Hải quan Cao Bằng: Tập trung thu ngân sách ngay từ đầu năm

(HQ Online)- Đây là một trong những nhiệm vụ trọng tâm được Cục Hải quan Cao Bằng đưa ra tại Hội nghị tổng kết công tác năm 2018, triển khai nhiệm vụ năm 2019 diễn ra vào chiều qua (15/1).

Tham dự Hội nghị có Bí thư Tỉnh ủy Cao Bằng Lại Xuân Môn, Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Hải quan Nguyễn Công Bình, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Cao Bằng Nguyễn Bích Ngọc.

Năm 2018, Cục Hải quan Cao Bằng giải quyết thủ tục cho 204d oanh nghiệp. Các mặt hàng xuất nhập khẩu chủ yếu là chì thỏi, quặng, hoa quả khô, hoa quả tươi, nhân hạt điều, các mặt hàng hải sản, máy móc thiết bị, vải các loại, than cốc, fero các loại…

Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu đạt 693,7 triệu USD, trong đó, kim ngạch xuất khẩu đạt 553,8 triệu USD giảm 12% so với năm 2017; kim ngạch nhập khẩu đạt 139,9 triệu USD giảm 18% so với năm 2017.

Ngoài ra, Cục Hải quan Cao Bằng còn giám sát hàng tạm nhập – tái xuất, kho ngoại quan mở tờ khai tại các đơn vị khác chuyển đến địa bàn tỉnh Cao Bằng để tái xuất. Các mặt hàng chủ yếu là thịt, hải sản đông lạnh, thuốc lá lá, ô tô đã qua sử dụng, ô tô mới, quả khô các loại với tổng số 32.277 bộ tờ khai, giảm 9% so với năm 2017; tổng trọng lượng 984.173 tấn, giảm 9%; trị giá đạt gần 2,2 tỷ USD tăng 7%.

Địa điểm xuất chủ yếu là Chi cục Hải quan cửa khẩu Tà Lùng; Chi cục Hải quan cửa khẩu Trà Lĩnh; Chi cục Hải quan cửa khