Số liệu thống kê XNK 2019 được Hải quan công bố thế nào?

(HQ Online)- Sẽ có 5 biểu thống kê cơ bản được Tổng cục Hải quan công bố định kỳ trong năm 2019 theo quy định.

Cụ thể, Biểu thống kê hàng hoá XNK kỳ 1 (gồm: Xuất khẩu hàng hoá 15 ngày đầu tháng; nhập khẩu hàng hoá 15 ngày đầu tháng).

Biểu thống kê hàng hoá XNK kỳ 2 (gồm: Xuất khẩu hàng hoá từ ngày 16 đến hết tháng; nhập khẩu hàng hoá từ ngày 16 đến hết tháng).

Biểu thống kê hàng hoá XNK theo tháng (gồm: Xuất khẩu hàng hoá; nhập khẩu hàng hoá ; xuất khẩu của các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài; nhập khẩu của các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài; trị giá xuất khẩu, nhập khẩu chia theo tỉnh, thành phố; xuất khẩu sang một số nước, vùng lãnh thổ chia theo mặt hàng chủ yếu; nhập khẩu từ một số nước, vùng lãnh thổ chia theo mặt hàng chủ yếu).

Niên giám thống kê hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu bản tóm tắt và bản chi tiết.

Biểu thống kê hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu theo phương thức vận tải.

Theo Tổng cục Hải quan, quy định lịch công bố thông tin của Tổng cục Hải quan được xây dựng trước hàng năm và thông báo công khai, rộng rãi tới các tổ chức và cá nhân sử dụng tin tại Cổng Thông tin điện tử của Tổng cục Hải quan (https://www.customs.gov.vn).

Sau 6 tháng đầu năm thực hiện, cơ quan Hải quan sẽ tiến hành rà soát tiến độ thực hiện. Trong trường hợp có điều chỉnh, bổ sung sẽ thông báo kịp thời cho các tổ chức, cá nhân sử dụng tin trên Cổng Thông tin điện tử của Tổng cục Hải quan.

Việc điều chỉnh các số liệu thống kê sơ bộ 6 tháng đầu năm 2019 sẽ được thực hiện và công bố vào cuối tháng 9 năm 2019 và số liệu chính thức của c​ả năm 2019 sẽ được phổ biến rộng rãi vào cuối tháng 4 năm 2020.

Các tổ chức, cá nhân sử dụng thông tin thống kê có thể chủ động căn cứ vào lịch công bố thông tin của Tổng cục Hải quan để chủ động khai thác các số liệu thống kê phục vụ cho các mục đích riêng.

Hiện nay, Tổng cục Hải quan thực hiện công bố số liệu theo 3 trạng thái là sơ bộ, điều chỉnh và chính thức…

Theo quy định ngày 10/1/2019, Tổng cục Hải quan sẽ công bố thông tin sơ bộ về hoạt động XNK năm 2018.

Theo ước tính mới nhất của Tổng cục Hải quan, tháng 12/2018, tổng trị giá XNK hàng hoá của cả nước ước đạt 42,2 tỷ USD, giảm 2,6% so với tháng trước. Trong đó, tổng trị giá xuất khẩu ước đạt 21 tỷ USD, giảm 3,4% và tổng trị giá nhập khẩu ước đạt 21,2 tỷ USD, giảm 1,8%.

Tổng trị giá XNK hàng hoá năm 2018 của Việt Nam ước đạt 482,23 tỷ USD, tăng 12,6% so với năm 2017; trong đó tổng trị giá xuất khẩu ước đạt 244,72 tỷ USD, tăng 13,8% và tổng trị giá nhập khẩu ước đạt 237,51 tỷ USD, tăng 11,5%.

Cán cân thương mại hàng hóa của Việt Nam trong tháng 12/2018 ước tính thâm hụt 200 triệu USD, bằng 1% kim ngạch xuất khẩu. Như vậy, cả năm 2018, cán cân thương mại hàng hóa của Việt Nam dự kiến thặng dư 7,21 tỷ USD, cao hơn 5,1 tỷ USD so với con số xuất siêu của năm 2017 (với 2,11 tỷ USD).

Nguồn:baohaiquan

Chủ nghĩa bảo hộ “cản chân” hội nhập kinh tế như thế nào?

(HQ Online)- Quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam đã và đang đạt được những kết quả nhất định, tuy nhiên, những xu thế mới trong thương mại quốc tế, đặc biệt là sự nổi lên của chủ nghĩa bảo hộ đang đặt ra không ít thách thức cho Việt Nam. 

Xuất khẩu tăng sang các nước có FTA



Phát biểu tại Diễn đàn Hội nhập kinh tế quốc tế Việt Nam 2018 do Ban Chỉ đạo liên ngành hội nhập quốc tế về kinh tế tổ chức sáng nay 4/12, tại Hà Nội, Phó Thủ tướng Vương Đình Huệ nhấn mạnh: Công tác hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam thời gian qua đã đạt được một số kết quả nhất định, đóng góp chung vào sự phát triển kinh tế- xã hội của đất nước. Tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu năm 2018 ước đạt 475 tỷ USD, trong đó xuất khẩu đạt 239 tỷ USD, tăng 11,2% so với năm 2017.

Hàng hóa Việt Nam đã tiếp tục khai thác các thị trường truyền thống và mở rộng tìm kiếm, phát triển thêm nhiều thị trường mới. Đặc biệt, xuất khẩu sang thị trường các nước có FTA với Việt Nam đều có tốc độ tăng cao so với năm 2017. Tỷ lệ tận dụng ưu đãi từ các thị trường đã ký kết FTA đạt khoảng 40%, tăng mạnh so với con số khoảng 35% các năm trước, qua đó đã cho thấy doanh nghiệp Việt Nam đang ngày càng chú trọng tới việc khai thác các cơ hội từ hội nhập và thực thi các FTA.

Tuy nhiên, Phó Thủ tướng Vương Đình Huệ cũng chỉ ra: Vẫn còn một số tồn tại như một số địa phương lúng túng trong việc triển khai công tác hội nhập kinh tế quốc tế; vẫn tồn tại khoảng cách khá xa về năng lực và thiếu sự gắn kết, hỗ trợ giữa khu vực FDI và khu vực doanh nghiệp trong nước, nhất là doanh nghiệp nhỏ và vừa; công tác thông tin truyền thông về hội nhập, năng lực giải quyết tranh chấp thương mại, đầu tư quốc tế còn hạn chế…

Cũng theo Phó Thủ tướng Vương Đình Huệ: Về phía trong nước, Việt Nam vẫn đang tích cực, kiên trì đẩy mạnh hội nhập kinh tế quốc tế, làm cơ sở cho hội nhập toàn diện. Tuy nhiên, trong vòng một năm trở lại đây, có thể thấy, kinh tế toàn cầu có một số dấu hiệu thay đổi, theo hướng phức tạp và khó dự đoán hơn. Diễn biến tình hình kinh tế thế giới gần đây cho thấy chủ nghĩa bảo hộ thương mại đang ngày càng có chiều hướng gia tăng, đe dọa nghiêm trọng tới tiến trình tự do hóa thương mại và hội nhập kinh tế toàn cầu.

Một số quốc gia trước kia vốn đi đầu trong việc ủng hộ tự do hóa thương mại nay lại trở thành yếu tố ảnh hưởng tới sự ổn định của hệ thống thương mại đa phương nói riêng và của cả quá trình toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế trên toàn thế giới nói chung. Đặc biệt đáng lưu ý là, xung đột thương mại giữa Hoa Kỳ với một số đối tác, đặc biệt với Trung Quốc vẫn tiếp tục có những diễn biến khó lường.

4 thách thức với kinh tế Việt Nam

Xung quanh những hiện tượng và xu thế mới trong kinh tế và thương mại quốc tế, Thứ trưởng Bộ Công Thương Đỗ thắng Hải cũng nhấn mạnh: Chủ nghĩa bảo hộ ngày càng nổi lên rõ nét hơn. Các biện pháp hạn chế thâm hụt thương mại được các nước sử dụng nhiều hơn. Riêng khu vực châu Á – Thái Bình Dương đã có hàng chục nghìn biện pháp có tác động hạn chế thương mại từ năm 2008 trở lại đây. Xung đột thương mại, cạnh tranh chiến lược, và cọ sát kinh tế giữa các nền kinh tế chủ chốt có xu hướng gia tăng. Đặc biệt, căng thẳng thương mại giữa Mỹ và Trung Quốc đã thực sự nóng lên kể từ đầu năm 2018.

Thứ trưởng Đỗ Thắng Hải chỉ rõ: Những xu thế trên cũng kéo theo không ít thách thức đối với một nền kinh tế mở như Việt Nam.

Thứ nhất, xử lý hài hòa yêu cầu thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và ổn định kinh tế vĩ mô trong bối cảnh thương mại thế giới có nhiều bất định là không dễ. Các nghiên cứu cho thấy chiến tranh thương mại Mỹ – Trung Quốc có thể làm tăng trưởng GDP toàn cầu suy giảm, dù ở mức độ khác nhau tùy theo kịch bản. Nếu chính sách ứng phó thiếu linh hoạt, Việt Nam có thể rơi vào suy giảm tăng trưởng kinh tế.

