Gần 12 năm nợ kết quả kiểm tra chuyên ngành

(HQ Online)- Theo quy định, sau khi được cho mang hàng về bảo quản, doanh nghiệp (DN) phải nộp kết quả cho cơ quan Hải quan, nhưng nhiều trường hợp quá hạn 30 ngày, thậm chí hơn 10 năm vẫn chưa nộp.

Hơn 10 năm vẫn nợ kết quả

Theo Cục Hải quan TP.HCM, mặc dù cơ quan Hải quan và các đơn vị kiểm tra chuyên ngành đã tạo nhiều thuận lợi cho DN trong việc thực hiện kiểm tra chuyên ngành đối với hàng hóa XNK, tuy nhiên, đã có một số DN lợi dụng việc cho mang hàng về bảo quản, đã chây ỳ không nộp kết quả kiểm tra cho cơ quan Hải quan. Một số trường hợp còn tự ý đưa hàng ra thị trường tiêu thụ khi chưa có kết quả kiểm tra chuyên ngành.

Số liệu thống kê của Cục Hải quan TP.HCM cho thấy, hiện có 207 doanh nghiệp nợ kết quả kiểm tra chuyên ngành đối với hàng hóa nhập khẩu cho mang về bảo quản, chờ kết quả kiểm tra chuyên ngành. Đáng chú ý, theo tìm hiểu của chúng tôi, trong số doanh nghiệp nợ kết quả kiểm tra chuyên ngành có nhiều trường hợp nợ chứng từ này từ năm 2006, 2007, khiến cơ quan Hải quan phải ròng rã theo dõi, quản lý. Chẳng hạn, như trường hợp của Công ty TNHH SX TM DV Ngân Hải (MST 0303626692) được Chi cục Hải quan cửa khẩu cảng Sài Gòn khu vực III giải quyết cho mang hàng về bảo quản theo quy định từ năm 2006, nhưng đến nay đã gần 12 năm, công ty này vẫn còn nợ kết quả kiểm tra chuyên ngành của 6 lô hàng nhập khẩu.

Nhiều DN, như Công ty CP Liêu Việt, Công ty TNHH TMDV Song Chi, Công ty TNHH MTV Khang Lạc… nợ kết quả kiểm tra chuyên ngành sau khi được mang hàng về bảo quản từ năm 2010, nhưng đến nay vẫn chưa nộp kết quả kiểm tra chuyên ngành cho cơ quan Hải quan. Các trường hợp này, ngoài việc không được giải quyết cho mang hàng về bảo quản, Cục Hải quan TP.HCM còn thông báo danh sách các DN vi phạm trên đến các đơn vị Hải quan địa phương trong cả nước để phối hợp không cho mang hàng về bảo quản.

Bỏ trốn khỏi địa chỉ đăng ký kinh doanh

Không chỉ chây ỳ nộp kết quả kiểm tra chuyên ngành, một số DN còn bỏ trốn khỏi địa chỉ đăng kinh doanh sau khi được giải quyết mang hàng nhập khẩu về bảo quản.

Theo tìm hiểu của chúng tôi, trong số các DN nợ kết quả kiểm tra chuyên ngành có 5 DN lợi dụng quy định được mang hàng về bảo quản chờ kết quả kiểm tra chuyên ngành đã tự ý đưa hàng ra thị trường tiêu thụ, bỏ trốn khỏi địa chỉ đăng ký kinh doanh. Đối với những DN này, các chi cục hải quan đã cử công chức tới cơ quan quản lý địa phương xác minh, phát hiện DN đã bỏ trốn, mất tích, không còn hoạt động tại địa chỉ đăng ký kinh doanh và hàng hóa cũng không còn tại địa chỉ mang hàng về bảo quản.

Trường hợp của Công ty CP Sản xuất Thương mại XNK thực phẩm Á Châu (đường Lê Đức Thọ, phường 6, quận Gò Vấp TP.HCM) là một điển hình. Tháng 7/2014, DN này nhập khẩu lô hàng hơn 6,6 tấn kẹo bạc hà qua cảng Cát Lái- thuộc diện hàng nhập khẩu phải kiểm tra an toàn thực phẩm. Sau khi được cơ quan Hải quan giải quyết cho mang hàng về bảo quản theo quy định, nhưng sau đó DN không nộp kết quả kiểm tra vệ sinh an toàn thực phẩm cho cơ quan Hải quan để hoàn tất hồ sơ, thông quan lô hàng. Xác minh, kiểm tra tại địa chỉ đăng ký kinh doanh của DN, cơ quan Hải quan phát hiện DN không còn hoạt động tại địa chỉ này, cơ quan Thuế địa phương cũng xác nhận DN ngưng hoạt động, nhưng chưa làm thủ tục đóng mã số thuế. Đầu năm 2018, Chi cục Hải quan cửa khẩu cảng Sài Gòn khu vực I đã chuyển hồ sơ vụ việc này cho cơ quan Công an quận 2- TP.HCM để hỗ trợ điều tra, làm rõ.

Tương tự, tháng 2/2015, Công ty CP Đầu tư Dịch vụ Sài Gòn (MST 0312275747001) nhập khẩu lô hàng gồm hơn 1,8 tấn bột nền làm kem qua cảng Cát Lái. DN này được Chi cục Hải quan cửa khẩu cảng Sài Gòn khu vực I giải quyết cho mang hàng về bảo quản theo đề xuất của cơ quan kiểm tra chuyên ngành, chờ kết quả kiểm tra theo quy định. Tuy nhiên, quá thời hạn quy định, DN không nộp kết quả kiểm tra chuyên ngành, xác minh tại địa chỉ đăng ký kinh doanh của DN và cơ quan Thuế địa phương cho thấy, DN không còn hoạt động tại địa chỉ đăng ký kinh doanh, đồng thời cơ quan Thuế cũng cung cấp công văn DN đã giải thể. Hay trường hợp của Công ty TNHH Tư vấn –DV-TM Quốc Việt, nợ kết quả kiểm tra chuyên ngành của 2 lô hàng nhập khẩu từ tháng 9/2014. Hiện nay, cơ quan Hải quan đã xác định doanh nghiệp này không còn hoạt động tại địa chỉ đăng ký kinh doanh.

Theo Chi cục Hải quan cửa khẩu cảng Sài Gòn khu vực I, đối với các trường hợp trên, sau khi xác minh, điều tra và có đầy đủ căn cứ xác định “DN không bảo quản nguyên trạng hàng hóa tại địa điểm đã đề xuất mang về bảo quản” theo đúng quy định và đã bỏ trốn, mất tích khỏi địa chỉ đăng ký kinh doanh, các chi cục hải quan đã tập hợp chứng cứ và làm công văn chuyển thông tin trao đổi với cơ quan Công an để phối hợp xử lý theo quy định của pháp luật…

Nguồn:baohaiquan

Sẽ đánh giá độc lập kết quả thực hiện Cơ chế một cửa của các bộ, ngành

Thiết lập cơ chế giám sát, báo cáo và đánh giá độc lập về kết quả thực hiện Cơ chế một cửa quốc gia (NSW) là 1 trong 5 giải pháp quan trọng trong dự thảo Kế hoạch hành động thúc đẩy NSW, Cơ chế một cửa ASEAN (ASW), cải cách công tác kiểm tra chuyên ngành đối với hàng hóa XNK và tạo thuận lợi thương mại giai đoạn 2018 – 2020, đang được Bộ Tài chính xây dựng, trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt.

Tại Hội nghị trực tuyến toàn quốc về “Thúc đẩy NSW, ASW và tạo thuận lợi thương mại” được tổ chức tuần qua, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc yêu cầu Bộ Tài chính khẩn trương hoàn thiện dự thảo và trình Thủ tướng ban hành Kế hoạch hành động trong tháng 8.

Kế hoạch hành động được xem là động lực để đẩy nhanh thực hiện NSW, ASW trong thời gian tới. Một nội dung quan trọng trong dự thảo nhận được nhiều sự quan tâm là giải pháp để thúc đẩy thực hiện các cơ chế một cửa. Theo dự thảo được Bộ Tài chính xây dựng, có 5 nhóm giải pháp quan trọng được đề cập.

Nhóm giải pháp thứ nhất là hoàn thiện cơ sở pháp lý và cải cách thủ tục hành chính. Đối với việc hoàn thiện cơ sở pháp lý với những nội dung trọng tâm là xây dựng và trình Chính phủ ban hành Nghị định quy định thực hiện thủ tục hành chính thông qua NSW, ASW và kiểm tra chuyên ngành đối với hàng hóa XNK.

Việc ban hành Nghị định sẽ tạo hành lang pháp lý đầy đủ cho việc sử dụng, trao đổi chứng từ điện tử, hồ sơ điện tử đối với thủ tục hành chính trong nước và các nước, khối – cộng đồng kinh tế; tạo hành lang pháp lý đầy đủ cho việc trao đổi dữ liệu giữa các cơ quan Chính phủ trên nền tảng Cổng thông tin một cửa quốc gia để phục vụ công tác quản lý nhà nước; đảm bảo đầy đủ cơ sở pháp lý cho việc cung cấp dịch vụ công mức độ 4 thông qua NSW…

Nhóm giải pháp thứ hai, liên quan đến xây dựng, triển khai hệ thống CNTT. Theo đó, việc xây dựng và phát triển hệ thống CNTT phục vụ triển khai NSW, ASW sẽ hướng tới mục tiêu xử lý tập trung thông qua Cổng thông tin một cửa quốc gia, trên nền tảng công nghệ tiên tiến phù hợp với xu thế phát triển của cuộc cách mạng công nghệ 4.0 nhằm đáp ứng tiến độ triển khai theo cam kết của Chính phủ, tiết kiệm và đảm bảo hiệu quả đầu tư, tận dụng nguồn lực cũng như tăng cường khả năng bảo mật, an toàn thông tin.

Đồng thời sẵn sàng về mặt kỹ thuật để thực hiện ASW theo lộ trình và đảm bảo trao đổi, xử lý chứng từ thương mại với các nước, khối – cộng đồng kinh tế; giữa DN với DN nhằm tạo thuận lợi thương mại và tăng cường khả năng canh tranh quốc gia.

Một nội dung quan trọng khác trong nhóm giải pháp về CNTT là thí điểm thuê dịch vụ của bên thứ ba trong cung cấp các tiện ích cho cả DN và các cơ quan nhà nước trong thực hiện thủ tục hành chính thông qua NSW, ASW.

Nhóm giải pháp thứ ba là xây dựng và triển khai đề án quản lý hoạt động thương mại điện tử đối với hàng hóa XNK qua biên giới. Nhóm giải pháp này tập trung vào xây dựng và triển khai đề án tổng thể nhằm mục đích kết nối các cơ quan Chính phủ và các bên trong chuỗi cung ứng (bao gồm ngân hàng thương mại, bảo hiểm, DN xuất nhập khẩu và logistics…) liên quan đến các hoạt động thương mại điện tử đối với hàng hóa XNK qua biên giới trên nền NSW, ASW.

Thực hiện mục tiêu trên cần hoàn thiện chính sách quản lý hoạt động thương mại điện tử qua biên giới đối với hàng hóa XNK; nghiên cứu, ban hành các thủ tục hành chính nhằm quản lý hoạt động thương mại điện tử đối với hàng XNK qua biên giới; thiết lập cơ chế thanh toán, bảo lãnh và xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về giao dịch và thương mại điện tử đối với hàng hóa XNK qua biên giới.

Nhóm giải pháp thứ tư, liên quan đến đào tạo, tuyên truyền và hỗ trợ. Nội dung quan trọng của nhóm giải pháp này là xây dựng tài liệu tuyên truyền, hướng dẫn thực hiện NSW, ASW; xây dựng cơ chế và tổ chức hỗ trợ người sử dụng trên Cổng thông tin một cửa quốc gia; xây dựng kế hoạch, triển khai đào tạo, tuyên truyền, nâng cao nhận thức cho người dân, DN về NSW.

Mặt khác, cần tổ chức hỗ trợ tốt cho các cơ quan, tổ chức, DN tham gia NSW; tổ chức đào tạo đội ngũ cán bộ chuyên trách về CNTT ở các cơ quan quản lý nhà nước các cấp để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ về CNTT; đào tạo, tập huấn cho công chức các bộ, ngành thực hiện xử lý thông tin trên Cổng thông tin một cửa quốc gia…

Giải pháp trọng tâm thứ năm, được đề cập là thiết lập cơ chế giám sát, báo cáo và đánh giá độc lập. Giải pháp này nhằm xây dựng và thiết lập cơ chế giám sát việc tổ chức thực hiện các nhiệm vụ của các bộ, ngành theo chương trình, kế hoạch của Chính phủ thông qua việc công bố ấn phẩm về các báo cáo thường niên liên quan đến đo lường thời gian thực hiện các thủ tục hành chính và thông quan hải quan; đánh giá mức độ hài lòng của cộng đồng DN trong quá trình thực hiện các dịnh vụ công thông qua NSW.

Nguồn:baohaiquan

Doanh nghiệp mong các bộ, ngành sớm hoàn thiện cơ chế một cửa

(HQ Online)- Nguyên tắc trong cải cách thủ tục hành chính là hướng tới đổi mới phương thức làm việc của các cấp chính quyền, trong đó Cơ chế một cửa được xem là giải pháp tối ưu để nâng cao trách nhiệm giải quyết công việc.

Cơ chế một cửa là mô hình quản lý tiên tiến, hiện đại, tạo thuận lợi cho DN và người dân, giúp minh bạch hoạt động, rút ngắn thời gian làm việc và giảm thiểu chi phí, trong đó phải kể đến các chi phí không chính thức. Vì thế, các cơ quan, bộ, ngành đều đang nỗ lực thực hiện triển khai cơ chế này; VCCI cũng đã sẵn sàng và đã đạt được kết quả nhất định, với thủ tục cấp giấy chứng nhận xuất xứ không ưu đãi đi ASEAN (C/O mẫu B).

Với những nỗ lực trên, các DN sẽ có thêm động lực và niềm tin để thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ của DN, tạo môi trường kinh doanh thuận lợi, thúc đẩy thương mại qua biên giới, đảm bảo yêu cầu hội nhập và hỗ trợ cho hoạt động XNK của Việt Nam.

Thay mặt cộng đồng DN Việt Nam, tôi rất hoan nghênh các bộ, ngành đã hoàn thành kế hoạch như mục tiêu đề ra; mong rằng, các bộ, ngành chưa hoàn thành phải lấy đó là mục tiêu phấn đấu và cố gắng tối đa, có sự phối hợp đồng bộ để giúp Cơ chế một cửa hoạt động thông suốt, hiệu quả.

Nguồn:baohaiquan

Kết quả thực hiện Cơ chế một cửa quốc gia của 11 bộ, ngành

(HQ Online)- Theo kết quả cập nhật của Tổng cục Hải quan- Cơ quan Thường trực Ủy ban chỉ đạo quốc gia về Cơ chế một cửa ASEAN, Cơ chế một cửa quốc gia và tạo thuận lợi thương mại, đến 15/7, có 53 thủ tục hành chính của 11 bộ, ngành kết nối Cơ chế một cửa quốc gia (chưa tính thủ tục trong lĩnh vực của Bộ Tài chính) với gần 1,34 triệu hồ sơ của 22.800 DN được xử lý. Dưới đây là kết quả triển khai cụ thể của từng bộ, ngành.

Bộ Công Thương sẽ thực hiện trong giai đoạn 2016 – 2018 là 17 thủ tục. Đến nay, thực hiện 6/17 thủ tục, đạt 35,3% và sẽ tiếp tục thực hiện thêm 11 thủ tục còn lại đến cuối năm 2018.

Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn thực hiện 23 thủ tục trong giai đoạn 2016 – 2018. Đến nay, thực hiện 13/23 thủ tục, đạt 56,5% và sẽ tiếp tục thực hiện thêm 10 thủ tục còn lại đến cuối năm 2018. Đến năm 2020 sẽ hoàn thành 33/33 thủ tục.

Bộ Khoa học và Công nghệ thực hiện 6 thủ tục trong giai đoạn 2016 – 2018. Đến nay, thực hiện 4/6 thủ tục (trong đó có 3 thủ tục vừa công bố triển khai chính thức), đạt 66,7% và sẽ tiếp tục thực hiện thêm 2 thủ tục còn lại đến cuối năm 2018. Đến năm 2020 sẽ hoàn thành 8/8 thủ tục.

Bộ Giao thông vận tải thực hiện 87 thủ tục trong giai đoạn 2016 – 2018. Đến nay thực hiện 12/87 thủ tục, đạt 13,8% và sẽ tiếp tục thực hiện thêm 75 thủ tục còn lại đến cuối năm 2018. Đến năm 2020 sẽ hoàn thành 87/87 thủ tục.

Bộ Y tế giai đoạn 2016 – 2018 thực hiện 28 thủ tục. Đến nay, thực hiện 5/28 thủ tục (trong đó có 1 thủ tục đã triển khai nhưng bị bãi bỏ), đạt 17,8% và sẽ tiếp tục thực hiện thêm 23 thủ tục còn lại đến cuối năm 2018. Đến năm 2020 sẽ hoàn thành 42/42 thủ tục, gồm cả 1 thủ tục đã triển khai nhưng bị bãi bỏ.

Bộ Tài nguyên và Môi trường sẽ thực hiện trong giai đoạn 2016 – 2018 16 thủ tục. Đến nay, thực hiện 4/16 thủ tục, đạt 25%, đang kiểm tra kết nối để triển khai chính thức 7 thủ tục mới và sẽ tiếp tục thực hiện thêm 5 thủ tục nữa đến cuối năm 2018. Đến năm 2020 sẽ hoàn thành 18/18 thủ tục.

Bộ Quốc phòng thực hiện trong giai đoạn 2016 – 2018 9 thủ tục. Đến nay, thực hiện 3/9 thủ tục, đạt 33,3% và sẽ tiếp tục thực hiện thêm 6 thủ tục còn lại đến cuối năm 2018. Đến năm 2020 sẽ hoàn thành 22/22 thủ tục.

Hàng hóa XNK thuộc phạm vi quản lý chuyên ngành của Bộ Quốc phòng mang tính đặc thù, cần đáp ứng yêu cầu cao về an ninh, an toàn và bảo vệ cộng đồng. Do đó, các thủ tục này cần cân nhắc khi đưa vào triển khai trên Cơ chế một cửa quốc gia.

Bộ Thông tin và Truyền thông đến nay kết nối 1 thủ tục. Sau khi rà soát, tổng số thủ tục Bộ Thông tin và Truyền thông sẽ thực hiện trong giai đoạn 2016 – 2018 là 1 thủ tục. Đến năm 2020 sẽ hoàn thành 4/4 thủ tục.

Ngân hàng Nhà nước, theo Quyết định 2185/2016/QĐ-TTg, Ngân hàng Nhà nước có 1 thủ tục triển khai qua Cơ chế một cửa quốc gia giai đoạn 2016-2018. Đến nay, Ngân hàng Nhà nước đã sẵn sàng các điều kiện trang thiết bị, cấu hình cho việc kết nối mạng với Tổng cục Hải quan, đồng thời đang phối hợp với Tổng cục Hải quan xây dựng phương thức kết nối và thử nghiệm trao đổi về mặt kỹ thuật, dự kiến sẽ triển khai chính thức thủ tục này trong quý IV/2018, hoàn thành 100% mục tiêu giai đoạn 2016-2018. Đến năm 2020 sẽ hoàn thành 5/5 thủ tục.

Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, sau khi rà soát, tổng số thủ tục Bộ sẽ thực hiện trong giai đoạn 2016 – 2018 là 6 thủ tục. Đến nay, thực hiện 1/6 thủ tục, đạt 16,7% và sẽ tiếp tục thực hiện thêm 5 thủ tục còn lại đến cuối năm 2019. Đến năm 2020 sẽ hoàn thành 6/6 thủ tục.

Hàng hóa xuất nhập khẩu thuộc phạm vi quản lý chuyên ngành của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch mang tính đặc thù, cần đáp ứng yêu cầu cao để đảm bảo phù hợp thuần phong mỹ tục, giữ gìn đạo đức xã hội, bảo vệ cộng đồng, an ninh an toàn trật tự xã hội, bản quyền tác giả và tạo điều kiện thúc đẩy sản xuất sản phẩm văn hóa trong nước. Do đó, các thủ tục này cần xem xét kỹ lưỡng khi đưa vào triển khai trên Cơ chế một cửa quốc gia.

Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) đến nay đã kết nối và triển khai 1 thủ tục cấp C/O mẫu B đi ASEAN theo Quyết định 2185/2016/QĐ-TTg giai đoạn 2016-2018. Tuy nhiên số lượng hồ sơ khai báo còn ít do doanh nghiệp lựa chọn C/O mẫu D được hưởng ưu đãi thuế cho các lô hàng xuất khẩu đi thị trường ASEAN là chủ yếu. Đến năm 2020 sẽ triển khai mở rộng việc cấp C/O đi các thị trường khác.

Bên cạnh đó, từ ngày 15/11/2017, Cơ chế một cửa quốc gia đã được triển khai tại các cảng hàng không quốc tế trên cả nước (3 thủ tục đối với tàu bay xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh) với sự tham gia kết nối của trên 40 hãng hàng không quốc tế khai thác các chuyến bay chở hành khách và hàng hóa đến Việt Nam và xuất phát từ Việt Nam.

Nguồn:baohaiquan

Hải quan còn nặng “vai” đầu mối thúc đẩy kiểm tra chuyên ngành

(HQ Online)- Chỉ thị 20/CT-TTg về tăng cường cải cách hoạt động kiểm tra chuyên ngành (KTCN) và cắt giảm, đơn giản hóa điều kiện kinh doanh vừa được Thủ tướng Chính phủ ký ban hành, với những yêu cầu không chậm trễ trong từng nhiệm vụ. Bộ Tài chính (Tổng cục Hải quan) tiếp tục vai trò là đầu mối, phối hợp với các bộ triển khai các nhiệm vụ.

Kết quả đạt được

Năm 2015, Bộ Tài chính (Tổng cục Hải quan) đã “định hình” được bức tranh toàn diện những hạn chế, bất cập của công tác quản lý, KTCN, kiến nghị Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định 2026/QĐ-TTg ngày 17/11/2015 về phê duyệt Đề án giải pháp nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động KTCN đối với hàng hóa XK, NK, giao các bộ, ngành thực hiện các giải pháp được nêu trong Đề án; đặc biệt là việc “điểm danh” được 87 văn bản đang gây khó khăn cho hoạt động XNK.

Để việc triển khai các giải pháp của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ được kịp thời, Bộ Tài chính (Tổng cục Hải quan) đã đưa ra kiến nghị quan trọng, đó là cần thiết phải có đơn vị theo dõi, đôn đốc việc thực hiện các chỉ đạo ở các bộ, ngành.

