tra chuyên ngành đối với các loại hành hóa nhưng tính đến tháng 9 mới chỉ có 68 thủ tục có thể thực hiện trên cổng thông tin điện tử một cửa quốc gia, dự kiến đến năm 2020 sẽ có 284 thủ tục. Trong 68 thủ tục này thì chỉ có duy nhất 1 thủ tục (khai báo hóa chất) thực hiện điện tử hoàn toàn, các thủ tục khác, dù doanh nghiệp có nộp hồ sơ điện tử thì vẫn phải nộp thêm bản giấy. Như vậy, mức độ cải cách rất chậm.

Trong minh bạch công tác thanh, kiểm tra, khá nhiều doanh nghiệp vẫn phàn nàn tình trạng bị thanh, kiểm tra quá nhiều lần và có nội dung trùng lặp. Theo PCI năm 2017, tỷ lệ doanh nghiệp bị thanh, kiểm tra 2 lần trở lên/năm vẫn lên đến gần 40%, trong đó có 13% doanh nghiệp cho biết có sự trùng lặp về nội dung giữa các đoàn kiểm tra.

Đáng chú ý là hầu hết các doanh nghiệp được hỏi cho biết họ chưa bao giờ tiếp một đoàn kiểm tra liên ngành. Các cơ quan chức năng vẫn đi riêng, kiểm tra riêng, khiến doanh nghiệp mất nhiều thời gian. Có đến 43% số doanh nghiệp bị thanh tra về thuế, 30% về an toàn phòng cháy chữa cháy và 20% về quản lý thị trường.

Có một tín hiệu rất đáng ghi nhận là doanh nghiệp tại một số địa phương lại có đánh giá khá tốt về sự chuyển biến của lĩnh vực xuất nhập khẩu. Đó là những tỉnh đầu mối về hoạt động xuất nhập khẩu sôi động (cảng biển lớn hoặc cửa khẩu) và một số tỉnh có nhiều doanh nghiệp định hướng xuất nhập khẩu như Lạng Sơn, Vĩnh Phúc, Hải Phòng, Đà Nẵng, Bình Định, Vũng Tàu, Bình Dương, Long An…

Phát biểu tại buổi hội thảo, chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan cho rằng thực chất được khoảng 40%, thậm chí so với thực tế còn chưa được.

“Bên cạnh đó, cải cách môi trường kinh doanh không thể chỉ có trách nhiệm từ phía địa phương mà còn phải từ phía các bộ ngành. Bởi việc ban hành các nghị định cắt giảm điều kiện kinh doanh, cải thiện môi trường kinh doanh là phải do các bộ, ngành chứ địa phương không có thẩm quyền làm việc đó. Nếu các bộ, ngành không tích cực hoặc chúng ta không có sự đánh giá trực diện tới các bộ, ngành thì tình trạng sẽ kéo dài. Bộ không làm thì địa phương không làm được”, bà Lan nói.

Nguồn:baohaiquan

Hải quan Việt Nam nỗ lực tạo thuận lợi nhất cho doanh nghiệp

(HQ Online)- Đó là khẳng định của Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Hải quan Mai Xuân Thành tại phiên hội thảo chuyên ngành Hải quan và việc tiêu chuẩn hóa các quy trình với phái đoàn Cảng vụ Barcelona (Tây Ban Nha) diễn ra vào ngày 15/11, tại TP.HCM. Đây là sự kiện nằm trong trong khuôn khổ hội thảo và giao lưu thương mại Việt Nam- Tây Ban Nha diễn ra tại Việt Nam từ ngày 9 – 17/11/2018.

Tại hội thảo, đại diện đoàn Cảng vụ Bacerlona và đại diện Tổng cục Hải quan, Hiệp hội Logistics Việt Nam đã trao đổi nhiều nội dung liên quan đến hoạt động hải quan và logistics của hai bên.

Trong đó, đại diện Tổng cục Hải quan Việt Nam và Cơ quan Quản lý Hải quan Barcelona đã giới thiệu các quy trình thực hiện thủ tục hải quan cũng như các hoạt động và nỗ lực của hai bên nhằm tạo thuận lợi hóa cho hoạt động XNK hàng hóa.

Phát biểu tại hội nghị, Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Hải quan Mai Xuân Thành đánh giá cao sự quan tâm rất lớn của Cảng vụ Barcelona nói riêng và Tây Ban Nha nói chung cho sự phát triển của DN việt Nam thông qua sự kiện này. “Điều này sẽ hỗ trợ DN Việt Nam tiếp tục đạt được kết quả tốt hơn trong tương lai”, Phó Tổng cục trưởng Mai Xuân Thành nhấn mạnh

Theo ông Mai Xuân Thành, trong năm 2017 kim ngạch XNK giữa Việt Nam và Tây Ban Nha đạt khoảng 3 tỷ USD, 10 tháng đầu năm 2018 đạt khoảng 2,7 tỷ USD. Kết quả này cho thấy hoạt động thương mại giữa hai nước đang có chiều hướng tăng và có cơ sở thúc đẩy để tăng nhanh chóng hơn.

Liên quan đến hoạt động của ngành Hải quan Việt Nam, Phó Tổng cục trưởng Mai Xuân Thành cho biết, từ 1994, được sự giúp đỡ của Cơ quan Hợp tác quốc tế Nhật Bản (JICA), Hải quan Việt Nam đã đưa vào hoạt động hệ thống thông quan điện tử VNACCS. Qua đó thủ tục Hải quan về cơ bản đã được tự động hóa. Việc đơn giản hóa các thủ tục kiểm tra chuyên ngành đã được Chính phủ khởi động từ mấy năm trước đây và càng ngày càng yêu cầu ở mức đơn giản hơn, rút gọn hơn nhằm giảm thời gian cho cộng đồng DN.