Thứ hai, thách thức đối với duy trì cải cách sẽ lớn hơn nếu quá tập trung hơn vào xử lý tác động bất lợi từ chiến tranh thương mại Mỹ – Trung Quốc nói riêng và sự gia tăng chủ nghĩa bảo hộ nói chung. Trong khi đó, chậm trễ trong cải cách có thể ảnh hưởng đến động lực cho doanh nghiệp cũng như khả năng bắt kịp, đi cùng và vượt lên các nước trong Cách mạng công nghiệp 4.0.

Thứ ba, Việt Nam phải đối mặt với tác động chuyển hướng thương mại từ chiến tranh thương mại Mỹ – Trung Quốc. Xử lý thách thức này càng khó hơn khi thương mại điện tử xuyên biên giới đã phổ biến hơn, đi kèm với rủi ro tấn công an ninh mạng. Một số nhà đầu tư có thể chuyển địa điểm từ Trung Quốc sang Việt Nam. Khi đó, việc sàng lọc các dự án phù hợp với yêu cầu trên cả các khía cạnh kinh tế, xã hội và môi trường là một nhiệm vụ khó khăn.

Thứ tư, cuộc chiến thương mại kéo dài giữa Mỹ và Trung Quốc có thể sẽ ảnh hưởng sâu rộng tới tăng trưởng và thương mại toàn cầu, lan truyền làn sóng bảo hộ sang các thị trường khác. Các sản phẩm xuất khẩu chủ lực của Việt Nam vào nhiều thị trường có thể gặp phải các biện pháp hạn chế thương mại. Bản thân việc USD lên giá và rủi ro các nước khác phá giá nội tệ cũng làm tăng thách thức đối với điều hành tỷ giá.

Xung quanh câu chuyện hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam, TS. Sudhir Shetty, Kinh tế gia Trưởng Khu vực Đông Á, Thái Bình Dương, Ngân hàng Thế giới cho rằng: Việt Nam nên tăng cường khả năng đối phó về kinh tế vĩ mô đối với biến động về tài chính và thương mại quốc tế, tăng cường năng lực cạnh tranh quốc gia với các chính sách tạo thuận lợi thương mại, cải thiện môi trường kinh doanh, củng cố mối liên hệ giữa đầu tư nước ngoài và các nhà cung ứng trong nước.

Bên cạnh đó, Việt Nam cần cải cách sâu rộng thương mại và đầu tư, bao gồm đơn giản hóa các biện pháp phi thuế quan gây méo mó thương mại, thúc đẩy thương mại dịch vụ, tăng cường chiều sâu hội nhập khu vực (và toàn cầu)…

Nguồn:baohaiquan

Phần mềm theo dõi trừ lùi phế liệu nhập khẩu như thế nào?

(HQ Online)- Nhằm tạo điều kiện, hỗ trợ DN NK xác định được số lượng phế liệu còn được phép NK để chủ động trong kinh doanh và cơ quan Hải quan có cơ sở để thực hiện quản lý, theo dõi trừ lùi phế liệu NK, Tổng cục Hải quan đã xây dựng phần mềm quản lý phế liệu NK.

Việc tải, cài đặt và sử dụng phần mềm quản lý phế liệu NK tại đầu DN kinh doanh NK phế liệu và các DN kinh doanh cảng được Tổng cục Hải quan hướng dẫn cụ thể.

Đối với DN kinh doanh cảng, chi cục hải quan cửa khẩu thông báo cho các DN kinh doanh cảng thuộc địa bàn phụ trách thông tin về việc triển khai phần mềm quản lý phế liệu NK.

Tài khoản truy cập đã được Tổng cục Hải quan cấp cho tất cả các cảng trên cả nước với định dạng như sau: XXXXX, trong đó XXXXX là mã cảng trên hệ thống VNACCS hiện đang sử dụng (VD: VNTCI, VNTTC,…).

Đối với các DN NK phế liệu, Tổng cục Hải quan cấp tài khoản cho các DN nằm trong Danh sách các DN đã được Bộ Tài nguyên và Môi trường công bố trên Cổng thông tin điện tử của Bộ Tài nguyên và Môi trường hoặc Cổng thông tin một cửa quốc gia.

Tài khoản truy cập là mã số thuế của DN. DN NK phế liệu có thể truy cập vào phần mềm quản lý phế liệu NK để kiểm tra hạn ngạch còn lại của mình. Cũng có thể sử dụng để gửi thông tin tới chi cục hải quan đề nghị cho phép dỡ phế liệu xuống cảng đối với các tàu chở phế liệu chuẩn bị đến cảng.

Liên quan đến mật khẩu đăng nhập, Tổng cục Hải quan cho biết sẽ gửi thông tin về mật khẩu đăng nhập đối với các tài khoản theo định dạng cho các cục hải quan tỉnh, thành phố theo hình thức công văn mật.

Các đơn vị thông báo thông tin tài khoản và mật khẩu đăng nhập cho các đơn vị kinh doanh cảng biển và DN NK phế liệu.

Tại lần đăng nhập đầu tiên, hệ thống sẽ yêu cầu đổi mật khẩu đăng nhập để đảm bảo tính bảo mật.

Trong trường hợp quên mật khẩu hoặc không xác định được tài khoản đăng nhập, các đơn vị hải quan, đơn vị kinh doanh cảng và DN NK phế liệu liên hệ với Tổng cục Hải quan (Cục Giám sát quản lý về hải quan) để được cài đặt lại mật khẩu.

Hệ thống theo dõi lượng phế liệu còn được dỡ xuống cảng

Cơ quan Hải quan theo dõi thông tin lượng phế liệu đã dỡ hàng xuống cảng, còn được dỡ hàng xuống cảng, đã NK, còn được NK; DN NK phế liệu được sử dụng phần mềm quản lý phế liệu NK để theo dõi lượng phế liệu của DN còn được dỡ hàng xuống cảng, còn được NK.

Trong trường hợp phát hiện ra có sự sai lệch so với thực tế thì công chức hải quan báo cáo chi cục trưởng và sau khi được chi cục trưởng phê duyệt thì thực hiện điều chỉnh lượng bằng cách cập nhật phiếu điều chỉnh tăng giảm trên phần mềm quản lý phế liệu NK…

Hiện nay phần mềm quản lý phế liệu NK căn cứ dữ liệu phế liệu đã NK của DN hiện có tại Tổng cục Hải quan tính đến 17h00 ngày 24/10/2018 để xác định số lượng liệu phế liệu còn được phép NK và dỡ hàng xuống cảng của DN.

Chi cục hải quan nơi đăng ký tờ khai NK có trách nhiệm cập nhật số lượng phế liệu NK và chi cục hải quan nơi quản lý phế liệu dỡ xuống cảng có trách nhiệm cập nhật số lượng phế liệu đã dỡ xuống cảng của DN vào phần mềm quản lý phế liệu NK.

Nguồn:baohaiquan

4 “ông lớn” nhập cuộc, lãi suất huy động VND tăng thế nào?

Dân trí Bắt đầu từ những ngân hàng nhỏ trong nhóm tư nhân, đến nay, 4 “ông lớn” trong khối ngân hàng Nhà nước (Agribank, Vietcombank, VietinBank, BIDV) cũng đã nhập cuộc tăng lãi suất huy động VND.

Khoảng một tháng gần đây, cuộc đua tăng lãi suất huy động VND lại “bùng” lên trong bối cảnh các ngành hàng cần nguồn vốn để sản xuất, kinh doanh. Bắt đầu từ những ngân hàng nhỏ trong nhóm tư nhân, đến nay, 4 “ông lớn” trong khối ngân hàng Nhà nước (Agribank, Vietcombank, VietinBank, BIDV) cũng đã nhập cuộc tăng lãi suất huy động VND.

Theo đó, Agribank điều chỉnh tăng tất cả lãi suất tiền gửi tiết kiệm ở nhiều kỳ hạn, mức tăng khoảng 0,2 đến 0,3%/năm. Cụ thể, lãi suất kỳ hạn 1 tháng của ngân hàng này tăng từ mức 4,3%/năm lên 4,5%/năm; kỳ hạn 2 tháng tăng từ 4,2%/năm lên 4,5%/năm, kỳ hạn 3 tháng tăng từ 4,6%/năm lên 4,8%/năm; kỳ hạn 6 tháng tăng từ 5,3% lên 5,5%/năm.

Lãi suất kỳ hạn dưới 3 tháng của Vietcombank cũng đã tăng 0,1% lên 4,4%/năm. Kỳ hạn 3 và 6 tháng tăng 0,2% lên 4,8%/năm và 5,5%/năm.

Trước 2 ngân hàng này, lãi suất của VietinBank và BIDV còn cao hơn một số ngân hàng khác ở nhiều kỳ hạn ngắn. ở kỳ hạn 1 tháng, lãi suất của Vietcombank, Agribank, BIDV và VietinBank ở mức từ 4,4%-4,5%/năm, cao hơn LienVietPostBank (4,3%/năm). Tương tự kỳ hạn 6 tháng, lãi suất của 4 “ông lớn” là 5,5%/năm, cao hơn 0,2% so với LienVietPostBank.

Ở kỳ hạn 12 tháng, 18 tháng, lãi suất huy động VND của 4 ngân hàng lớn có vốn Nhà nước cạnh tranh gay gắt nhất với những ngân hàng khác. Lãi suất của BIDV ở kỳ hạn 1 năm là 6,9%/năm, bằng Sacombank và cao hơn cả 4 ngân hàng: ACB, Eximbank, Techcombank và LienVietPostBank. Lãi suất của Vietcombank, Agribank, VietinBank cũng rất cạnh tranh ở mức 6,8%/năm.

Theo đánh giá của Công ty Chứng khoán Bảo Việt, lãi suất liên ngân hàng tăng mạnh trở lại cùng với động thái bơm ròng của Ngân hàng Nhà nước cho thấy thanh khoản toàn hệ thống tuần vừa qua ở trạng thái eo hẹp hơn so với tuần trước đó.

Tuần qua, khối ngoại bán ròng trên thị trường thứ cấp. Cụ thể, đã có 180 tỷ đồng được mua vào trong khi 683 tỷ đồng bị bán ra, do đó 503 tỷ đồng đã được khối này bán ròng trong tuần. Như vậy, tính từ đầu năm 2018 đến nay, khối ngoại đã bán ròng 4.410 tỷ đồng.

Bộ phận phân tích của Công ty Chứng khoán TPHCM (HSC) cũng cho rằng, động cơ chính để các ngân hàng nâng lãi suất là thanh khoản trong hệ thống kém đi. Lượng tài sản ròng trên thị trường liên ngân hàng đã kém đi kể từ giữa tháng 7, với giá trị hiện tại khoảng 220.000 – 250.000 tỷ đồng, giảm xấp xỉ 100.000 tỷ đồng từ đỉnh vào đầu tháng 7.

Thống kê của HSC cho thấy, mặt bằng lãi suất đã được nâng lên đáng kể với xu hướng tăng rõ ràng hơn trong tháng 9, trong khi biến động tăng/giảm không đồng nhất hai tháng trước đó. Lãi suất tiền gửi bằng tiền đồng bình quân tăng 0,06% trong tháng 9 và hiện tương đương lãi suất cuối năm 2017.

Còn Công ty Chứng khoán Rồng Việt (VDSC) cho rằng, lãi suất trong nước sẽ bắt đầu tăng lên từ năm 2019 do cả rủi ro bên trong và bên ngoài nền kinh tế. Rủi ro bên ngoài có thể kể đến như Fed sẽ tiếp tục kiên định với lộ trình tăng lãi suất, Ngân hành Trung ương (NHTW) Châu Âu sẽ kết thúc chương trình mua tài sản vào cuối năm nay trong khi NHTW Nhật Bản (BOJ) có thể xem xét lại mục tiêu lạm phát và định hướng điều hành chính sách tiền tệ. Còn rủi ro nội tại đến từ việc lạm phát gia tăng tạo sức ép lớn đối với lãi suất.

Nguồn:baohaiquan

Ngành hàng chủ lực “tiếp đón” CPTPP như thế nào?

(HQ Online)- Dự kiến đầu năm 2019, Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ (CPTPP) sẽ chính thức có hiệu lực. Bên cạnh những lo ngại nhất định, nhiều ngành hàng lớn, chủ lực đang có sự tính toán, chuẩn bị nhằm tận dụng nhanh chóng, hiệu quả những cơ hội mà CPTPP đem lại.

Cơ hội vượt thách thức

Thủy sản là một trong những ngành hàng XK lớn, còn nhiều dư địa phát triển của Việt Nam. Ông Nguyễn Hoài Nam, Phó Tổng thư ký Hiệp hội Chế biến và XK Thủy sản Việt Nam (VASEP) cho hay: Ngành Thủy sản hiện có hơn 900 đầu mối đang tìm kiếm cơ hội để thúc đẩy XK thủy sản đi 160 thị trường khác nhau. Trong số đó, có khoảng hơn 600 nhà máy. Lực lượng doanh nhân đi tìm kiếm cơ hội XK khá đông. Các nước khác, nhất là các nước có sức cạnh tranh ngang bằng hoặc hơn Việt Nam cũng tương tự như vậy. Cạnh tranh trên phương diện buôn bán thủy sản quốc tế diễn ra rất quyết liệt.

Thời gian qua, Chính phủ luôn chủ động trong đàm phán, ký kết các Hiệp định thương mại tự do (FTA), điển hình gần đây là Hiệp định CPTPP. Điều này mở ra những cơ hội rất lớn cho ngành chế biến, XK thủy sản.

“Việt Nam có lợi thế về các sân chơi. Đó là cơ hội lớn nhất. Ví dụ, khi Việt Nam tham gia vào Hiệp định CPTPP, so với nước cạnh tranh khốc liệt với thủy sản Việt Nam là Thái Lan, Việt Nam có ưu thế phân khúc thị phần 10 nước đối tác trong CPTPP. 25% thị phần XK thủy sản nằm ở 10 nước này. Đây đều là những khối thị trường rất quan trọng”, ông Nam nói.

Liên quan tới Hiệp định CPTPP, với ngành Dệt may, ông Trương Văn Cẩm, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội Dệt may Việt Nam đánh giá: Cơ hội mở ra cho các DN XK dệt may rất lớn. Ngành dệt may sẽ có thể tiếp cận nhiều thị trường lớn có tiềm năng, trong đó có những thị trường hiện Việt Nam chưa có FTA. Cũng theo ông Cẩm, Hiệp định CPTPP quy định thuế suất hầu hết mặt hàng sẽ giảm về 0% trong vòng 7 năm, Việt Nam có thể nới lỏng đến 10 năm. Thuế suất vào các thị trường XK giảm sẽ giúp DN đạt hiệu quả kinh tế cao, đồng thời nâng cao sức cạnh tranh. Ngoài ra, DN dệt may còn có thể tận dụng được nguồn cung nguyên liệu, học hỏi công nghệ sản xuất và trình độ quản lý từ các nước nội khối…

“Hiện nay, để đạt mục tiêu tăng trưởng XK mỗi năm đạt trên dưới 10%/năm thì ngành dệt may Việt Nam phải tập trung vào khai thác tốt những thị trường trong khối CPTPP”, ông Cẩm khẳng định.

Không giống như thủy sản hay dệt may, chăn nuôi từ trước tới nay được đánh giá là ngành hàng bất lợi khi Việt Nam tham gia Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) trước đây và CPTPP ở hiện tại.

Ông Đoàn Xuân Trúc, Phó Chủ tịch Hội Chăn nuôi Việt Nam cho hay: Khoảng 2-3 năm trước, nói tới TPP, ngành Chăn nuôi khá lo ngại. Tuy nhiên, thời gian qua, ngành cũng có những đổi mới, vươn lên nên hiện nay tiếp cận Hiệp định CPTPP điềm tĩnh hơn. Chăn nuôi Việt Nam vẫn lo lắng trước Hiệp định CPTPP song tin tưởng sẽ tồn tại được.

“Trong bối cảnh không còn Hoa Kỳ, ngành Chăn nuôi từ trước tới nay NK ngô, đậu tương, con giống từ Hoa Kỳ nhiều thì nay có thể bù đắp bằng một số thị trường khác trong CPTPP. Với mặt hàng thịt lợn, nếu làm tốt vùng an toàn dịch bệnh, XK thịt lợn sang Nhật Bản sẽ dễ dàng hơn khi CPTPP có hiệu lực. Với sản phẩm sữa, hiện tại ngành sữa chỉ tự túc được 30%, phấn đấu đến năm 2020 tự túc 50%, còn lại vẫn phải NK. Vì vậy, dù không thể cạnh tranh với ngành sữa của Australia, New Zealand nhưng rõ ràng khi có Hiệp định CPTPP, việc NK sữa sẽ tốt hơn”, ông Trúc nói.

Rốt ráo “tiếp đón”

Chỉ còn vài tháng nữa Hiệp định CPTPP sẽ chính thức có hiệu lực. Nhìn nhận rõ những cơ hội mở ra từ CPTPP, các ngành hàng đã, đang có sự chuẩn bị, “tiếp đón” CPTPP như thế nào?

Về vấn đề này, ông Nam cho biết: Ngay trong quá trình đàm phán gần đây, VASEP cũng được tham gia đóng góp, cho ý kiến dữ liệu ở khía cạnh cạnh tranh. Riêng về thuế, có những điểm DN nhận thấy thuận lợi, đang có nhiều cơ hội ở giai đoạn này.

“Để chuẩn bị cho CPTPP, với một số thị trường cụ thể, chúng tôi đã xem xét kỹ kết quả cuối cùng, cập nhật thông tin cho DN. Bên cạnh đó, chúng tôi cũng nhờ chính các chuyên gia trong Đoàn đàm phán Hiệp định CPTPP cập nhật cho DN. Gần đây nhất, chúng tôi đã mời đại diện Bộ Công Thương chia sẻ về xuất xứ với DN. Bên cạnh đó, các DN cũng đẩy mạnh hơn nữa hoạt động xúc tiến thương mại so với trước. Lợi thế của DN XK thủy sản Việt Nam là đã có sự đầu tư công nghệ, giá thành cạnh tranh, phải cố gắng tận dụng cơ hội từ CPTPP”, ông Nam nói.