Cụ thể, tại Báo cáo số 43/BC-BTC ngày 12/5/2017 về tình hình và kết quả thực hiện Quyết định số 2026/QĐ-TTg và Nghị quyết 19-2016/NQ-CP về công tác KTCN đối với hàng hóa XNK, Bộ Tài chính đã kiến nghị Thủ tướng Chính phủ bổ sung nhiệm vụ cho Tổ công tác của Chính phủ theo dõi, đôn đốc tiến độ xây dựng và hoàn thiện thể chế liên quan đến việc sửa đổi, bổ sung văn bản quy phạm pháp luật về công tác quản lý và KTCN nêu tại Quyết định 2026/QĐ-TTg và các Nghị quyết 19/NQ-CP về các nhiệm vụ, giải pháp cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.

Sự “vào cuộc” của Chính phủ bằng việc lần đầu tiên Tổ công tác của Thủ tướng Chính phủ đã trực tiếp làm việc với các bộ, ngành để nắm bắt, đôn đốc việc cải cách công tác KTCN hàng hóa XNK. Cũng từ đó, Tổ công tác đã báo cáo Chính phủ những vấn đề bất cập, những thủ tục hành chính nhiêu khê, phức tạp gây khó khăn cho hoạt động sản xuất, kinh doanh của DN.

Ngoài việc kiến nghị các bộ, ngành về việc thực hiện các giải pháp cải cách thủ tục KTCN, Tổng cục Hải quan đã chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành tổ chức đợt làm việc tập trung để áp mã số HS đối với danh mục hàng hóa chuyên ngành.

Đến nay các bộ, ngành đã sửa đổi, bổ sung 80/87 văn bản (chiếm 92%) yêu cầu; nhiều danh mục hàng hóa KTCN được cắt giảm, chuyển kiểm tra sau thông quan; bãi bỏ một số quy định không còn phù hợp; hơn 60 danh mục hàng hóa thuộc diện quản lý và KTCN được áp mã số HS phù hợp với Danh mục hàng hóa XK, NK ban hành kèm theo Thông tư 65/2017/TT-BTC.

Một số văn bản nổi bật như: Thông tư số 07/2017/TT-BKHCN ngày 16/6/2017 của Bộ Khoa học và Công nghệ cắt giảm hơn 90% mặt hàng phải kiểm tra chất lượng trước khi thông quan;

Thông tư số 23/2016/TT-BCT ngày 12/10/2016 bãi bỏ Thông tư số 37/2015/TT-BCT ngày 30/10/2015 của Bộ Công Thương quy định về mức giới hạn và việc kiểm tra hàm lượng formaldehyt và amin thơm chuyển hóa từ thuốc nhuộm azo trong sản phẩm dệt may;

Thông tư số 14/2017/TT-BCT ngày 8/8/2017 của Bộ Công Thương bãi bỏ quy định cấp Giấy phép NK tự động đối với mặt hàng thép;

Thông tư số 28/2017/TT-BNNPTNT ngày 25/12/2017 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cắt giảm danh mục các mặt hàng nhóm 2 phải kiểm tra trước thông quan như máy móc, thiết bị nông nghiệp; chuyển kiểm tra sau thông quan đối với một số nhóm hàng như giống vật nuôi, giống cây trồng lâm nghiệp.

Hay như Nghị định 55/2017/NĐ-CP ngày 9/5/2017 quản lý nuôi, chế biến và XK cá tra không yêu cầu doanh nghiệp phải nộp xác nhận đáp ứng điều kiện XK cá tra cho cơ quan Hải quan khi làm thủ tục XK;

Nghị định 108/2017/NĐ-CP ngày 20/9/2017 bãi bỏ việc phải nộp Giấy chứng nhận hợp quy phân bón NK cho cơ quan Hải quan.

Ngoài ra, việc thay đổi phương thức kiểm tra cũng tác động đáng kể tới số lượng lô hàng phải KTCN trước thông quan. Như Bộ Y tế đã tham mưu trình Chính phủ ban hành Nghị định số 15/2018/NĐ-CP ngày 2/2/2018 thay thế Nghị định số 38/2012/NĐ-CP ngày 25/4/2012 quy định chi tiết thi hành một số Điều của Luật An toàn thực phẩm theo hướng tạo thuận lợi cho doanh nghiệp, quy định các phương thức kiểm tra phù hợp theo mức độ tuân thủ pháp luật của doanh nghiệp, bổ sung thêm nhiều đối tượng được miễn kiểm tra… Theo đó, cắt giảm 95% lô hàng NK phải kiểm tra nhà nước về ATTP.

Tuy đã đạt được nhiều kết quả khả quan, nhưng hoạt động KTCN vẫn còn nhiều tồn tại cần các cơ quan quản lý nhà nước vào cuộc.

Thủ tướng hối thúc tiến độ triển khai

Trước tồn tại trong công tác cải cách hoạt động KTCN và cắt giảm, đơn giản hóa điều kiện kinh doanh, cuối tuần qua, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Chỉ thị số 20/CT-TTg.

Theo đó, Thủ tướng yêu cầu trước 15/8/2018, các bộ, cơ quan ngang bộ hoàn thành việc ban hành theo thẩm quyền và trình cấp có thẩm quyền các văn bản để thực thi phương án cải cách hoạt động KTCN, cắt giảm, đơn giản hóa điều kiện kinh doanh bằng hình thức một văn bản sửa nhiều văn bản theo quy trình, thủ tục rút gọn.

Văn bản thực thi phương án cải cách hoạt động KTCN phải đáp ứng yêu cầu cắt giảm, đơn giản hóa ít nhất 50% danh mục hàng hóa, sản phẩm và thủ tục KTCN; danh mục hàng hóa, sản phẩm KTCN phải gắn mã HS; một sản phẩm, hàng hóa XK, NK chỉ do một bộ, cơ quan ngang bộ hoặc một đơn vị thuộc bộ, cơ quan ngang bộ chịu trách nhiệm quản lý; phương thức quản lý chuyển từ chủ yếu tiền kiểm sang chủ yếu hậu kiểm gắn với nguyên tắc quản lý rủi ro, đánh giá mức độ tuân thủ pháp luật của tổ chức, cá nhân; không áp dụng hình thức kiểm tra đối với từng lô hàng, trừ kiểm dịch.

Đối với Tổng cục Hải quan, với vai trò là đầu mối, phối hợp với các Bộ liên quan triển khai thực hiện Quyết định 2026/QĐ-TTg, Tổng cục Hải quan (Bộ Tài chính) tiếp tục tích cực phối hợp các bộ, ngành triển khai các giải pháp cải cách toàn diện hoạt động KTCN đối với hàng hóa XNK theo đúng mục tiêu cắt giảm thủ tục KTCN đã được Chính phủ chỉ đạo. Cụ thể rà soát để cắt giảm và đơn giản hóa Danh mục hàng hóa thuộc diện quản lý và KTCN trước khi thông quan; chỉ thực hiện quản lý và KTCN trước thông quan đối với những hàng hóa có nguy cơ rủi ro cao gây mấ́t an toàn, gây nguy hại cho sức khỏe, tính mạng con người, gây ô nhiễm môi trường, đạo đức xã hội, thuần phong mỹ tục, nguy hại cho kinh tế, cho an ninh quốc gia.

Hoàn thiện trình Chính phủ ban hành Nghị định quy định thực hiện thủ tục hành chính thông qua Cơ chế một cửa quốc gia, Cơ chế một cửa ASEAN và KTCN đối với hàng hóa xuất khẩu. Rà soát, xây dựng và hoàn thiện hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý và KTCN vừa tạo thuận lợi cho hoạt động xuất nhập khẩu, vừa đảm bảo yêu cầu quản lý của nhà nước theo đúng tiến độ.

Chủ tịch Phòng Thương mại và công nghiệp Việt Nam (VCCI) Vũ Tiến Lộc: Hoạt động KTCN còn nhiều bất cập

Qua kết quả thống kê của VCCI đối với dạnh mục hàng hóa, thủ tục hành chính KTCN đối với hàng hóa xuất NK vẫn còn những bất cập.

Thứ nhất, nhiều hoạt động KTCN còn chưa rõ ràng về các loại hàng hóa phải kiểm tra, không có danh mục hàng hóa cụ thể phải kiểm tra gây bất cập trong thực tế triển khai khi các chủ thể áp dụng, khó nhận diện hàng hóa phải được kiểm soát.

Thứ hai, các biện pháp quản lý về an toàn thực phẩm còn chưa áp dụng cơ chế quản lý mới nêu trong Nghị định 15/2018/NĐ-TTg.

Thứ ba, có sự chồng lấn thiếu rõ ràng cơ chế quản lý về an toàn thực phẩm đối với hoạt động kiểm dịch động thực vật.

Thứ tư, chưa có quy định đồng bộ trong quy trình vận hành giữa các hoạt động KTCN liên quan đến kiểm tra chất lượng hàng hóa.

Thứ năm, việc áp dụng rủi ro trong hoạt động KTCN chưa được nhiều cơ quan, tổ chức KTCN áp dụng dẫn đến tình trạng tất cả các lô hàng đều chịu kiểm tra kể cả các trường hợp rủi ro, vi phạm thấp.

Thứ sáu, công tác xã hội hóa hoạt động KTCN giao cho các tổ chức xã hội phù hợp để thực hiện KTCN mới chỉ được một số bộ, ngành triển khai như Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, Bộ Công Thương, Bộ Y tế.

Quang Hùng (ghi)

Nguồn:baohaiquan

Các bộ, ngành bàn giải pháp quản lý phế liệu nhập khẩu

(HQ Online)-Ngày 12/7, Bộ Tài nguyên và Môi trường (TN&MT) phối hợp với Bộ Tài chính, Bộ Công an, Bộ Công Thương, Bộ Tư pháp và Tổng cục Hải quan… tổ chức cuộc họp về quản lý nhập khẩu phế liệu và sử dụng phế liệu làm nguyên liệu sản xuất. Bộ trưởng Bộ TN&MT Trần Hồng Hà chủ trì. 

Sẽ rà soát các quy định pháp luật

Tại cuộc họp, các bộ, ngành cùng nhau bàn giải pháp giải quyết tình trạng phế liệu nhập khẩu đang tồn đọng tại các cảng Tân cảng Cát Lái, Tân cảng Cái Mép, Hải Phòng… và đưa ra giải pháp quản lý nhập khẩu phế liệu trong lâu dài.

Phát biểu tại cuộc họp, Bộ trưởng Bộ TN&MT Trần Hồng Hà cho biết: “Tình hình môi trường của các nước trên thế giới cũng đã đến ngưỡng nên nhiều nước đã thay đổi chính sách không nhập khẩu phế liệu. Việt Nam cũng đã có cơ chế chính sách phòng ngừa việc nhập khẩu phế liệu từ xa. Tuy nhiên, vấn đề nhập khẩu phế liệu không chỉ riêng Bộ TN&MT và các địa phương có thể làm được, bởi liên quan đến chính sách môi trường, thương mại, tội phạm trên toàn cầu…”.

Bộ trưởng Trần Hồng Hà cho biết thêm, hiện nay lượng container vô chủ nhập khẩu sai tên mặt hàng so với tờ khai, gian lận để đưa các loại phế liệu và container hàng hóa vào Việt Nam. Do đó, cuộc họp này, các bộ, ngành liên quan cần phải xem xét nguyên nhân vì sao không kiểm soát được vấn đề đó và xác định tổ chức cá nhân cố tình vi phạm và gian lận.

Ông Hoàng Văn Thức, Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Môi trường (Bộ Tài nguyên và Môi trường) đánh giá: Thời gian vừa qua, một số lượng lớn phế liệu nhập khẩu đang tồn đọng tại các cảng như TP. HCM, Hải Phòng, Cái Mép. Việc tồn đọng các container phế liệu làm ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất, kinh doanh của các cảng; làm chậm lưu thông hàng hóa; giảm dung lượng bãi chứa container; ảnh hưởng đến hoạt động của Hải quan và các hãng tàu; làm gia tăng chi phí của doanh nghiệp.

Tổng cục Môi trường cũng đề xuất các giải pháp quản lý mặt hàng phế liệu nhập khẩu như: Rà soát, hoàn thiện các hệ thống quy phạm pháp luật về quản lý phế liệu nhập khẩu; xây dựng cơ chế phối hợp liên ngành để giảm sát chặt chẽ, chia sẻ thông về cơ sở nhập khẩu phế liệu; tăng cường công tác giám định giám sát chất lương phế liệu nhập khẩu…

Nhiều vướng mắc

Tại cuộc họp, Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Hải quan Mai Xuân Thành chia sẻ những vướng mắc trong quản lý các mặt hàng phế liệu và cho biết, trong thời gian qua phế liệu tồn động nhiều ở Tân cảng Cát Lái nên đơn vị này đã không cho các tàu dỡ hàng xuống cảng thì lập tức phế liệu lại được chuyển sang các cảng khác. Đồng thời, đã xảy ra tình trạng gian lận trong nhập khẩu phế liệu như: Tên địa chỉ đơn vị nhận hàng mập mờ, nếu cơ quan điều tra không làm việc với những đơn vị đó sẽ có người nhận hàng, nhưng khi cơ quan điều tra làm việc thì không có người đến nhận hàng. “Như vậy, đối với những hàng phế liệu vô chủ sẽ xử lý theo quy định nào?”, ông Thành đặt câu hỏi.

“Theo tôi, phải cương quyết không cho dỡ hàng từ tàu xuống cảng khi không có Giấy xác nhận đủ điều kiện bảo vệ môi trường trong nhập khẩu phế liệu làm nguyên liệu sản xuất do Bộ TN&MT cấp”, ông Thành nói.

Theo ông Thành, cơ quan Hải quan cũng gặp nhiều vướng mắc ở những quy đình tại Thông tư 41/2015/TT-BTNMT về bảo vệ môi trường trong nhập khẩu phế liệu làm nguyên liệu sản xuất. Bên cạnh đó, khi Bộ TN&MT và Sở TN&MT cấp Giấy xác nhận đủ điều kiện bảo vệ môi trường trong nhập khẩu phế liệu làm nguyên liệu sản xuất không thông báo cho cơ quan Hải quan, nên không biết doanh nghiệp nhập bao nhiêu phế liệu. Việc lấy mẫu phế liệu để giám định tại cảng không khả thi vì có hàng nghìn container sẽ ảnh hưởng đến thời gian tại cảng.

Luật Bảo vệ môi trường đang tồn tại định nghĩa phế liệu và phế thải mang tính hàn lâm dẫn đến việc khai báo tên hàng không rõ ràng. Như túi ni-lon, bao tải không biết trước đó sử dụng cái gì nhưng doanh nghiệp khai báo rằng đã qua sử dụng nhưng vẫn được sử dụng tiếp. Như vậy, doanh nghiệp đang lách tên gọi để tránh sự quản lý của cơ quan nhà nước.

Ông Trịnh Thế Cường, Trưởng phòng Vận tải và Dịch vụ hàng hải, Cục Hàng hải (Bộ Giao thông vận tải) cho biết, để giảm tình trạng phế liệu không rõ chủ hàng nhập khẩu vào Việt Nam cần thiết yêu cầu các chủ hàng đặt cược tiền để tránh thiệt hại cho doanh nghiệp vận tải. Đồng thời, yêu cầu các chủ hàng xuất trình Giấy xác nhận đủ điều kiện bảo vệ môi trường trong nhập khẩu phê liệu làm nguyên liệu sản xuất do Bộ TN&MT cấp. Cục Hàng hải cũng đã tham mưu cho Bộ giao thông vận tải và Chính phủ thực hiện phân luồng hàng phế liệu nhập về các cảng.

Tại cuộc họp, Bộ TN&MT cũng đã tiếp thu ý kiến góp ý từ đại diện của Bộ Công Thương, Bộ Công an, Bộ Tư pháp. Kết luận cuộc họp, Bộ trưởng Trần Hồng Hà khẳng định: “Trong thời gian tới, sẽ rà soát lại các quy định về nhập khẩu phế liệu và Luật Bảo vệ môi trường để có điều chỉnh phù hợp. Đồng thời, sẽ kiến nghị Thủ tướng Chính phủ xem xét lại danh mục hàng hóa nào thuộc loại hiệu quả sử dụng thấp và có nguy cơ ô nhiễm môi trường thì bỏ đi… Việc xử lý phế liệu tồn đọng tại cảng UBND các tỉnh phối hợp với các bộ, ngành liên quan để đưa ra hướng giải quyết phù hợp”.

Nguồn:baohaiquan

Hải Phòng: Gần 135.000 lô hàng kiểm tra chuyên ngành, chỉ 0,2% vi phạm

(HQ Online)- Khu vực cảng Hải Phòng có số lượng hàng hóa kiểm tra chuyên ngành lớn nhưng việc phát hiện vi phạm rất ít và chủ yếu vi phạm hành chính. Điều này đang gây rào cản lớn trong tạo thuận lợi cho cộng đồng DN, giảm thời gian thông quan hàng hóa XNK.

Mới đây, Cục Hải quan Hải Phòng đề nghị các bộ, ngành chức năng một loạt giải pháp tháo gỡ khó khăn trong công tác quản lý, kiểm tra chuyên ngành đối với hàng hóa XNK.

Đó là quy định áp dụng quản lý rủi ro trong kiểm tra chuyên ngành; ban hành danh mục quản lý chuyên ngành theo mã số HS để thực hiện thống nhất; mở rộng tổ chức kiểm tra chuyên ngành được chỉ định; loại bỏ sự chồng chéo trong quản lý, kiểm tra với cùng một mặt hàng…

Bên cạnh đó, Hải quan Hải Phòng đề nghị các bộ, ngành áp dụng việc giảm tỷ lệ kiểm tra dựa trên đánh giá tuân thủ của DN; thông báo kết quả kiểm tra tới DN và cơ quan Hải quan để chủ động tra cứu giúp giảm được thời gian thông quan…

Thực tế từ công tác quản lý ở cơ sở, Cục Hải quan Hải Phòng cho rằng, hoạt động quản lý, kiểm tra chuyên ngành vẫn đang bộc lộ rất nhiều hạn chế, bất cập như số lượng hàng hóa phải kiểm tra lớn, cách thức thực hiện phức tạp ảnh hưởng đến thời gian thông quan.

Mặt khác, vẫn tồn tại tình trạng một mặt hàng chịu sự quản lý của nhiều cơ quan, bộ, ngành, như trường hợp hàng hóa vừa phải có Giấy chứng nhận hợp quy vừa phải có Giấy chứng nhận điều kiện nhập khẩu…

Ngoài ra, việc tra cứu thông tin kết quả kiểm tra chuyên ngành của các bộ, ngành trên Cổng thông tin một cửa quốc gia còn nhiều hạn chế do chưa có chức năng theo dõi, trừ lùi giấy phép với lô hàng nhập khẩu nhiều lần; chưa có chức năng tự động thông báo kết quả kiểm tra của cơ quan chuyên ngành đến cơ quan Hải quan…

Đáng chú ý, Cục Hải quan Hải Phòng đưa ra thông tin hết sức đáng quan tâm là số lượng tờ khai phải kiểm tra chuyên ngành lớn nhưng tỷ lệ phát hiện vi phạm rất ít và chủ yếu liên quan đến vi phạm hành chính.

Cập nhật trong quý I/2018, toàn Cục có 32.896 tờ khai phải kiểm tra chuyên ngành (chủ yếu là hàng hóa nhập khẩu) nhưng cơ quan quản lý chuyên ngành chỉ phát hiện 36 tờ khai vi phạm, tương đương tỉ lệ 0,1%, với hành vi chủ yếu là chậm nộp kết quả kiểm tra.

Hay trong năm 2017, toàn Cục có 134.871 tờ khai thuộc diện kiểm tra chuyên ngành, nhưng số lượng phát hiện vi phạm chỉ là 272 tờ khai, tương đương 0,2% và hành vi chủ yếu vẫn là chậm nộp kết quả.

Nguồn:baohaiquan

Doanh nghiệp vẫn bức xúc về kiểm tra chuyên ngành

(HQ Online)- Tham dự buổi Tọa đàm “Hải quan- Doanh nghiệp: Kết nối – Chia sẻ- Đồng hành” do Tổng cục Hải quan tổ chức sáng 21/6, tại Hà Nội, nhiều doanh nghiệp bày tỏ bức xúc về vấn đề kiểm tra chuyên ngành; thực hiện Cơ chế một cửa quốc gia (NSW)…

Đồng hành cùng doanh nghiệp

Phát biểu tại buổi Tọa đàm, đại diện nhiều DN, hiệp hội DN trong nước và nước ngoài đánh giá cao công tác cải cách, hiện đại hóa của ngành Hải quan, điều này góp phần quan trọng vào tạo thuận lợi cho hoạt động XNK, giảm thời gian thông quan hàng hóa. Tuy nhiên, công tác cải cách chưa được thực hiện đồng bộ giữa các bộ, ngành.

Đại diện Hiệp DN chế biến và xuất khẩu thủy sản Việt Nam (VASEP), đánh giá cao quan điểm của lãnh đạo ngành Hải quan trong việc coi DN là đối tác để chia sẻ, đồng hành. Đặc biệt, quá trình hoạt động, nhất là xây dựng văn bản pháp luật, Tổng cục Hải quan luôn cầu thị, ghi nhận ý kiến đóng góp của cộng đồng DN.

Bên cạnh đó, khi VASEP và hội viên có vướng mắc, Tổng cục Hải quan trực tiếp gặp gỡ, đối thoại, xử lý kịp thời.

Chung quan điểm, đại diện Diễn đàn kinh tế tư nhân, đánh giá tích cực nhận thức, khả năng đổi mới, đồng hành cùng DN của ngành Hải quan; nhất là các phương thức đang và đang triển khai để giảm thời gian thông quan, giảm tiếp xúc trực tiếp giữa DN và công chức hải quan…

Theo đại diện Diễn đàn kinh tế tư nhân, thời gian qua, Tổng cục Hải quan đã chủ động liên hệ với DN để đề nghị tham vấn, trao đổi, đối thoại… nhờ đó các vướng mắc, khó khăn được kịp thời tháo gỡ. Nhưng đại diện Diễn đàn kinh tế tư nhân cho rằng điều cần thực hiện liên tục.

Đại diện Diễn đàn kinh tế tư nhân cho rằng, một trong những vướng mắc lớn nhất hiện nay trong quá trình thông quan hàng hóa XNK liên quan đến vấn đề quản lý, kiểm tra chuyên ngành hàng hóa XNK. Do vậy, lãnh đạo các cấp cần đẩy mạnh xã hội hóa công tác KTCN, đồng thời cần phát triển và nâng cao hiệu quả hoạt động của đại lý hải quan; hiệu quả công tác kiểm tra chất lượng, cấp chứng chỉ đối với công tác kiểm tra chuyên ngành…

Theo đại diện Hiệp hội DN Logistics Việt Nam, để thực hiện và chấp hành tốt pháp luật về hải quan, cộng đồng DN cần nắm vững về quy trình thủ tục hải quan; chính sách thuế; chính sách mặt hàng. Nhưng thực tế, có không ít cá nhân đi làm thủ tục không nắm được tổng quan.

“Vướng mắc không phải về quy trình thủ tục hải quan, mà chủ yếu là chính sách thuế và chính sách mặt hàng. Đây là 2 vấn đề sau không thuộc của cơ quan Hải quan. Nhiều lúc chúng ta giả định công chức hải quan phải nắm hết khi xử lý thủ tục nhưng nếu DN không thấu hiểu thực thi, tuân thủ luật pháp sẽ rất khó cho cơ quan Hải quan”- đại diện Hiệp hội DN Logistics Việt Nam nói.

Ngoài ra, đại diện nhiều DN đề nghị cần nâng cao hiệu quả thực hiện Cơ chế một cửa quốc gia để NSW đi vào thực chất, phát huy hiệu quả, tạo thuận lợi cho hoạt động XNK.

Sớm tháo gỡ vướng mắc về kiểm tra chuyên ngành

Tại buổi Tọa đàm, đại diện cộng đồng DN kiến nghị, Tổng cục Hải quan với vai trò Cơ quan Thường trực Ủy ban chỉ đạo quốc gia về Cơ chế một cửa ASEAN (ASW), NSW và tạo thuận lợi thương mại, cần kiến nghị các cấp có thẩm quyền sớm tháo gỡ, tạo thuận lợi cho hoạt động XNK.

Giải đáp kiến nghị của cộng đồng DN, Tổng cục trưởng Tổng cục Hải quan Nguyễn Văn Cẩn cho rằng, các kiến nghị về vướng mắc liên quan đến NSW và kiểm tra chuyên ngành rất xác đáng. Với vai trò là Cơ quan Thường trực Ủy ban chỉ đạo quốc gia về ASW, NSW và tạo thuận lợi thương mại, Tổng cục Hải quan đã và đang nỗ lực kiến nghị Chính phủ và các bộ, ngành chức năng khẩn trương tháo gỡ.

“Hiện nay ngành Hải quan đã hoàn thiện dự thảo Nghị định về Cơ chế một cửa và kiểm tra chuyên ngành để trình Chính phủ sớm ban hành. Khi đó, các vướng mắc liên quan đến NSW và kiểm tra chuyên ngành sẽ cơ bản được giải quyết”- Tổng cục trưởng Nguyễn Văn Cẩn nói.

Liên quan đến một số kiến nghị về vấn đề định mức với DN gia công, sản xuất xuất khẩu, Tổng cục trưởng cho biết, thực hiện các quy định mới (Nghị định 59/2018/NĐ-CP và Thông tư 39/2018/TT-BTC), cơ quan Hải quan chỉ quản lý trên cở sở dữ liệu của DN được kết nối với cơ quan Hải quan, cơ quan Hải quan không yêu cầu đăng ký định mức và báo cáo quyết toán như hiện nay nên DN sẽ rất thuận lợi khi thực hiện.

Ngoài ra, Tổng cục trưởng Nguyễn Văn Cẩn cũng giải đáp thêm một số vướng mắc về Chương trình DN ưu tiên…

Nguồn:baohaiquan

Siết chặt quản lý doanh nghiệp vi phạm về kiểm tra chuyên ngành

(HQ Online)- Được giải quyết cho mang hàng kiểm tra chuyên ngành (KTCN) về bảo quản, tránh phát sinh chi phí, nhưng một số DN lợi dụng ưu đãi này, không nộp kết quả KTCN, tự ý đưa hàng ra thị trường tiêu thụ khi chưa có kết quả KTCN. Cục Hải quan TP.HCM kiến nghị siết chặt quản lý, xử lý nghiêm những trường hợp cố tình vi phạm.

Khó xử lý DN bỏ trốn

Trong số các DN vi phạm đã có 2 DN có hành vi tự ý đưa hàng nhập khẩu được mang về bảo quản, chờ kết quả KTCN ra thị trường tiêu thụ bị cơ quan Hải quan khởi tố vụ án hình sự, gồm: Công ty TNHH Nông Sinh NK trên 250 tấn phân hữu cơ các loại, xuất xứ Trung Quốc, trị giá 85.840 USD; Công ty TNHH Pet Prince tự ý tiêu thụ lô hàng thức ăn cho chó trong thời gian đưa hàng về bảo quản, chờ kết quả kiểm tra chất lượng lô hàng.

Theo Phó cục trưởng Cục Hải quan TP.HCM Nguyễn Hữu Nghiệp, thực hiện quy định tại Điều 32 Thông tư 38/2015/TT-BTC ngày 25/3/2015 của Bộ Tài chính, để tạo thuận lợi cho các DN trong hoạt động XNK, các Chi cục Hải quan trực thuộc Cục Hải quan TP.HCM đã giải quyết cho DN được mang hàng về kho bảo quản chờ kết quả KTCN theo đúng quy định. Tuy nhiên, hiện nay, vẫn còn tồn tại không ít trường hợp DN nợ kết quả KTCN kéo dài mặc dù các chi cục đã thực hiện nhiều biện pháp nghiệp vụ để đôn đốc DN, dẫn đến khó xử lý đối với các trường hợp DN bỏ trốn, không hoạt động tại địa chỉ đăng ký kinh doanh.

Thống kê của Cục Hải quan TP.HCM cho thấy, tính đến ngày 15/5/2018, có 272 DN vi phạm chính sách quản lý hải quan đối với hàng hóa đã được cho mang hàng về bảo quản chờ kết quả kiểm tra chuyên ngành. Trong đó, có 240 DN không được cho mang hàng về bảo quản vì vi phạm chính sách quản lý hải quan đối với hàng hóa đã được cho mang hàng về bảo quản chờ kết quả kiểm tra chuyên ngành, nhưng quá hạn 30 ngày DN chưa nộp kết quả kiểm tra; 26 DN chậm nộp kết quả KTCN, đã bổ sung kết quả, bị xử phạt vi phạm hành chính, không được đưa hàng về bảo quản trong thời hạn 6 tháng kể từ ngày ra quyết định xử phạt và 6 DN bị tạm dừng 1 năm không được đưa hàng về bảo quản. Các trường hợp này, ngoài việc không giải quyết cho mang hàng về bảo quản, Cục Hải quan TP.HCM thông báo danh sách các DN vi phạm trên đến các đơn vị hải quan địa phương trong cả nước để phối hợp không cho mang hàng về bảo quản.

Đáng chú ý, trong thời gian qua, một số DN đã lợi dụng quy định được mang hàng về bảo quản chờ kết quả KTCN đã tự ý đưa hàng ra thị trường tiêu thụ, bỏ trốn khỏi địa chỉ đăng ký kinh doanh. Đối với những DN này, các chi cục hải quan đã cử công chức tới cơ quan quản lý địa phương xác minh, phát hiện DN đã bỏ trốn, mất tích, không còn hoạt động tại địa chỉ đăng ký kinh doanh và hàng hóa cũng đã không còn tại địa chỉ mang hàng về bảo quản. Các chi cục đã gửi công văn để xác minh tình trạng hoạt động của DN tại Chi cục thuế địa phương, Sở Kế hoạch và Đầu tư địa phương, kết quả cho thấy, một số ít trường hợp DN đã tuyên bố giải thể, đóng mã số thuế còn đa phần là ở tình trạng chưa đóng mã số thuế nhưng không rõ DN còn kinh doanh hay không, kinh doanh tại địa chỉ nào. Xác minh tình trạng giám định hàng hóa tại cơ quan KTCN được biết, một số DN không xuất trình hàng hóa ngay khi mang về bảo quản, một số trường hợp DN đã KTCN nhưng sau đó đã bỏ trốn, mất tích và cơ quan KTCN chưa đủ điều kiện để kết luận về kết quả KTCN (chờ bổ túc hồ sơ, chờ giám định lại theo yêu cầu của DN…).

Sau khi xác minh, điều tra và có đầy đủ căn cứ xác định “DN đã không bảo quản nguyên trạng hàng hóa tại địa điểm đã đề xuất mang về bảo quản” theo đúng qui định tại Điều 32, Thông tư 38/2015/TT-BTC và đã bỏ trốn, mất tích khỏi địa chỉ đăng ký kinh doanh, chi cục đã tập hợp chứng cứ và làm công văn chuyển thông tin trao đổi với cơ quan công an để xử lý theo quy định của pháp luật. Cụ thể, Chi cục Hải quan cửa khẩu cảng Sài Gòn KVI đã tập hợp hồ sơ, chuyển thông tin trao đổi với cơ quan Công an quận 2. Tuy nhiên, các công văn này đã bị Công an quận 2 đóng dấu từ chối tiếp nhận chứng từ bưu điện chuyển tới nhưng không thông báo lý do.

Để xử lý đối với các trường hợp trên, trước mắt Cục Hải quan TP.HCM đề xuất xử lý nghiệp vụ trên hệ thống, tránh tồn đọng tờ khai, đồng thời lập danh sách các DN này báo cáo và đề nghị Tổng cục Hải quan đưa vào danh sách DN bị cưỡng chế không làm thủ tục Hải quan trên toàn quốc.

Cần chế tài xử lý

Đối với trường hợp DN cố tình trì hoãn hoàn thành thủ tục kiểm tra chuyên ngành, Cục Hải quan TP.HCM cho rằng, mặc dù văn bản pháp lý đã quy định rất chặt chẽ về quyền và trách nhiệm của các bên trong quá trình thực hiện cho phép mang hàng bảo quản chờ kết quả KTCN với chế tài cụ thể về thời gian, nhưng trên thực tế các công văn của cơ quan KTCN gửi các Chi cục Hải quan cửa khẩu thường chỉ ghi lý do chậm trễ ra kết quả KTCN là do “DN chưa đề nghị kiểm tra”,“DN chưa bổ túc hồ sơ”. Các công văn này thường không có cam kết xác nhận về thời hạn ra kết quả KTCN theo đúng quy định. Nhiều tờ khai đã kéo dài thời hạn mang hàng bảo quản trên cả năm vẫn chưa có xác nhận kết quả KTCN.

Việc xác định kết quả KTCN thuộc trách nhiệm của các cơ quan có thẩm quyền nhưng do cơ quan kiểm tra và DN đùn đẩy trách nhiệm trong quá trình thực hiện nên dẫn đến kéo dài thời gian ra kết quả KTCN. Việc xác nhận vô hạn định tình trạng nợ KTCN nên cơ quan Hải quan vẫn phải chịu trách nhiệm giám sát hàng hóa đã mang về bảo quản tại địa điểm kiểm tra ngoài cửa khẩu trong một thời gian dài mà không có hướng xử lý và cũng không có chế tài để buộc các cơ quan KTCN phải có kết luận KTCN đúng thời hạn.

Từ thực tế trên, Cục Hải quan TP.HCM kiến nghị, đối với trường hợp DN nợ quá hạn kết quả KTCN trên 6 tháng kể từ ngày mang hàng về kho bảo quản và DN vẫn giữ nguyên trạng hàng hóa tại địa điểm mang hàng về bảo quản nhưng cố tình chây ỳ, không chịu hợp tác để hoàn thành kết luận kiểm tra (theo công văn xác nhận của cơ quan KTCN, lý do chậm trễ ra kết quả KTCN là do “DN chưa đề nghị kiểm tra”,“DN chưa bổ túc hồ sơ”). Chính vì thế, cơ quan KTCN không thể xác định được thời hạn ra kết quả giám định thì cơ quan Hải quan lập biên bản vi phạm DN về hành vi “nhập khẩu hàng hóa không đáp ứng yêu cầu về điều kiện, tiêu chuẩn, kỹ thuật” và buộc DN tái xuất mặt hàng này theo quy định tại Nghị định 45/2016/NĐ-CP ngày 26/5/2016 về sửa đổi, bổ sung một số Điều của Nghị định số 127/2013/NĐ-CP ngày 15/10/2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính và cưỡng chế thi hành quyết định hành chính trong lĩnh vực hải quan.

Nguồn:baohaiquan

Các bộ, ngành cùng vào cuộc hỗ trợ doanh nghiệp tiêu thụ nông sản

(HQ Online)- Ngày 8/6, Phó Thủ tướng Vương Đình Huệ đã tham dự Diễn đàn kinh tế về sản xuất, tiêu thụ vải thiều và các sản phẩm nông sản chủ lực, đặc trưng tỉnh Bắc Giang năm 2018.

Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh Bắc Giang Bùi Văn Hải, lãnh đạo các bộ, ngành Trung ương, lãnh đạo một số địa phương trong nước, Tham tán Thương mại Đại sứ quán Trung Quốc tại Việt Nam, lãnh đạo Sở Thương mại tỉnh Quảng Tây (Trung Quốc), hàng trăm doanh nghiệp, HTX của Việt Nam và Trung Quốc tham dự.

Phó Chủ tịch UBND tỉnh Bắc Giang Dương Văn Thái cho biết vụ vải thiều năm 2018 có chất lượng tốt do thời tiết thuận lợi, vải thiều vừa được mùa, vừa được giá. Sản lượng vải thiều Bắc Giang năm nay ước đạt 150-180.000 tấn, trong đó có nhiều vùng sản xuất theo tiêu chuẩn VietGAP, Global GAP, giá bán tại Bắc Giang khoảng 15.000 đồng/kg.

Tại diễn đàn, Phó Thủ tướng Vương Đình Huệ biểu dương và đánh giá đây là sáng kiến quan trọng của tỉnh Bắc Giang trong phát triển các sản phẩm chủ lực của địa phương.

Thăm các HTX sản xuất vải Bắc Giang, Phó Thủ tướng Vương Đình Huệ bày tỏ vui mừng khi thấy chất lượng vải cao và giá bán có lãi cho người trồng. Kết quả này là nhờ vào cách làm bài bản, tìm đầu ra thị trường cho cây vải trước khi vào vụ.

Phó Thủ tướng đề nghị các bộ, ngành tích cực vào cuộc hỗ trợ các doanh nghiệp, HTX của tỉnh Bắc Giang tổ chức thu hoạch, tiêu thụ nông sản.

Phó Thủ tướng cũng đề nghị phía Trung Quốc, huyện Hà Khẩu, tỉnh Quảng Tây tạo mọi điều kiện thuận lợi cho thông quan hàng hoá nông sản của Việt Nam trong đó có vải Bắc Giang, kêu gọi các doanh nghiệp Trung Quốc ký kết hợp đồng chính thức mua bán vải với doanh nghiệp, HTX của Bắc Giang, bảo đảm tiến độ thu hoạch, thu mua, giá trị quả vải, đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng Trung Quốc.

Phó Thủ tướng yêu cầu tỉnh Bắc Giang cần chú trọng công tác quy hoạch vùng sản xuất hợp lý, bám sát nhu cầu của thị trường; tránh phát triển phong trào, thiếu kiểm soát, mất cân bằng cung-cầu; cùng với đó là quan tâm xây dựng, phát triển thương hiệu, tem nhãn, bao bì đóng gói sản phẩm hàng hóa theo quy chuẩn, tiêu chuẩn đáp ứng yêu cầu của thị trường trong và ngoài nước; quan tâm phát triển HTX hoạt động có hiệu quả, nhất là trong lĩnh vực nông nghiệp.

Tỉnh Bắc Giang tăng cường tuyên truyền, quảng bá thương hiệu ở trong và ngoài nước, bảo đảm thông tin khách quan, toàn diện; tránh thông tin thất thiệt; chủ động thông tin cho các cơ quan báo chí để phối hợp tuyên truyền, tạo hiệu ứng tốt cho mùa vụ thu hoạch vải thiều sắp tới.

Năm 2017, Bắc Giang đã phê duyệt danh mục 52 nông sản đặc trưng, chủ lực và tiềm năng của địa phương; trong đó, 22 sản phẩm chủ lực, đặc trưng được thị trường trong và ngoài nước biết đến như quả có múi, chè, nhãn, na, rau củ, quả chế biến, rau an toàn, gà đồi Yên Thế, mỳ Chũ…

Nguồn:baohaiquan