Theo số liệu thống kê của VCCI năm 2015, tổng thời gian kiểm tra chuyên ngành của các cơ quan quản lý tại cảng chiếm khoảng 72% tổng thời gian thông quan và chắc chắn thời gian công bố năm 2018 sẽ giảm đi. Chính phủ Việt Nam rất mạnh mẽ trong việc cắt giảm thủ tục hành chính. Trong đó yêu cầu các cơ quan Chính phủ phải cắt giảm tối thiểu 50% thủ tục hành chính trong năm 2018.

Về đơn giản hóa thủ tục hải quan, Hải quan Việt Nam đã công khai thủ tục trên rất nhiều trang website của Tổng cục Hải quan và Cổng thông tin điện tử Chính phủ… có cả tiếng Anh. Cơ quan Hải quan cũng luôn duy trì thông tin kết nối trực tiếp với DN. Trong thời gian tới đây vào năm 2019 và các năm tiếp theo, cơ quan Hải quan Việt Nam vẫn tiếp tục tự động hóa các dịch vụ của mình để tạo thuận lợi nhất cho DN, chỉ cần click vào tờ khai là DN có thể biết hàng hóa của mình đang ở đâu…

“Với Cảng Barcelona, Hải quan Việt Nam sẽ luôn là đầu mối liên hệ và sẵn sàng trao đổi các vấn đề nhạy cảm từ phía Tây ban Nha cũng như Việt Nam đảm bảo tính tuân thủ pháp luật. Hi vọng, việc hợp tác giữa hai bên sẽ là tạo ra cơ hội tốt cho cả cơ quan quản lý và DN kết nối một cách hiệu quả, minh bạch nhất, đồng thời vẫn đảm bảo tuân thủ pháp luật”, Phó Tổng cục trưởng Mai Xuân Thành cho biết.

Cung cấp các thông tin về hoạt động logistics tại Việt Nam, ông Đào Trọng Khoa, Phó chủ tịch Hiệp hội Logistics Việt Nam cho biết, năm 2018, Việt Nam xếp thứ 39/60 nước về chỉ số hiệu quả logistics và đứng trong 3 nước hàng đầu về chỉ số này tại Đông Nam Á chỉ sau Thái Lan và Singapore.

Ngành logistics đang nhận được sự quan tâm đặc biệt của Chính phủ. Theo kế hoạch hành động đến năm 2025 ngành logistics sẽ đảm bảo tăng trưởng từ 15-20%/năm, duy trì chỉ số hiệu quả logistics nằm trong 50 nước hàng đầu thế giới, gia tăng tỉ lệ thuê ngoài từ 50-60%, cải thiện chi phí logistics từ 16-20%. Hiện Chính phủ Việt Nam đã có chỉ thị về việc giảm thiểu chi phí logistics nhằm tăng sức cạnh tranh cho ngành và hoạt động ngoại thương. Ông Khoa hi vọng Hiệp hội Logistics Việt Nam sẽ cơ cơ hội hợp tác, chia sẻ kiến thức kinh nghiệm với Hiệp hội Logistics của Barcelona.

Theo thông tin từ Đoàn cảng vụ Barcelona, cảng Barcelona là cảng quan trọng bậc nhất tại Tây Ban Nha. Dịch vụ Hải quan và hàng hải tại đây rất chuyên nghiệp và luôn đề cao tính minh bạch. Hiện cảng này đang tiếp nhận khoảng 30% trên tổng hàng hóa từ Việt Nam vào Tây Ban Nha. Cảng Barcelona đang phấn đấu đưa lượng hàng hóa từ Việt Nam thông qua cảng lên khoảng 40% trên tổng lượng hàng hóa Việt Nam vào Tây Ban Nha. Để làm được điều này, bà Mecrcè Connesa, Chủ tịch Cảng vụ Barcelona cho rằng vai trò của cơ quan Hải quan là rất quan trọng.

Đánh giá cao sự nỗ lực của Việt Nam trong phát triển kinh tế trong hơn 40 năm qua, ông Emilio Sanz, Chủ tịch Hiệp hội các nhà giao nhận vận tải Barcelona cho biết, tỉ lệ tăng trưởng kinh tế luôn duy trì ở mức cao, dân số đông, chính trị ổn định Việt Nam là những lý do Đoàn Cảng vụ Barcelona lựa chọn Việt Nam là điểm đến để giao thương. Cùng với FTA Việt Nam- EU được ký kết sẽ cắt giảm 65% thuế NK từ EU vào Việt Nam 31% dòng thuế XK từ Việt Nam sang EU. Việt Nam đang trở thành điểm đến hấp dẫn cho nhiều công ty vận chuyển hàng hải của Barcelona và điều này sẽ tạo thêm lực đẩy thương mại hai chiều giữa Việt Nam và Tây Ban Nha trong thời gian tới.

Nguồn:baohaiquan

4 giải pháp hỗ trợ, đồng hành cùng doanh nghiệp

(HQ Online)- Tính từ năm 2013 đến nay, toàn ngành Hải quan đã ký kết 55 văn bản hợp tác với 55 Hiệp hội DN (HHDN) và Chi hội. Còn đối với DN XNK, cấp cục trong toàn Ngành đã ký kết 265 văn bản thỏa thuận hợp tác với 265 DN. Thông qua việc chủ động xây dựng quan hệ đối tác thường xuyên với DN, ngành Hải quan từng bước hình thành và xây dựng lực lượng nòng cốt trong công tác phát triển quan hệ đối tác Hải quan – DN.

Thực hiện đồng bộ 4 giải pháp

Đánh giá cao quan hệ hợp tác với Tổng cục Hải quan, ông Liam Garethe, Giám đốc Tuân thủ Thương mại Toàn cầu, Tập đoàn Intel cho rằng, Tổng cục Hải quan luôn tạo điều kiện, hỗ trợ, xây dựng mối quan hệ đối tác hiệu quả, tốt đẹp. Là người phụ trách không chỉ các nước khu vực Đông Nam Á, mà còn phụ trách nhiều nước trên thế giới, ông Liam Garethe chia sẻ mối quan hệ đối tác đã xây dựng với cơ quan Hải quan đến thời điểm này là một trong những mối quan hệ đối tác tốt đẹp nhất mà DN đã có.

Thực tế cho thấy, những giải pháp và những lợi ích mà cơ chế đối tác Hải quan-DN đem lại được các bên đánh giá cao. Chẳng hạn như thông qua việc duy trì hoạt động hợp tác định kì hàng tháng với Hiệp hội DN Nhật Bản; Liên minh Diễn đàn DN Việt Nam (VBF), Phòng Thương mại và công nghiệp Việt Nam (VCCI) và nhiều hiệp hội DN khác theo thỏa thuận hợp tác giữa hai bên, cơ quan Hải quan đã cung cấp các thông tin và tháo gỡ nhiều vướng mắc cho DN.

Về phía cộng đồng DN đánh giá cao các giải pháp và những lợi ích mà cơ chế hợp tác đem lại cho các bên. Ngành Hải quan cũng đã thực hiện đồng bộ 4 giải pháp (thông tin, tham vấn, tham gia, hợp tác), trong đó thực hiện tốt các hoạt động tuyên truyền, phổ biến pháp luật, hướng dẫn, hỗ trợ, giải đáp vướng mắc, tiếp thu góp ý, phản hồi từ DN, đồng thời tổ chức triển khai mạnh mẽ các hoạt động tham vấn, hợp tác với hiệp hội DN, DN và các bên có liên quan.

Tăng cường tham vấn, hỗ trợ thực thi

Về tham vấn chính sách pháp luật, với mong muốn chính sách, quy định pháp luật ngày càng sát với thực tiễn, trong những năm qua Tổng cục Hải quan rất quan tâm đến việc lắng nghe, lấy ý kiến, tiếp thu phản hồi của cộng đồng DN và người dân trong quá trình hoạch định và xây dựng chính sách pháp luật về lĩnh vực hải quan.

Riêng trong năm 2018, Tổng cục Hải quan đã thực hiện tham vấn cộng đồng DN về việc sửa đổi, bổ sung các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đến lĩnh vực hải quan, gồm: Luật Quản lý thuế, Luật thuế Giá trị gia tăng (Bộ Tài chính chủ trì, Tổng cục Hải quan tham gia); ba nghị định, ba thông tư. Thông qua việc tham vấn DN, Tổng cục Hải quan nhận được hàng trăm ý kiến góp ý phản biện xây dựng chính sách pháp luật hải quan, trong đó rất nhiều ý kiến được tiếp thu trực tiếp cho các văn bản đã được Tổng cục Hải quan trình Bộ Tài chính, Chính phủ ban hành trong năm 2018.

Về giải pháp hỗ trợ thực thi pháp luật, cơ quan Hải quan các cấp đã tập trung tuyên truyền các quy định mới trong lĩnh vực hải quan, gần 1.400 văn bản quy phạm pháp luật hải quan và văn bản pháp luật có liên quan được đăng tải trên các trang thông tin điện tử; gần 6.000 tin, bài tuyên truyền về pháp luật hải quan; hơn 18.000 tờ rơi, tờ gấp pháp luật với nội dung tập trung vào các quy định mới trong lĩnh vực hải quan đã được biên soạn, phát hành. Ngoài ra, việc phối hợp với các phương tiện thông tin đại chúng đã góp phần truyền tải những thông tin về lĩnh vực hải quan đến cộng đồng DN và người dân.

Đặc biệt, trong năm 2018 Tổng cục Hải quan tổ chức hai buổi Tọa đàm với chủ đề “Hải quan – DN: Kết nối – chia sẻ – đồng hành” và “Tọa đàm giải đáp trực tuyến với bạn đọc trên Báo Hải quan điện tử xung quanh những điểm mới tại Nghị định số 59/2018/NĐ-CP và Thông tư số 39/2018/TT-BTC” đã thu hút sự quan tâm của DN và người dân. Không chỉ tại Tổng cục, ở cục hải quan các tỉnh, thành phố các hoạt động hỗ trợ thực thi pháp luật được triển khai dưới nhiều hình thức; các cuộc hội nghị đối thoại Hải quan-DN được duy trì thường xuyên, với hơn 100 cuộc đã được tổ chức. Ngoài việc hỗ trợ DN nói chung, Tổng cục Hải quan đã tổ chức hỗ trợ theo định kỳ, trọng điểm; hỗ trợ theo chuyên đề với các DN, hiệp hội DN…

Đối với giải pháp giám sát thực thi pháp luật, với tinh thần cầu thị, sẵn sàng tiếp thu ý kiến đánh giá của DN để đưa ra giải pháp cải cách, hiện đại hóa mạnh mẽ hơn nữa, nhiều năm qua, Tổng cục phối hợp với VCCI, Cục Hải quan TP Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Hải Phòng, DN… tiến hành khảo sát sự hài lòng DN. Theo khảo sát năm 2017, đa số DN biết thông tin về cơ chế giám sát (88% biết, 8% không biết, 4% không có ý kiến), trong đó đánh giá về hiệu quả của cơ chế ở mức cao đạt 64%. Tổng cục Hải quan đang phối hợp với VCCI tiếp tục thực hiện khảo sát ý kiến khách hàng năm 2018.

Về cam kết phục vụ khách hàng, hiện tại Tổng cục Hải quan đang tiếp tục phối hợp với các bộ ngành có liên quan mở rộng số lượng TTHC thực hiện qua Cơ chế một cửa quốc gia; chú trọng cải cách TTHC nội ngành; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin và áp dụng phương pháp quản lý hải quan hiện đại trong thực hiện TTHC; đối thoại, hướng dẫn, giải đáp, giải quyết vướng mắc trong thực hiện thủ tục hải quan theo yêu cầu của DN; triển khai mạnh mẽ về cung cấp dịch vụ công trực tuyến (DVCTT).

Đặc biệt, với mong muốn xây dựng lực lượng nòng cốt trong công tác phát triển quan hệ đối tác Hải quan-DN, Tổng cục Hải quan chủ động xây dựng quan hệ đối tác thường xuyên với Hiệp hội DN; DN XNK và DN dịch vụ XNK có uy tín, trách nhiệm, tích cực. Với hiệp hội DN, Tổng cục triển khai các hoạt động đối tác thường xuyên với các hiệp hội DN trọng điểm, gồm: Hiệp hội DN trong nước, như: Thủy sản, dệt may, da giầy, ôtô, cơ khí, thép, kính, mía đường, xăng dầu, chủ hàng, logistics; các hiệp hội, phòng thương mại nước ngoài, như: Nhật Bản, châu Âu, Italia, Mỹ, Hàn Quốc, Đài Loan – Trung Quốc. Trong 9 tháng đầu năm 2018, toàn ngành đã ký kết với ba Hiệp hội và thực hiện việc ưu tiên tập huấn, hướng dẫn, giải đáp các vướng mắc, kiến nghị đối với chính sách pháp luật mới ban hành. Tính từ năm 2013 đến nay, toàn ngành đã ký kết 55 văn bản hợp tác với 55 Hiệp hội DN và Chi hội, trong đó cấp Tổng cục ký 10 văn bản hợp tác với Hiệp hội DN bao gồm cả Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), Liên minh Diễn đàn DN Việt Nam (VBF).

Với DN XNK và DN dịch vụ XNK, Tổng cục tăng cường hoạt động rà soát, kiện toàn đầu mối hỗ trợ DN trên các nội dung sau: Quản lý DN, kịp thời nắm bắt thông tin về DN; Hỗ trợ cơ chế, chính sách, thủ tục hải quan đối với DN; Hỗ trợ, khuyến khích DN tuân thủ tự nguyện.

Với mong muốn thúc đẩy quan hệ hợp tác giữa cộng đồng DN và cơ quan Hải quan, Tổng cục Hải quan tổ chức hội thảo kết hợp tuyên truyền về nội dung cải cách hiện đại hóa hải quan trọng tâm năm 2018 tại Đà Nẵng, TP Hồ Chí Minh và Hà Nội vào các ngày 26/10; 9/11 và 15/11. Thông qua hội nghị này, cơ quan Hải quan, Hiệp hội DN và DN XNK sẽ thảo luận các biện pháp nhằm cải thiện và nâng cao tính minh bạch, chuyên nghiệp, chất lượng phục vụ của cơ quan Hải quan, trong đó nhấn mạnh đến vai trò của các Hiệp hội DN, DN đối tác thường xuyên, DN dịch vụ XNK trong hợp tác, đồng hành cùng với cơ quan Hải quan thực hiện mục tiêu.

Nguồn:baohaiquan

Hải quan Hà Tĩnh: Tăng thu nhờ tích cực hỗ trợ doanh nghiệp

(HQ Online)- Trong hơn 9 tháng đầu năm 2018, công tác thu ngân sách của Hải quan Hà Tĩnh đã tăng đáng kể. Một trong những nguyên nhân là sự nỗ lực của tập thể cán bộ, công chức, viên chức  Hải quan Hà Tĩnh khi tích cực hỗ trợ thông tin, chính sách pháp luật hải quan cho cộng đồng DN có hoạt động XNK qua địa bàn.

Tính đến ngày 14/10, luỹ kế số thu ngân sách của Hải quan Hà Tĩnh đã đạt 4.687,6 tỷ đồng, tăng 130% so với cùng kỳ năm trước, đạt 151,22% chỉ tiêu do Bộ Tài chính giao (3.100 tỷ đồng), đạt 132% chỉ tiêu do Hội đồng nhân dân tỉnh giao (3.400 tỷ đồng) và đạt 79,45% chỉ tiêu giao phấn đấu của Tổng cục Hải quan giao (5.900 tỷ đồng). Tổng kim ngạch XNK đạt 2.269 triệu USD, tăng 118% so với cùng kỳ năm 2017.

Trao đổi với Báo Hải quan, ông Đinh Văn Hòa, Phó Cục trưởng Cục Hải quan Hà Tĩnh cho biết, để đạt được kết quả trên, trước hết phải kể đến việc tập thể cán bộ, công chức, viên chức Hải quan Hà Tĩnh đã nỗ lực cung cấp thông tin, tháo gỡ, vướng mắc phát sinh cho cộng đồng DN, bố trí công chức trực giải quyết thủ tục cho DN ngoài giờ hành chính nhằm thông quan nhanh hàng hóa cho DN.

Hải quan Hà Tĩnh còn chỉ đạo các chi cục tổ chức nhiều hội nghị đối thoại với DN nhằm tăng cường trao đổi, lắng nghe những ý kiến về khó khăn, vướng mắc của các DN hiện đang có hoạt động XNK qua địa bàn, từ đó cùng thảo luận để kịp thời tháo gỡ hoặc chia sẻ với các DN.

Trong đó, các chi cục tăng cường phổ biến một số văn bản pháp luật mới được ban hành và có liên quan trực tiếp đến hoạt động XNK của các DN trên địa bàn như: Nghị định 59/2018/NĐ-CP sửa đổi Nghị định 08/2015/NĐ-CP; Thông tư 39/2018/TT-BTC sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư 38/2015/TT-BTC; Nghị định 15/2018/NĐ-CP hướng dẫn Luật An toàn thực phẩm; Chỉ thị 27/CT-TTg ngày 17/9/2018 về một số giải pháp cấp bách tăng cường công tác quản lý đối với hoạt động NK và sử dụng phế liệu NK làm nguyên liệu sản xuất…

Thông qua các hoạt động, Hải quan Hà Tĩnh mong muốn các DN chủ động hơn nữa trong việc nắm bắt thông tin, nghiên cứu văn bản pháp luật để đưa ra những kế hoạch phù hợp trong công việc kinh doanh của mình, tránh để thiệt hại do thay đổi chính sách.

Theo Cục Hải quan Hà Tĩnh, chỉ tính riêng hội nghị do Chi cục Hải quan cảng Vũng Áng đã có hơn 15 ý kiến DN tham gia vào các lĩnh vực như khai báo hải quan, phân tích, phân loại hàng hoá, kiểm tra chuyên ngành, kiểm tra thực tế hàng hóa, XK khoáng sản…. và đã được đơn vị trực tiếp trao đổi, tháo gỡ, đồng thời đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động quản lý hải quan, tạo thuận lợi cho hoạt động XNK, góp phần cùng cộng đồng DN phát triển kinh doanh.

Hải quan Hà Tĩnh xác định, công tác cải cách, hiện đại hóa hải quan, đồng hành hỗ trợ DN tiếp tục là giải pháp then chốt giúp cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh, thu hút DN và tăng thu ngân sách Nhà nước, góp phần thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị được giao.

Để hoàn thành nhiệm vụ thu NSNN năm 2018 theo chỉ tiêu phấn đấu Tổng cục Hải quan giao là 5.900 tỷ đồng, ông Đình Văn Hòa cho biết, Hải quan Hà Tĩnh đã yêu cầu các đơn vị thuộc và trực thuộc khẩn trương thực hiện rà soát danh sách các DN XNK trên địa bàn để xây dựng kế hoạch tuyên truyền cho từng DN phù hợp với mô hình quản lý; giao cán bộ, công chức liên hệ với từng DN để tuyên truyền chính sách và lợi ích khi tham gia trên các hệ thống ứng dụng CNTT của Hải quan.

Trong đó, tập trung vào các nhóm giải pháp như: Tiếp tục cải cách, đơn giản hóa các thủ tục hành chính, trọng tâm là thủ tục hải quan: nâng tính thuận tiện, dễ dàng trong việc thực hiện quy trình thủ tục hải quan, nâng chất lượng chăm sóc DN. Chủ động tham mưu, đề xuất UBND tỉnh các giải pháp tăng thu, đặc biệt là các giải pháp ổn định nguồn thu cũ, tạo nguồn thu mới.

Bên cạnh đó, Hải quan Hà Tĩnh cũng chủ động triển khai thực hiện quyết liệt các biện pháp chống thất thu qua giá, số lượng, mã số, xuất xứ hàng hóa; tăng cường đấu tranh chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả…

Nguồn:baohaiquan

“Siêu Ủy ban” phải đi theo con đường chuyên nghiệp, hiện đại

(HQ Online)- Từ 1/10, Ủy ban Quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp, còn được biết đến với tên gọi “Siêu ủy ban” đã chính thức đi vào hoạt động. Sau những thất thoát lãng phí vốn nhà nước tại các DNNN trong thời gian qua, những kỳ vọng vào hiệu quả hoạt động của “Siêu ủy ban” là rất lớn, nhiệm vụ của cơ quan này vì thế cũng rất nặng nề.

Kỳ vọng rất lớn

Cùng với việc ban hành Nghị định số 131/2018/NĐ-CP quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Ủy ban Quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp, Ủy ban quản lý vốn Nhà nước tại DN đã có cơ sở để chính thức vận hành sau 8 tháng thành lập. Theo Nghị định, 19 tập đoàn, tổng công lớn của Nhà nước sẽ được chuyển giao về “Siêu ủy ban” kể từ ngày 1/10 và chậm nhất trong vòng 45 ngày việc chuyển giao này phải được hoàn tất. Theo ước tính, vốn Nhà nước tại 19 doanh nghiệp này vào khoảng 1 triệu tỷ đồng và tổng giá trị tài sản là 2,3 triệu tỷ đồng, chiếm 2/3 tổng tài sản Nhà nước tại DN.

Một điểm đáng chú ý, Nghị định chính thức này có điểm mới mà các dự thảo trước đây chưa đề cập, đó là đã bổ sung thêm một điều về quan hệ của Ủy ban với các cơ quan quản lý nhà nước. Theo đó, Ủy ban thực hiện quyền, trách nhiệm của cơ quan đại diện chủ sở hữu đối với DN theo quy định của pháp luật về quản lý, sử dụng, vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất kinh doanh tại DN; tuân thủ các quy định của Chính phủ, Bộ Tài chính về chế độ quản lý tài chính DN, cơ chế giám sát về tài chính đối với các DN do Ủy ban làm đại diện chủ sở hữu.

Bên cạnh đó, Ủy ban, các DN do Ủy ban làm đại diện chủ sở hữu quản lý đầu tư, sử dụng vốn nhà nước phù hợp chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách phát triển. Đồng thời, Nghị định cũng nêu rõ, Ủy ban phối hợp với các cơ quan có liên quan thực hiện đặt hàng, giao nhiệm vụ cho doanh nghiệp thực hiện các nhiệm vụ công ích hoặc các nhiệm vụ kinh tế – xã hội khác theo quy định của pháp luật. Đây được cho là căn cứ để tháo gỡ những vướng mắc, quan ngại về vấn đề mối quan hệ giữa Ủy ban và các bộ, ngành, địa phương trong việc thực hiện các quyền, trách nhiệm của chủ sở hữu đối với DNNN.

Tại lễ ra mắt Ủy ban vừa được tổ chức, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc cho rằng, các DNNN trực thuộc Ủy ban đều là các DN giữ vai trò trọng yếu của nền kinh tế trong các lĩnh vực như điện, xăng dầu, lương thực! Vì thế, dư luận xã hội đang theo dõi và kỳ vọng rất lớn vào hoạt động của ủy ban trong đổi mới tư duy, đổi mới quản trị, cách thức quản lý, cách thức hoạt động của DNNN, làm sao để khắc phục cho được các yếu kém, cải thiện và tạo sự khác biệt lớn về hiệu quả hoạt động của DNNN.

“Chúng ta có 2 con đường: Một là xây dựng một Ủy ban chuyên nghiệp, hiện đại, từ đó thúc đẩy cải cách mạnh mẽ và nâng cao hiệu quả toàn diện trong toàn bộ hệ thống các tập đoàn, DNNN. Và con đường thứ hai là con đường tạo ra một cơ quan quan liêu kiểu cũ, có thể làm gánh nặng cho hệ thống doanh nghiệp cũng như của cả đất nước. Chúng ta lựa chọn con đường thứ nhất, con đường xây dựng một Ủy ban chuyên nghiệp, hiện đại, cho dù con đường này sẽ gặp rất nhiều khó khăn”, Thủ tướng nhấn mạnh.

Không chậm trễ trong chuyển giao về “Siêu ủy ban”

Thông tin thêm về những công tác chuẩn bị mà Ủy ban đã triển khai trong thời gian qua để sẵn sàng cho thời điểm Ủy ban đi vào vận hành chính thức, ông Nguyễn Hoàng Anh, Chủ tịch Ủy ban cho biết, Ủy ban đã nghiên cứu xây dựng phần mềm Bộ chỉ số giám sát, đánh giá hiệu quả DN để kết nối trực tiếp với các DN được giao quản lý để giảm thiểu thời gian tổng hợp, gửi báo cáo; phân tích, đánh giá thông qua các chỉ số tình hình kinh doanh, tăng giảm tổng giá trị vốn Nhà nước tại DN, đánh giá mức độ bảo toàn vốn của DN… Dự kiến khi tiếp nhận DN, Ủy ban sẽ triển khai kết nối để cập nhật tình hình hoạt động của DN thường xuyên liên tục.

Đáng chú ý, Uỷ ban cũng đã ký biên bản hợp tác với Temasek Holdings của Singapore để trao đổi thông tin nghiệp vụ, kinh nghiệm quản lý. Đồng thời, Ủy ban đã đặt vấn đề với Uỷ ban giám sát và quản lý tài sản nhà nước tại doanh nghiệp của Trung Quốc (SASAC) để trao đổi kinh nghiệm, thông tin nghiệp vụ, hợp tác về đạo tào quản trị vốn tại DN. Xác định công việc cần triển khai ngay sau khi Ủy ban đi vào hoạt động chính thức là hết sức lớn và nặng nề, đại diện Ủy ban cho biết sẽ kiện toàn nhân sự Ủy ban theo hướng tinh gọn, hiệu quả, lựa chọn cán bộ có năng lực, đạo đức, đổi mới phương thức quản trị, điều hành DN để quản lý DN hoạt động ngày càng hiệu quả hơn.

Liên quan đến quá trình chuyển giao các DN về Ủy ban, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc yêu cầu các bộ có DN được chuyển giao cần phối hợp với Ủy ban để chuyển giao ngay, không để chậm trễ, phức tạp, sai sót xảy ra, đồng thời không để khoảng trống pháp lý, ảnh hưởng đến công tác quản lý vốn Nhà nước, tiến trình cổ phần hóa, tái cơ cấu DN, hoạt động sản xuất kinh doanh của tập đoàn, tổng công ty.

Chia sẻ về công tác chuẩn bị cho việc chuyển giao về siêu ủy ban của Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN), ông Dương Quang Thành, Chủ tịch HĐTV EVN cho biết, trong thời gian vừa qua, trên cơ sở đề nghị của Ủy ban, EVN đã chủ động triển khai nghiên cứu và đã có các buổi làm việc với bộ phận chuyên môn của Ủy ban về một số công việc có liên quan đến công tác quản lý, giám sát các DN của Ủy ban. Cụ thể như: nghiên cứu, cung cấp thông tin phục vụ cho việc khảo sát, xây dựng hệ thống công nghệ thông tin phục vụ công tác quản lý, nghiệp vụ của Ủy ban, trong đó có Bộ chỉ số giám sát, đánh giá DN; các công việc về kết nối hệ thống và cung cấp thông tin, trình diễn sơ bộ một số hệ thống công nghệ thông tin của EVN và thử nghiệm cung cấp các thông tin theo yêu cầu của Ủy ban như: doanh thu, sản lượng điện thương phẩm, biểu đồ phụ tải, biểu đồ công suất hệ thống và một số thông tin khác.

“EVN hiện đang tích cực, chủ động chuẩn bị các công việc có liên quan đến công tác bàn giao nhằm giúp cho việc chuyển giao quyền đại diện chủ sở hữu nhà nước tại EVN sang Ủy ban quản lý vốn NN được thuận lợi, nhanh chóng và chặt chẽ, không làm ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh hàng ngày của EVN”, ông Dương Quang Thành nói.

Nguồn:baohaiquan

Hải quan Hà Tĩnh sẵn sàng triển khai VASSCM tại 3 doanh nghiệp

(HQ Online)- Cục Hải quan Hà Tĩnh đã tiến hành làm việc và khảo sát mức độ sẵn sàng tại các 3 DN kinh doanh cảng, kho, bãi có lưu lượng hàng hóa XNK lớn, mức độ sẵn sàng về ứng dụng công nghệ thông tin cao để lựa chọn triển khai Hệ thống Quản lý hải quan tự động (VASSCM) trước, sau đó triển khai tại các DN còn lại theo lộ trình.

Cục Hải quan Hà Tĩnh đã tiến hành, rà soát, đánh giá hiện trạng ứng dụng công nghệ thông tin của DN trong công tác quản lý hàng hóa ra, vào, tồn tọng tại kho, bãi, cảng. Theo đó, trước mắt đơn vị đã chọn 3 DN là: Công ty CP cảng quốc tế Việt – Lào; Công ty TNHH gang thép Hưng Nghiệp Formosa Hà Tĩnh và Chi nhánh xăng dầu dầu khí Vũng Áng đề tiến hành triển khai VASSCM.

Đồng thời, đơn vị cũng đã thông báo với các DN trên địa bàn về chủ trương, yêu cầu, kế hoạch kết nối hệ thống quản lý hải quan tự động với hệ thống của DN kinh doanh kho, bãi, cảng, địa điểm chịu sự giám sát của cơ quan Hải quan.

Trao đổi với phóng viên Báo Hải qua, đại diện Cục Hải quan Hà Tĩnh cho biết, nhằm tăng cường, nâng cao hiệu quả ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác quản lý, giám sát hàng hóa ra, vào, tồn đọng tại cảng, kho, bãi chặt chẽ, khoa học, góp phần giảm thời gian giải phóng hàng, chi phí, giấy tờ, thời gian đi lại cho DN theo định hướng của ngành Hải quan, Hải quan Hà Tĩnh, thường xuyên đôn đốc, kiểm tra DN trong việc lựa chọn, xây dựng phần mềm đầu cuối nhằm đảm bảo kết nối với hệ thống VASSCM của cơ quan Hải quan.

Đồng thời, để việc triển khai Hệ thống VASSCM hoàn thành trước ngày 30/9/2018, đơn vị cũng thường xuyên tổ chức các hoạt động tuyên truyền, phổ biến cho các DN và công chức hải quan của đơn vị về chủ trương, định hướng, mục tiêu, yêu cầu, nhiệm vụ, nội dung triển khai hệ thống VASSCM tại đơn vị.

Nguồn:baohaiquan

Cần nhiều giải pháp để thúc đẩy DN đầu tư vào nông nghiệp

Phát biểu khai mạc Hội nghị toàn quốc thúc đẩy doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp sáng 30/7, Phó Thủ tướng Trịnh Đình Dũng đề nghị các đại biểu cần chỉ rõ các giải pháp cả trước mắt và lâu dài để khuyến khích doanh nghiệp đầu tư nhiều hơn, hiệu quả hơn vào lĩnh vực nông nghiệp.

Thay mặt Thủ tướng Chính phủ, Phó Thủ tướng Trịnh Đình Dũng đề nghị các đại biểu tập trung làm rõ những nội dung chính trong khuôn khổ hội nghị.

Trước hết, cần đánh giá thực trạng; chỉ rõ những hạn chế, bất cập về cơ chế, chính sách cũng như những “điểm nghẽn” cản trở việc phát triển doanh nghiệp nông nghiệp, như: Quy hoạch, kế hoạch, hạ tầng; tiếp cận đất đai, tín dụng, thuế, giống; công nghệ; thị trường; thủ tục hành chính, vệ sinh an toàn thực phẩm…

Từ những đánh giá trên, cần xác định rõ giải pháp trước mắt và lâu dài để thúc đẩy doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp cũng như những giải pháp nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp.

“Cần tính đến các giải pháp tổng thể về quy hoạch; phát triển kết cấu hạ tầng; khuyến khích phát triển các ngành công nghiệp hỗ trợ trong lĩnh vực nông nghiệp; nâng cao năng lực dự báo, đổi mới công tác xúc tiến thương mại, phát triển thị trường…”, Phó Thủ tướng đề nghị.

Trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng hiện nay, cần chỉ rõ các giải pháp để doanh nghiệp Việt Nam tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu trong lĩnh vực nông nghiệp; tạo dựng được các thương hiệu Việt có uy tín trên thị trường quốc tế.

Phó Thủ tướng cũng đề nghị các đại biểu thảo luận các giải pháp đảm bảo thực hiện trách nhiệm của doanh nghiệp trong việc tuân thủ các quy định của pháp luật, những cam kết quốc tế; trách nhiệm bảo vệ môi trường; bảo đảm an toàn vệ sinh thực phẩm; thực hiện các chính sách xã hội, đặc biệt là bảo đảm lợi ích của người nông dân đã đóng góp đất đai cho doanh nghiệp.

Khẳng định vai trò, vị trí chiến lược của nông nghiệp

Theo Phó Thủ tướng, ngay từ đầu những năm 1980, các chủ trương, chính sách đúng đắn của Đảng, Nhà nước trong phát triển nông nghiệp (Khoán 10, Khoán 100) đã giải phóng sức sản xuất trong lĩnh vực nông nghiệp. Bên cạnh đó, cùng với việc thực hiện công cuộc đổi mới, đất nước ta đã đạt được nhiều thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử trong phát triển kinh tế, đặc biệt là trong lĩnh vực nông nghiệp. Từ một nước phải nhập khẩu lương thực, Việt Nam đã vươn lên thành một nước xuất khẩu nông sản hàng đầu thế giới.

Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 5/8/2008 của Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương khóa X về phát triển nông nghiệp, nông thôn, nông dân đã khẳng định vai trò và vị trí chiến lược của nông nghiệp, nông thôn và nông dân, đồng thời xác định doanh nghiệp là động lực chính để tái cơ cấu nền nông nghiệp và chỉ rõ mục tiêu phát triển doanh nghiệp nông thôn, trong đó có doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp.

Thực hiện chủ trương của Đảng, Chính phủ đã ban hành nhiều chính sách cụ thể để khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp (Nghị quyết về một số giải pháp chủ yếu cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia; Nghị quyết về hỗ trợ phát triển doanh nghiệp đến năm 2020; Nghị định về tín dụng đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn; Nghị định về cơ chế, chính sách khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn…).

Nhờ chủ trương và chính sách đúng đắn, thời gian qua, lĩnh vực nông nghiệp đã thu hút được nhiều doanh nghiệp, trong đó có các doanh nghiệp lớn, trong và ngoài nước đầu tư. Từ đó, ngành nông nghiệp nước ta đã có bước phát triển mạnh mẽ theo hướng sản xuất hàng hóa, Phó Thủ tướng nói.

Năng suất, chất lượng, hiệu quả trong lĩnh vực nông nghiệp đã từng bước được nâng cao. An ninh lương thực quốc gia được đảm bảo. Việt Nam đã có những sản phẩm nông nghiệp xuất khẩu chiếm vị thế cao trên thị trường thế giới.

Năm 2017, Việt Nam có hơn 9 mặt hàng nông sản xuất khẩu đạt kim ngạch hơn 1 tỷ USD gồm: Thuỷ sản 8,3 tỷ USD; rau quả 3,05 tỷ USD; hạt điều 3,5 tỷ USD; cà phê 3,24 tỷ USD; hạt tiêu 1,1 tỷ USD; gạo 2,6 tỷ USD; sắn và các sản phẩm từ sắn 1,03 tỷ USD…

6 tháng đầu năm 2018, nhiều sản phẩm nông nghiệp đạt kim ngạch xuất khẩu cao như: Thủy sản hơn 3,9 tỷ USD; cà phê 2 tỷ USD; rau quả 2 tỷ USD; gạo 1,8 tỷ USD; hạt điều 1,7 tỷ USD…

Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đã đạt được, nhìn chung ngành nông nghiệp nước ta vẫn còn phát triển thiếu bền vững; năng suất, chất lượng, hiệu quả chưa cao; sức cạnh tranh của nhiều sản phẩm còn thấp.

“Sản xuất nông nghiệp còn manh mún, quy mô nhỏ; đầu tư cho nông nghiệp còn thấp; ứng dụng khoa học công nghệ còn chậm; sản xuất nông nghiệp còn phụ thuộc nhiều vào thời tiết; thị trường tiêu thụ nông sản còn thiếu ổn định”, Phó Thủ tướng nhận xét.

Ảnh: VGP/Quang Hiếu

Doanh nghiệp giữ vai trò trung tâm

Trong thời gian tới, theo Phó Thủ tướng Trịnh Đình Dũng, việc nước ta hội nhập ngày càng sâu rộng với nền kinh tế toàn cầu, cùng với đó, những tác động nhanh chóng, sâu rộng của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4, những diễn biến phức tạp của thiên tai, biến đổi khí hậu, nước biển dâng… sẽ đặt ra những yêu cầu mới cho phát triển kinh tế nói chung, lĩnh vực nông nghiệp nói riêng.

“Lĩnh vực nông nghiệp sẽ không thể phát triển bền vững nếu không tập trung tái cấu trúc ngành, lĩnh vực, sản phẩm nông nghiệp, gắn với nhu cầu thị trường trong nước và thế giới; gắn với điều kiện phát triển của từng vùng, từng địa phương; gắn với ứng phó với biến đổi khí hậu, nước biển dâng”, Phó Thủ tướng khẳng định.

Do đó, phải đầu tư phát triển nông nghiệp theo chiều sâu, trong đó phải dựa vào đổi mới sáng tạo, ứng dụng khoa học công nghệ và nguồn nhân lực có chất lượng cao trong mọi quy trình từ sản xuất, thu hoạch, chế biến, bảo quản và tiêu thụ sản phẩm; đổi mới tổ chức sản xuất, cách thức tổ chức chuỗi cung ứng, chuỗi giá trị trong sản xuất nông nghiệp.

Để giải quyết những yêu cầu trên, việc thúc đẩy doanh nghiệp (trong đó có các hợp tác xã) đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp là nhân tố có ý nghĩa quyết định.

“Doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp sẽ đảm nhận vai trò trung tâm, từ cung cấp vốn, ứng dụng khoa học công nghệ, đào tạo nhân lực, cung cấp các dịch vụ đầu vào, tổ chức sản xuất – chế biến – bảo quản – đến tìm kiếm thị trường, xây dựng thương hiệu, tiêu thụ sản phẩm – tạo thành một chu trình khoa học, khép kín”, Phó Thủ tướng khẳng định.

Phó Thủ tướng Trịnh Đình Dũng cho rằng Hội nghị lần này là dịp để đánh giá một các nghiêm túc, khách quan, khoa học về những việc đã làm được cũng như những hạn chế, yếu kém trong việc thúc đẩy doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp thời gian qua.

Từ đó, đề ra những giải pháp thu hút nhiều doanh nghiệp cả trong và ngoài nước đầu tư phát triển nông nghiệp cũng như khuyến khích các hộ gia đình đầu tư mở rộng sản xuất, thành lập doanh nghiệp để đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp đạt hiệu quả cao hơn.

Thủ tướng chủ trì Hội nghị thúc đẩy đầu tư vào nông nghiệp

Sáng 30/7, tại thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc chủ trì Hội nghị toàn quốc về các giải pháp thúc đẩy doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp. Cùng dự có các Phó Thủ tướng: Vương Đình Huệ, Trịnh Đình Dũng và khoảng 600 đại biểu là lãnh đạo các bộ ngành, địa phương, các tổ chức quốc tế, chính trị-xã hội, cộng đồng doanh nghiệp…

Hội nghị là dịp để Thủ tướng Chính phủ cùng các cơ quan, bộ ngành, địa phương, doanh nghiệp nông nghiệp và các hiệp hội ngành nghề cùng nhìn lại, đánh giá tình hình đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp về các kết quả đạt được; những hạn chế, tồn tại; nguyên nhân và đề xuất giải pháp thúc đẩy doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp trong thời gian tới.

Cũng tại hội nghị, các Bộ trưởng, thành viên Chính phủ sẽ trả lời, đối thoại với các doanh nghiệp, hiệp hội, chuyên gia về nhiều vấn đề, nhất là doanh nghiệp nông nghiệp, một lực lượng được xác định có vai trò trụ cột thúc đẩy phát triển sản xuất nông nghiệp.

Hội nghị này nằm trong chuỗi các hội nghị chuyên đề được tổ chức thời gian qua như: Hội nghị toàn quốc về cơ chế một cửa quốc gia, một cửa ASEAN và tạo thuận lợi thương mại, Hội nghị về logistics, thúc đẩy xuất khẩu, các hội nghị liên quan đến cách mạng công nghiệp lần thứ 4…

Nguồn:baohaiquan