Đứng từ góc độ DN cụ thể, ông Thái Bình Dương, Giám đốc Công ty TNHH Yến Dương đánh giá: Hiệp định CPTPP sẽ mở ra cơ hội mới cho DN tại nhiều thị trường cả theo chiều XK và NK, điển hình như thị trường Australia. Hiện nay, nguồn nguyên liệu NK của ngành Dệt may còn đang bị gò bó, đa số là nhập từ Trung Quốc, Nhật Bản, Đài Loan, Hàn Quốc… Khi mở rộng ra, DN có thể NK nguyên liệu từ các thị trường trong khối CPTPP, ví dụ NK len từ Australia…

Ông Dương nhấn mạnh, ngoài sự hỗ trợ của cơ quan quản lý nhà nước, DN sẽ tận dụng tốt cơ hội từ CPTPP, thâm nhập các thị trường bằng chính sự nỗ lực của DN. Trước mắt, DN sẽ tập trung nghiên cứu kỹ thị trường hướng đến. Ngoài ra, DN cũng phải đầu tư thêm máy móc hiện đại, trau dồi thêm tay nghề cho công nhân… nhằm đáp ứng các yêu cầu khắt khe đặt ra.

Cần cải cách kịp thời

Một trong những khía cạnh từ Hiệp định CPTPP được cộng đồng DN khá quan tâm là CPTPP sẽ tạo động lực cho cải cách trong nước, điển hình là cải cách môi trường kinh doanh, thủ tục hành chính. Về điều này, ông Nam bày tỏ quan điểm: Thủy sản là ngành hàng gắn từ sản xuất nông ngư dân, chế biến tới thương mại toàn cầu…, va chạm khá nhiều. DN thủy sản hội nhập khá lâu nên đều thấy rõ tác động từ các FTA, có nhiều kinh nghiệm để ứng phó trước các FTA. Điều DN ngần ngại nhất là những chuẩn bị, cải cách trong nước không kịp thời để giúp DN tận dụng cơ hội từ FTA so với sự chuẩn bị của nước ngoài, cụ thể là những đối thủ cạnh tranh.

“Ví dụ, hiện nay, trên thế giới có 4 nước cạnh tranh trực tiếp, chủ lực với mặt hàng tôm của Việt Nam. Họ đều có chiến lược cụ thể, nhìn sang động thái của Việt Nam để cạnh tranh, trong đó có chuyện về các FTA, về CPTPP. Họ có sự phân tích rõ ràng, tại các thị trường mà Việt Nam ký kết FTA, họ bất lợi cái gì hơn so với Việt Nam và có lợi thế cạnh tranh hơn ở điểm nào… Cộng đồng DN mong rằng những chuẩn bị, cải cách trong nước sẽ chuyển dịch nhanh hơn. Nếu không thể thay đổi, cải cách ngay trên văn bản thì tập trung cải cách chất lượng cán bộ”, ông Nam nhấn mạnh.

Liên quan tới vấn đề này, ông Vũ Tiến Lộc, Chủ tịch Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) góp thêm ý kiến: Thách thức trong thực thi Hiệp định CPTPP lớn hơn nhiều so với các FTA trước đây của Việt Nam. Thời gian qua, Việt Nam đã có những động thái mạnh mẽ về cải cách, cải thiện môi trường kinh doanh với chương trình mạch lạc, hành động cụ thể. Vấn đề đặt ra là làm sao để tất cả các cơ quan nhà nước và DN cùng vào cuộc nhằm cải cách hệ thống một cách thực chất, toàn diện, hiệu quả, góp phần tận dụng tốt nhất cơ hội mà Hiệp định CPTPP đem lại.

Ông Lương Hoàng Thái, Vụ trưởng Vụ Chính sách thương mại đa biên, Bộ Công Thương: Hiệp định CPTPP về cơ bản giữ nguyên cam kết về mở cửa thị trường như Hiệp định TPP trước đây

Với Hiệp định CPTPP, tất cả quy định về hình thức cắt giảm, lộ trình cắt giảm, quy tắc xuất xứ, cam kết mở cửa thị tường mua sắm công hay dịch vụ thị trường đầu tư… đều được giữ nguyên. Tuy nhiên, vì Hoa Kỳ rút khỏi TPP nên Hiệp định CPTPP có điều chỉnh linh hoạt trong một số lĩnh vực. Với các nghĩa vụ dỡ bỏ chính thức mà tất cả các nước cùng đồng ý thì đưa vào mục “tạm hoãn nghĩa vụ”. Việc tạm hoãn được áp dụng đến khi Hoa Kỳ trở lại. Nếu sau một khoảng thời gian, Hoa Kỳ chắc chắn không quay trở lại, các nước sẽ cùng bàn xem có tiếp tục tạm hoãn hay không. Có khoảng 20 nghĩa vụ như vậy.

Trong nhóm đó, nội dung quan trọng nhất liên quan đến thực thi quyền sở hữu trí tuệ, bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ. Lý do là bởi, để bảo hộ được quyền sở hữu trí tuệ phải có tiền, có nguồn lực. Khi Hoa Kỳ rút khỏi TPP, những ưu đãi về mở cửa thị trường bị giảm đi nên những yêu cầu thực thi quyền sở hữu trí tuệ cũng được gỡ bớt đi. Với Việt Nam, liên quan đến Hiệp định CPTPP còn có thêm một số thư trao đổi riêng với các nước. Những lĩnh vực trước đây ở Hiệp định TPP, các nước đều nhận thấy Việt Nam có lợi nhất do có Hoa Kỳ, nay Hoa Kỳ rút ra thì Việt Nam được gỡ bớt những nghĩa vụ cao của hiệp định. Ví dụ, trong lĩnh vực lao động, Việt Nam về cơ bản có quyền tự quyết chủ động hơn trong lựa chọn chính sách. Trong 3 năm đầu Hiệp định CPTPP có hiêu lực, không có nước nào khiếu kiện Việt Nam trong vấn đề lao động. Một số nghĩa vụ đặc biệt trong lĩnh vực lao động, các nước cũng dành cho Việt Nam thời gian lâu hơn. Trong lĩnh vực thương mại điện tử, các nước cũng dành khoảng thời gian nhất định không khiếu kiện với Việt Nam…

Nguồn:baohaiquan

Điều khoản chuyển tiếp trong Nghị định 15 thực hiện như thế nào?

(HQ Online)- Để làm rõ một số vướng mắc trong thực hiện Nghị định 15/2018/NĐ-CP về an toàn thực phẩm, Bộ Tài chính đã có văn bản gửi các Bộ: Công Thương, Y tế, Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Tư pháp. Một trong các nội dung cần làm rõ là thực hiện điều khoản chuyển tiếp như thế nào?

Theo Bộ Tài chính, tại khoản 1 Điều 42 quy định các sản phẩm đã được cấp Giấy tiếp nhận bản công bố hợp quy và Giấy xác nhận công bố phù hợp quy định an toàn thực phẩm trước ngày Nghị định 15 có hiệu lực được tiếp tục sử dụng đến khi hết thời hạn ghi trên giấy và hết thời hạn sử dụng của sản phẩm.

Theo quy định tại Nghị định 38/2012/NĐ-CP thì khi NK, sản phẩm đã có quy chuẩn kỹ thuật phải được công bố hợp quy và đăng ký bản công bố hợp quy với cơ quan nhà nước có thẩm quyền trước khi đưa ra lưu thông trên thị trường; sản phẩm chưa có quy chuẩn kỹ thuật phải được công bố phù hợp quy định an toàn thực phẩm và đăng ký bản công bố phù hợp an toàn thực phẩm với cơ quan nhà nước có thẩm quyền trước khi đưa ra lưu thông trên thị trường.

Như vậy, Bộ Tài chính đặt câu hỏi: “Theo khoản 1 Điều 42 nêu trên, khi làm thủ tục hải quan, DN có được sử dụng “Giấy tiếp nhận bản công bố hợp quy hoặc Giấy xác nhận công bố phù hợp quy định an toàn thực phẩm” để được miễn kiểm tra nhà nước về an toàn thực phẩm theo quy định tại khoản 1 Điều 13 Nghị định 15 không? Nếu được thì DN phải nộp hay xuất trình cho cơ quan Hải quan bản photo có xác nhận của DN hay bản sao có chứng thực hay bản chính các chứng từ này?”

Ngoài ra, theo Nghị định 15/2018/NĐ-CP thì chỉ 3 nhóm hàng tại Điều 6 phải đăng ký bản công bố sản phẩm. Vậy, trường hợp DN được áp dụng “Giấy tiếp nhận bản công bố hợp quy hoặc Giấy xác nhận công bố phù hợp quy định an toàn thực phẩm” để được miễn kiểm tra an toàn thực phẩm thì có được áp dụng cho tất cả các nhóm hay chỉ những nhóm hàng theo quy định tại Điều 6 Nghị đinh 15.

Theo đề xuất của Bộ Tài chính, trường hợp sản phẩm của tổ chức, cá nhân đã được cấp “Giấy tiếp nhận bản công bố hợp quy hoặc Giấy xác nhận công bố phù hợp quy định an toàn thực phẩm” chỉ còn giá trị hiệu lực thì được áp dụng miễn kiểm tra nhà nước về an toàn thực phẩm khi NK theo quy định tại khoản 1 Điều 13 Nghị định 15.

Ngoài vấn đề trên, Bộ Tài chính cho biết, theo quy định tại Điều 30 Nghị định 105/2017/NĐ-CP quy định về kinh doanh rượu thì rượu NK phải được cấp Giấy tiếp nhận bản công bố hợp quy hoặc Giấy xác nhận công bố phù hợp quy định an toàn thực phẩm (đối với rượu chưa có quy chuẩn kỹ thuật) trước khi NK.

Tuy nhiên, theo quy định tại Nghị định 15 thì mặt hàng rượu khi NK trước khi lưu thông ra thị trường chỉ phải tự công bố sản phẩm, không phải công bố hợp quy/công bố phù hợp an toàn thực phẩm.

Do vậy, Bộ Tài chính đặt câu hỏi: “Đối với trường hợp DN NK chỉ có bản tự công bố sản phẩm thì có được sử dụng để làm thủ tục NK theo quy định tại Nghị định 15 hay không?”

Theo quan điểm của Bộ Tài chính, việc DN nộp bản tự công bố sản phẩm theo quy định tại Nghị định 15 thì được chấp nhận để làm thủ tục NK theo quy định tại Điều 30 Nghị định 105/2017/NĐ-CP dẫn trên.

Cùng với các nội dung trên, Bộ Tài chính cũng đề nghị các bộ có ý kiến liên quan đến quy định về các trường hợp được miễn kiểm tra nhà nước về an toàn thực phẩm NK quy định tại khoản 1 Điều 13 Nghị định 15/2018/NĐ-CP; về cơ quan kiểm tra nhà nước đối với thực phẩm NK; về hàng hóa thuộc đối tượng phải kiểm tra nhà nước về an toàn thực phẩm; quy định áp dụng phương pháp kiểm tra giảm…

Nguồn:baohaiquan

Sắp hết thời hạn, “thẻ vàng” từ EC đang được gỡ thế nào?

(HQ Online)- Liên quan tới nạn khai thác bất hợp pháp, không khai báo và không theo quy định (IUU), chỉ còn hơn 1 tháng nữa là hết thời hạn 6 tháng Ủy ban châu Âu (EC) đưa ra để Việt Nam nỗ lực khắc phục “thẻ vàng” cho hải sản XK. Với hàng loạt nỗ lực cả từ phía cơ quan chức năng cũng như cộng đồng DN, kỳ vọng cao “thẻ vàng” sẽ được gỡ trong tháng 4 tới.

Làm việc với EC trong tháng 3

Ngày 23/10/2017, EC có thông báo áp dụng biện pháp cảnh báo bằng “thẻ vàng” đối với sản phẩm hải sản XK của Việt Nam vào thị trường của Liên minh châu Âu (EU). Đồng thời, EC đưa ra 9 khuyến nghị Việt Nam cần phải thực hiện ngay trong 6 tháng (từ 23/10/2017 đến 23/4/2018).

Theo bà Nguyễn Thị Phương Dung (Vụ trưởng Vụ Khoa học, Công nghệ và Hợp tác quốc tế, Tổng cục Thủy sản, Bộ NN&PTNT), trong thời gian qua, nhằm ngăn chặn, phòng ngừa, chống hành vi khai thác IUU, hàng loạt giải pháp mang tính cấp bách, khẩn trương được tập trung triển khai như: Rà soát và ban hành bổ sung các quy định về chống khai thác IUU tại các văn bản quy phạm pháp luật; tuyên truyền phổ biến về các giải pháp cấp bách chống khai thác IUU tới cộng đồng ngư dân và các bên có liên quan; thực hiện đối thoại với EU, cập nhật tiến độ mà Việt Nam đã và đang triển khai nhằm cải thiện quản lý nghề cá theo hướng nghề cá có trách nhiệm…

Cụ thể, Bộ NN&PTNT, Tổng cục Thủy sản đã chỉ đạo lực lượng kiểm ngư tăng cường công tác tuần tra, giám sát chống khai thác IUU, trong đó, tập trung vào các khu vực Vịnh Bắc bộ, Tây Nam bộ (vùng biển giáp ranh Thái Lan, Campuchia), các vùng biển giáp ranh Indonesia, Malaysia….

Bên cạnh đó, Bộ NN&PTNT cũng yêu cầu địa phương thắt chặt việc kiểm tra tại cảng, đảm bảo 20% sản lượng lên bến đối với cá ngừ, 5% sản lượng lên bến đối với sản phẩm khác; đảm bảo tàu cá chưa được cấp giấy phép khai thác thủy sản không được ra khơi, không để tàu cá của tỉnh vi phạm vùng biển nước ngoài khai thác bất hợp pháp.

Ngoài ra, theo hướng dẫn của Bộ NN&PTNT, các địa phương đã tăng cường các hình phạt, xử phạt ở khung hình phạt cao nhất đối với chủ tàu, thuyền trưởng vi phạm; tiến hành điều tra, xử lý hình sự các đối tượng môi giới đưa tàu đi khai thác hải sản ở vùng biển nước ngoài.

Theo bà Dung, trong khuôn khổ chương trình hợp tác đa phương và song phương, Bộ NN&PTNT cũng đã tổ chức nhiều đoàn đàm phán với Philippines, Thái Lan, Brunei… chia sẻ và học hỏi kinh nghiệm chống khai thác IUU, tháo gỡ “thẻ vàng” và đưa ra cam kết chung về việc tiếp tục phối hợp chặt chẽ trong chống khai thác IUU và xem xét ký kết đường dây nóng và thúc đẩy hợp tác nghề cá.

“Thời gian qua, Bộ NN&PTNT đã tích cực trao đổi trực tiếp định kỳ giữa Bộ trưởng Bộ NN&PTNT với đại sứ EU tại Hà Nội về việc triển khai hoạt động của Việt Nam chống khai thác IUU. Trong tháng 3, Bộ trưởng Bộ NN&PTNT sẽ có buổi làm việc với Tổng vụ các vấn đề về biển và thủy sản của EC về khai thác IUU”, bà Dung nói.

Theo Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam (VASEP), xác định rõ sự cảnh báo này, trong thời gian qua, Chính phủ, Bộ NN&PTNT, các địa phương và cộng đồng DN thủy sản đã có những hành động hết sức quyết liệt để khắc phục các cảnh báo do EC đưa ra, nhằm bảo đảm việc khai thác thủy sản có trách nhiệm. Thực hiện chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, nhiều tỉnh đã ban hành các biện pháp nhằm xử lý mạnh việc khai thác IUU. Tỉnh Quảng Bình triển khai kế hoạch kiểm tra 100% tàu cá xuất/nhập bến theo khuyến cáo của EC. Theo đó, 100% tàu cá được kiểm tra hồ sơ giấy tờ, thực tế khi tàu xuất bến, chú trọng tàu lưới kéo, tàu có dấu hiệu nghi ngờ đánh bắt hải sản ở vùng biển nước ngoài; 100% tàu cá được kiểm tra, giám sát, khai báo khi cập cảng cá sông Gianh, Nhật Lệ; kiểm tra, thanh tra tại cảng cá ít nhất 20% sản lượng lên bến đối với cá ngừ; 5% sản lượng lên bến đối với các sản phẩm khai thác khác theo khuyến nghị của EC cùng với việc kiểm tra, phát hiện, ngăn chặn và xử lý các vi phạm trên biển.

Sau nhiều công điện, chỉ thị chỉ đạo cụ thể, ngày 16/1/2018, Thủ tướng Chính phủ có quyết định phê duyệt Kế hoạch hành động quốc gia nhằm ngăn chặn, giảm thiểu và loại bỏ khai thác hải sản IUU đến năm 2025. Mục tiêu của kế hoạch nhằm ngăn chặn tiến tới loại bỏ hoạt động khai thác IUU của tổ chức, cá nhân Việt Nam và nước ngoài trên các vùng biển Việt Nam; thúc đẩy phát triển nghề cá bền vững, có trách nhiệm, góp phần đảm bảo an ninh quốc gia, khu vực và hội nhập quốc tế; chấm dứt tình trạng tàu cá, ngư dân Việt Nam khai thác hải sản trái phép tại vùng biển các nước.

Ngày 26/1/2018, VASEP đã có công văn gửi Tổng cục Thủy sản để báo cáo về việc EU đang tăng cường xác minh chứng nhận C/C IUU các lô hàng hải sản Việt Nam nhập khẩu vào EU trong bối cảnh “thẻ vàng”. Đồng thời VASEP đã cử đại diện cụ thể tham gia Tổ công tác IUU của Bộ NN&PTNT. VASEP đề nghị được chia sẻ thông tin và phối hợp xử lý ngay từ ban đầu các yêu cầu xác minh của EU qua cổng email IUU Việt Nam.

Ngày 1/2/2018, các DN hải sản trong Chương trình cam kết chống khai thác IUU của VASEP đã đồng loạt treo bản cam kết (tại cổng nhà máy) chống khai thác IUU, cam kết không thu mua, chế biến và XK từ nguyên liệu hải sản có nguồn gốc khai thác IUU. Tiếp nối hiệu ứng này, VASEP đã đề xuất Bộ NN&PTNT có văn bản chỉ đạo xuống các tỉnh thành và Tổng cục Thủy sản về hoạt động tuyên truyền-truyền thông chống khai thác IUU

Nỗ lực xóa “thẻ vàng”

VASEP vừa có đề nghị Tổng cục Thủy sản chủ trì phối hợp với VASEP tổ chức Hội nghị đánh giá giữa kỳ về triển khai các nhiệm vụ, hoạt động khắc phục “thẻ vàng”, nhằm đánh giá những tồn tại-bất cập để lãnh đạo Bộ và Tổng cục kịp thời chỉ đạo các phương án tiếp theo, bao gồm một trong những nội dung quan trọng là việc hướng dẫn Thông tư 02/2018/TT-BNNPTNT ký ngày 31/1/2017 của Bộ với nhiều nội dung điều chỉnh, bổ sung, sửa đổi.

Đồng thời, VASEP đề xuất một số hoạt động ưu tiên triển khai trong tháng 3/2018, gồm: Đại diện Ban điều hành IUU VASEP được tham gia đoàn công tác của Bộ NN&PTNT sang làm việc về IUU và “thẻ vàng” với EU và Hàn Quốc theo kế hoạch sắp triển khai; VASEP phối hợp tích cực với Tổng cục về công tác chuyển ngữ và rà soát ngôn ngữ (tiếng Anh) của các báo cáo hoặc văn bản pháp lý nhằm kịp thời các công việc liên quan trong thời gian “thẻ vàng”.

“Việt Nam đang khẩn trương tháo dỡ ‘thẻ vàng’ trong thời gian sớm nhất. Tổ công tác của Bộ NN&PTNT đang làm việc với tỉnh Kiên Giang, Cà Mau để tiếp tục đẩy mạnh thực hiện IUU chặt chẽ. Nỗ lực gỡ bỏ ‘thẻ vàng’ của EC phải là sự hợp tác, chung tay giữa các cơ quan ban ngành, địa phương”, bà Dung nói.

Liên quan tới vấn đề này, Thứ trưởng Bộ NN&PTNT Hà Công Tuấn cho hay: “Việt Nam đang nỗ lực để gỡ “thẻ vàng” trong tháng 4/2018 hoặc nếu có chậm hơn cũng chỉ vài tháng, trong thời gian sớm nhất có thể. Trong đó, vấn đề quan trọng đầu tiên là chỉ đạo, tuyên truyền và quyết tâm nâng nhận thức của ngư dân để không đánh bắt sai pháp luật. Ngoài ra, biện pháp còn là thúc đẩy giám sát, kiểm soát hải trình, áp dụng xử phạt, thậm chí thu giấy phép của thuyền viên, cấm một thời gian ra biển”.

Cũng theo Thứ trưởng Hà Công Tuấn, trong tương lai, không chỉ ở lĩnh vực thủy sản mà với các mặt hàng khác, ngành nông nghiệp đặt mục tiêu hướng tới phải đảm bảo truy xuất nguồn gốc, sản xuất đúng pháp luật.

Liên quan tới xóa “thẻ vàng” cho hải sản XK, 9 khuyến nghị mà EC đưa ra cho Việt Nam cần phải thực hiện ngay trong 6 tháng gồm: Sửa đổi khung pháp lý để đảm bảo tuân thủ các quy tắc quốc tế và khu vực áp dụng cho việc bảo tồn và quản lý nguồn lợi thủy sản; đảm bảo thực hiện và thực thi có hiệu quả của pháp luật quốc gia sửa đổi; tăng cường việc thực hiện có hiệu quả các quy tắc quốc tế và các biện pháp quản lý thông qua một chế độ xử phạt đầy đủ được thực thi và theo dõi; khắc phục những thiếu sót đã được xác định trong thanh tra, kiểm soát và giám sát (MCS) liên quan đến các yêu cầu đặt ra của các quy định quốc tế và khu vực cũng như trong khuôn khổ hệ thống chứng nhận khai thác; tăng cường quản lý và cải tiến hệ thống đăng ký và cấp phép khai thác; cân bằng năng lực khai thác và chính sách đội tàu cá; tăng cường truy xuất nguồn gốc sản phẩm thủy sản và thực hiện tất cả các bước cần thiết, phù hợp với luật pháp quốc tế, để ngăn chặn các sản phẩm thủy sản đánh bắt bất hợp pháp được buôn bán và NK vào lãnh thổ; tăng cường và đẩy mạnh hợp tác với các quốc gia khác (đặc biệt là các quốc gia ven biển trong vùng biển mà tàu thuyền treo cờ Việt Nam có thể hoạt động) phù hợp với các nghĩa vụ quốc tế; đảm bảo tuân thủ các nghĩa vụ báo cáo và lưu giữ trong RFMOs (các tổ chức quản lý nghề cá khu vực).

Nguồn:baohaiquan

Sản xuất công nghiệp sẽ “chuyển mình” như thế nào?

(HQ Online)- Năm 2017, dù phải đối mặt với nhiều khó khăn, song sản xuất công nghiệp của Việt Nam vẫn tăng trưởng khá mạnh, đặc biệt là trong lĩnh vực công nghiệp chế biến chế tạo. Điều này tạo bước đệm quan trọng cho phát triển sản xuất công nghiệp trong năm 2018 theo hướng có chiều sâu hơn.

Tăng trưởng 9,4%

Theo Bộ Công Thương, năm 2017, sản xuất công nghiệp của Việt Nam tăng trưởng mạnh với chỉ số sản xuất toàn ngành tăng 9,4%, cao hơn nhiều so với mức tăng 7,4% của năm 2016 và vượt mức chỉ tiêu kế hoạch đã được đặt ra từ đầu năm (tăng 7,1 – 8%). Trong đó, đặc biệt là ngành công nghiệp chế biến chế tạo đã vượt khó đạt tăng trưởng chỉ số sản xuất toàn ngành 14,5%, khẳng định vai trò là trụ đỡ, động lực quan trọng nhất cho tăng trưởng chung của toàn ngành công nghiệp. Bộ trưởng Bộ Công Thương Trần Tuấn Anh đánh giá: “Điều này không chỉ trực tiếp góp phần vào bảo đảm hoàn thành mục tiêu chung của toàn ngành công nghiệp năm 2017 mà quan trọng hơn đã và đang cho thấy quá trình tái cơ cấu trong lĩnh vực công nghiệp đang đi đúng hướng và có những chuyển biến tích cực. Trong đó, nhiều ngành công nghiệp có mức tăng trưởng cao và vững chắc qua các quý trong bối cảnh thị trường có nhiều khó khăn như: Ngành sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính tăng 32,7%; ngành sản xuất kim loại tăng 17,6%; ngành dệt tăng 10,2% …”.

Bên cạnh đó, Bộ trưởng Trần Tuấn Anh cho hay: Tồn kho các sản phẩm công nghiệp tiếp tục duy trì mức thấp hơn so với mức tăng của năm 2016. Chỉ số tồn kho toàn ngành chế biến chế tạo tại thời điểm ngày 1/12/2017 tăng 8% (cùng kỳ tăng 8,3%). Đây là mức tồn kho hợp lý, phù hợp với tình hình sản xuất, tiêu thụ của ngành và là mức tồn kho theo kế hoạch để chuẩn bị cho vụ tiêu thụ trong thời gian tới.

Liên quan tới phát triển sản xuất công nghiệp năm 2017, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc cũng đánh giá: Sản xuất công nghiệp là động lực quan trọng giúp ngành kinh tế đạt tăng trưởng nói chung. Điểm sáng trong khu vực công nghiệp là công nghiệp chế biến chế tạo với tăng trưởng 14,5%. Đây là mức tăng trưởng cao nhất trong những năm gần đây. Bên cạnh đó, mô hình tăng trưởng công nghiệp đã có sự chuyển biến rõ nét, tích cực, giảm dần phụ thuộc NK.

Trên thực tế, bên cạnh những kết quả nổi bật, ngành sản xuất công nghiệp hiện cũng còn tồn tại không ít hạn chế. Đó là sản xuất công nghiệp tiếp tục chịu ảnh hưởng của việc sụt giảm nhóm ngành khai khoáng (giảm 7,1% so với cùng kỳ năm 2016). Việc cung ứng điện phục vụ cho nhu cầu sản xuất và sinh hoạt của cả nước tuy được bảo đảm với mức tăng cả năm 9,4% song thấp hơn mức 10% – 10,5% dự kiến đầu năm 2017 và thấp hơn so với mức tăng 11,5% của năm 2016. Theo Bộ Công Thương, chuyển dịch cơ cấu ở một số lĩnh vực công nghiệp chưa thực sự bền vững. Giá trị gia tăng của sản phẩm ở một số ngành tuy có tăng nhưng còn chậm (dệt may, da giày, điện tử…). Sản xuất công nghiệp vẫn chưa tham gia được nhiều vào mạng lưới sản xuất và chuỗi giá trị toàn cầu.

“Chỉ số sản xuất sản phẩm trung gian thấp hơn so với chỉ số sản xuất sản phẩm phục vụ sử dụng cuối cùng cho thấy sản phẩm trung gian trong sản xuất công nghiệp nước ta còn phụ thuộc khá nhiều vào nguồn NK. Qua đây cũng cho thấy, ngành công nghiệp hỗ trợ chưa thực sự đáp ứng tốt yêu cầu mục tiêu đề ra. Ngoài ra, đầu tư cho sản xuất còn nặng về xây dựng mới, nhẹ về đầu tư chiều sâu cho các cơ sở sẵn có, không tận dụng tốt các nguồn lực. Vốn đầu tư vào khu vực công nghiệp đa số tập trung vào các ngành có thời gian hoàn vốn ngắn như công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng và chế biến thực phẩm, số dự án đầu tư vào công nghệ cao chưa nhiều”, Bộ trưởng Trần Tuấn Anh nói.

Cần phát triển có chiều sâu hơn

Năm 2018, Bộ Công Thương xác định một trong những nhiệm vụ quan trọng để thúc đẩy phát triển sản xuất công nghiệp là: Khẩn trương và tích cực tái cơ cấu các DN nhà nước, đặc biệt là các Tập đoàn, Tổng công ty trong các lĩnh vực trọng điểm của nền kinh tế để khơi thông nguồn lực, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh trong các ngành công nghiệp trọng điểm quốc gia. Bên cạnh đó, Bộ cũng sẽ tiếp tục bám sát diễn biến của thị trường để có điều hành linh hoạt, kịp thời và hỗ trợ các DN trong triển khai phương án sản xuất kinh doanh tối ưu, nhằm đóng góp tốt hơn cho tăng trưởng GDP đối với các ngành công nghiệp; đẩy mạnh phát triển thị trường ngoài nước, khai thác tốt các Hiệp định Thương mại tự do (FTA) và ứng phó một cách chủ động, có hiệu quả với các xu thế bảo hộ và hàng rào kỹ thuật ở các thị trường trên thế giới…

Ghi nhận những kết quả đạt được nói chung của ngành Công Thương trong năm 2017, đặc biệt là ở lĩnh vực sản xuất công nghiệp, trong năm 2018, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc chỉ đạo: Phát triển lĩnh vực sản xuất công nghiệp, XNK và thương mại nội địa cần có chiều sâu hơn nữa, trong đó phải đẩy mạnh tái cơ cấu công nghiệp, thúc đẩy công nghiệp chế biến chế tạo, công nghiệp chế biến phục vụ nông nghiệp… “Đổi mới công nghiệp, ứng dụng khoa học công nghệ tiên tiến, nâng cao năng suất lao động… là các vấn đề cần được quan tâm trong ngành công nghiệp”, Thủ tướng nhấn mạnh.

Đứng ở góc độ đại diện cho các DN trực tiếp tham gia sản xuất, XK, ông Nguyễn Đức Thuấn, Chủ tịch Hiệp hội Da-Giày-Túi xách Việt Nam cho hay: Năng suất lao động là vấn đề rất đáng quan tâm trong lĩnh vực sản xuất da giày, túi xách nói riêng và các lĩnh vực sản xuất công nghiệp khác nói chung. Hiện nay, nhiều nước trên thế giới đều tính năng suất lao động theo giờ. Trong khi năng suất của các DN da giày Việt Nam trung bình là 0,6-0,7 USD/giờ thì nhiều DN ngoại, có áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật đã đạt tới năng suất 1,2 USD/giờ. Đây là thách thức khá lớn đối với các DN Việt. “Thời gian gần đây, hầu hết DN trong ngành đều tỏ ra khá lo lắng. Tôi đề xuất cần có hội đồng chuyên môn thống kê về năng suất lao động của từng ngành sản xuất để biết các ngành của Việt Nam đang đứng ở đâu, từ đó có biện pháp nâng cao năng lực của từng ngành, không đạt mức ngang bằng thì ít nhất cũng đạt 90% so với DN ngoại”, ông Thuấn bày tỏ quan điểm”.

Nguồn:baohaiquan

Tăng trưởng kinh tế 2018 sẽ theo kịch bản nào?

(HQ Online)- Kịch bản tăng trưởng năm sau cao hơn năm trước có thể sẽ không lặp lại ở năm 2018 khi kinh tế Việt Nam đang cần hướng về chất hơn là về lượng.

Nhiều tín hiệu lạc quan

Kinh tế Việt Nam năm 2017 có mức tăng trưởng GDP cao nhất trong nhiều năm trở lại đây, đạt 6,81%; nhiều chỉ tiêu kinh tế như lạm phát, lãi suất, tỷ giá, tín dụng, bội chi ngân sách, nợ công đều đạt mục tiêu đề ra. Nhiều điểm sáng của nền kinh tế đã được chỉ ra như số lượng DN thành lập mới đạt kỷ lục gần 130.000 DN thể hiện niềm tin của khu vực tư nhân, tăng trưởng nông nghiệp được phục hồi; công nghiệp chế biến chế tạo tiếp tục tăng trưởng cao, là bệ đỡ của ngành công nghiệp nói chung… Nhiều người lạc quan cho rằng kinh tế đã bước vào chu kỳ tăng trưởng mới.

TS. Trần Đình Thiên, Viện trưởng Viện Kinh tế nhấn mạnh, một trong những dấu ấn của kinh tế 2017 chính là khu vực kinh tế tư nhân khi khu vực này “tự mình khẳng định được mình chứ không cần phải tuyên ngôn có tính chất văn kiện”. Theo TS. Trần Đình Thiên, từ lâu kinh tế tư nhân đã là khu vực quan trọng của nền kinh tế nhưng năm 2017 là năm vai trò của khu vực này được thể hiện rất rõ nét, đặc biệt là vốn tư nhân đã góp phần thay thế được cho vốn đầu tư công giải ngân chậm. Điển hình như Tập đoàn Sungroup xây dựng sân bay Quảng Ninh chỉ trong vòng 18 tháng và dự kiến tháng 6/2018 sẽ khai trương đường bay, trong khi đó, nếu Nhà nước làm thì có thể sẽ mất 15-20 năm. Một ví dụ khác, tại Phú Quốc hay TP.HCM, hiện nay đóng góp tư nhân vào tăng trưởng kinh tế có vai trò quyết định. Cùng với sự bứt phá mạnh mẽ của đầu tư nước ngoài, 2 khu vực nội địa và FDI đã giúp xếp hạng Việt Nam tăng lên.

Cho rằng FDI sẽ là nguồn lực lớn thúc đẩy tăng trưởng FDI 2018, GS Nguyễn Mại cho biết hiện nay có 25.000 DN FDI đang hoạt động tại Việt Nam. Chiếm tới ¼ số lượng DN FDI tại Việt Nam là các DN FDI của Nhật Bản và một con số lạc quan là 65% DN FDI Nhật Bản cho biết, trong năm 2018 dự kiến sẽ tiếp tục mở rộng sản xuất kinh doanh tại Việt Nam. Đây là những con số giúp chúng ta tin tưởng môi trường đầu tư kinh doanh đã được cải thiện, thúc đẩy sản xuất kinh doanh của các DN. Chuyên gia Nguyễn Mại cũng cho rằng, thị trường chứng khoán cũng là điểm sáng của nền kinh tế khi đầu năm 2018 đã có ba phiên tăng hơn 30 điểm giúp thị trường lên trên 1.019 điểm. Nhiều người cho rằng đây sẽ là xu thế chủ đạo của quý I và có thể kéo dài cả nửa đầu năm 2018.

Cuối năm 2017, Ủy ban Tài chính Quốc gia dự báo tăng trưởng kinh tế 2018 sẽ ở mức 6,8%. Tuy nhiên, năm 2018, Chính phủ tiếp tục mục tiêu hàng đầu là quyết tâm tăng cường ổn định kinh tế vĩ mô, đồng thời kiểm soát lạm phát, bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững. Hướng tới mục tiêu tăng chất lượng nền kinh tế, Chính phủ đặt mục tiêu năm 2018 tăng trưởng GDP sẽ ở mức 6,7% – thấp hơn GDP 2017, tốc độ tăng chỉ số giá tiêu dùng (CPI) bình quân khoảng 4%. Theo lẽ thường, tăng trưởng GDP sẽ đi theo kịch bản năm sau cao hơn năm trước, tuy nhiên, với GDP 2018, nhiều ý kiến của các chuyên gia đồng tình với khả năng tăng trưởng GDP theo quan điểm của Chính phủ.

Tăng trưởng GDP trong khoảng nào?

Theo nhiều chuyên gia, năm 2017 được xem là năm thành công của lĩnh vực tài chính, bao gồm toàn bộ các ngành ngân hàng, chứng khoán và bảo hiểm. Thành công của chính sách tiền tệ là không phải là đưa ra chính sách tốt mà hành động thực thi chính sách tốt. Theo TS. Lê Xuân Nghĩa, chuyên gia tài chính, công cuộc tái cấu trúc hệ thống ngân hàng và toàn hệ thống nói chung đạt kết quả bước đầu và tạo lòng tin nhất định, tạo triển vọng sáng sủa hơn trong năm 2018 khi có thể vẫn sẽ duy trì được sự ổn định và cải thiện các mục tiêu dài hạn. Đánh giá về tăng trưởng kinh tế 2018, chuyên gia Lê Xuân Nghĩa cho rằng, chu kỳ tăng trưởng ngắn hạn sẽ kết thúc trong quýIII/2018 và sau quý III sẽ vào chu kỳ giảm tăng trưởng ngắn hạn. Xét trong dài hạn thì đến năm 2019 sẽ giảm dần và không có đột phá. Vì thế, dự báo về GDP năm 2018, chuyên gia này cho rằng GDP dự báo chỉ tăng trên 6%, lạm phát sẽ ở mức 4% và lãi suất sẽ theo hướng ổn định, giảm nhẹ, tỷ giá ổn định.

TS. Võ Trí Thành, nguyên Phó viện trưởng Viện Nghiên cứu Quản lý kinh tế trung ương cũng “có cái nhìn vừa phải về kinh tế 2018”. Theo chuyên gia này, mức tăng trưởng GDP năm 2018 nằm trong khoảng 6,5-6,7% là hợp lý. Ba lý do được TS. Võ Trí Thành dẫn ra, trước hết, kinh tế thế giới vẫn trong chu kỳ tăng trưởng tích cực hơn, nhưng rất nhiều dự báo cho thấy, cân đối với những bất định, rủi ro của kinh tế thế giới thì tính tích cực của kinh tế thế giới 2018 so với 2017 đã không còn được như 2017 so với 2016. Cụ thể, tăng trưởng kinh tế thế giới năm 2016 theo IMF là 3,2%, năm 2017 là 3,6 và 2018 chỉ là 3,7%. Không những thế, tăng trưởng của những nền kinh tế phát triển bắt đầu chững lại, không còn cao như 2017. Trong khi đó, kinh tế Việt Nam rất mở, có liên quan tới xu thế của kinh tế thế giới.

“Lý do thứ hai, Việt Nam vẫn phải cân đối giữa 3 bài toán: ổn định kinh tế vĩ mô, bài toán tăng trưởng và bài toán tái cấu trúc, cơ cấu nền kinh tế, mà tái cấu trúc trong ngắn hạn sẽ có phí tổn và Việt Nam buộc phải cân đối vấn đề này. Lý do thứ ba, Việt Nam đang cải tổ bộ máy nhà nước, cải cách hành chính và xử lý nhiều vấn đề xã hội bức xúc, do đó phải cân đối với việc tập trung nỗ lực chỉ để đẩy nhanh tăng trưởng. Với 3 lý do này, tôi cho rằng 6,5-6,7% là mức tăng trưởng phù hợp”, chuyên gia Võ Trí Thành nhận định.

Về diễn biến tăng trưởng qua từng quý, lâu nay tăng trưởng kinh tế của Việt Nam vẫn thường theo kịch bản đầu năm tăng chậm, giữa năm bắt đầu bứt phá. Với câu hỏi năm 2018 liệu có diễn ra kịch bản này hay không, chuyên gia Võ Trí Thành cho rằng, tăng trưởng kinh tế Việt Nam mang tính chu kỳ. Ở Việt Nam tăng trưởng quý sau bao giờ cũng cao hơn quý trước và điều này cũng sẽ không phải là ngoại lệ trong năm 2018. Có nhiều lý do, trong đó tính chu kỳ phản ánh những vấn đề liên quan đến lễ hội, tiêu dùng và sản xuất kinhdoanh. Đơn cử, những tháng cuối năm là dịp đẩy mạnh sản xuất, tiêu dùng cho lễ tết, đồng thời, theo năm tài chính thì thường cuối năm bao giờ các bộ, ngành, DN cũng nỗ lực hơn để hoàn thành kế hoạch Quốc hội thông qua.

Nguồn:baohaiquan

Chất lượng xăng E5 được kiểm soát như thế nào?

(HQ Online)- Để quản lý chất lượng xăng E5, hiện đã có cả Bộ tiêu chuẩn kỹ thuật được xây dựng, áp dụng theo tiêu chuẩn của Hoa Kỳ, đồng thời các tiêu chuẩn cũng được cập nhật liên tục để phù hợp với xu thế chung của thế giới. 

Chưa có xe nào hỏng do xăng E5

Phát biểu tại buổi tọa đàm trực tuyến với chủ đề “Để người dân không còn e dè với xăng ethanol” do Báo Giao thông tổ chức ngày 10/1, về quy trình giám sát chất lượng xăng E5 ở Việt Nam, ông Nguyễn Văn Khôi, Phó Vụ trưởng phụ trách Vụ Tiêu chuẩn, Tổng cục Tiêu chuẩn Đo lường chất lượng, Bộ Khoa học và Công nghệ cho biết: Có tất cả 19 tiêu chuẩn. Ngoài TCVN 8063 là tiêu chuẩn quốc gia về quản lý về kiểm định chất lượng, còn có những tiêu chuẩn đối với lượng ethanol được pha vào xăng và nhiều tiêu chuẩn liên quan khác.

Toàn bộ hệ thống tiêu chuẩn này áp dụng theo tiêu chuẩn của Hoa Kỳ, tiêu chuẩn phổ biến nhất hiện nay. Quá trình xây dựng, biên soạn các tiêu chuẩn đều có sự tham gia của rất nhiều bên liên quan như đại diện doanh nghiệp, cơ quan quản lý, có quá trình lấy ý kiến, phản hồi…

“Ngay từ những năm 2010, xăng E5 đã được triển khai, thí điểm áp dụng thử ở Vũng Tàu thông qua một số hãng taxi. Thời gian qua, khi áp dụng thí điểm xăng E5 ở 6 thành phố lớn, chúng tôi đã tăng cường công tác quản lý thị trường, kiểm tra, test nhanh trên thị trường. Báo cáo đến thời điểm hiện tại cho thấy, chưa có vụ việc nào hỏng hóc do sử dụng xăng E5”, ông Khôi nhấn mạnh.

Liên quan tới vấn đề này, ông Nguyễn Phú Cường, Vụ trưởng Vụ Khoa học công nghệ (Bộ Công thương) cho biết thêm: Về việc xây dựng Bộ Tiêu chuẩn kỹ thuật Việt Nam để quản lý chất lượng xăng E5, ngoài cơ quan quản lý nhà nước còn có đại diện của các nhà sản xuất nhiên liệu, nhà sản xuất ô tô. Bộ tiêu chuẩn này cũng liên tục được cập nhật, rà soát để phù hợp với xu thế chung của thế giới. Tiêu chuẩn, quy chuẩn quản lý chất lượng nhiên liệu của Việt Nam cũng phải tương đồng với các nước trên thế giới.

“Về quản lý chất lượng xăng E5, Bộ Khoa học và Công nghệ được Chính phủ giao chịu trách nhiệm, cụ thể là Tổng cục Tiêu chuẩn đo lường chất lượng. Chúng tôi là đơn vị phối hợp nhưng xăng dầu nói riêng và nhiên liệu nói chung đều được quản lý chặt chẽ theo Luật Tiêu chuẩn, quy chuẩn, đánh giá hợp quy chặt chẽ theo lô, hoặc đánh giá theo quá trình tại cơ sở sản xuất”, ông Cường khẳng định.

Xăng E5 có thực sự rẻ?

Được “phủ sóng” trên toàn quốc, thay thế xăng khoáng RON 92 từ ngày 1/1/2018 và có giá rẻ hơn xăng RON 92, tuy nhiên nhiều quan điểm đánh giá, thực tế xăng E5 không hề rẻ bởi chỉ đang được Nhà nước trợ giá.

Đáp lại thắc mắc này, ông Cường lý giải: Chủ trương của Chính phủ là khuyến khích sử dụng loại nhiên liệu mới. Để khuyến khích có nhiều cách. Nhiều nước áp dụng ưu đãi về thuế, phí để khuyến khích sản phẩm thân thiện môi trường. Giữa xăng khoáng RON 92 và xăng E5 trên cơ sở xăng RON 92 trước kia, Chính phủ dùng chính sách thuế phí để tạo độ chênh. Thời điểm chênh cao nhất là khoảng 1.000 đồng, có lúc chỉ còn 300 đồng… Bình quân là chênh 500 đồng.

Cũng theo ông Nguyễn Phú Cường: Hiện, phí môi trường đang tính cho xăng E5 thấp hơn phí môi trường xăng khoáng 100%. Thứ 2, thuế tiêu thụ đặc biệt cũng có sự khác biệt. Hiện nay, Bộ Công Thương xuất phát từ đề nghị của rất nhiều bên, đang báo cáo Chính phủ tiếp tục giảm phí môi trường của sản phẩm thân thiện với môi trường là xăng E5. Đây chính là cơ sở tạo độ chênh về giá.

Ngoài làm rõ lý do giá xăng E5 rẻ hơn RON 92, ông Cường còn nhấn mạnh: Không nên so sánh giá xăng E5 với xăng RON 95 và cho rằng giá xăng RON 95 tăng là để “ép” người dân sử dụng xăng E5.

“Kể cả trong thời điểm tồn tại giữa xăng RON 92 và xăng RON 95, khoảng chênh giữa hai loại đã là 700 – 800 đồng. Tuy nhiên, đây là xăng cùng loại xăng đạt tiêu chuẩn EURO 2. Hiện tại, xăng RON 95 mà nhiều người đang cho rằng giá cao đột biến là xăng tiêu chuẩn EURO 3 và 4. Đây là xăng có tiêu chuẩn khắt khe hơn. Nhiên liệu này ở các nước khác cũng bán giá cao hơn vì đòi hỏi công nghệ lọc hoá dầu tốt hơn. Nếu so sánh xăng RON 95 của EURO 2 và 4, trên thị trường thế giới đã chênh khoảng 100 – 200đ/lít. So sánh xăng RON 95 hiện nay và xăng E5 là không hợp lý. Chính phủ không ép dùng xăng E5 mà chỉ khuyến khích bằng giá và giảm thuế, phí”, ông Cường nhấn mạnh.

Theo ông Phạm Anh Tuấn, Trưởng tiểu ban chính sách, Hiệp hội Các nhà sản xuất ô tô Việt Nam (VAMA): Kết quả khảo sát trong các thành viên VAMA cho thấy, việc sử dụng xăng E5 cơ bản không ảnh hưởng đối với những xe sản xuất từ năm 1997. Đối với các loại xe sản xuất trước năm 1997 có thể có một số ảnh hưởng nhưng không ảnh hưởng tới chất lượng, độ an toàn của xe. Ngoài ra, có thể sử dụng xăng ethanol với hàm lượng tối đa 10%, đảm bảo chỉ số octan đúng quy định (tối thiểu từ 91%). Khi sử dụng động cơ có phát ra tiếng gõ máy nhẹ khi tăng tốc hay leo dốc thì người sử dụng nên hỏi lại nhà sản xuất. Tuy nhiên, đây cũng là hiện tượng hoàn toàn bình thường.

Nguồn:baohaiquan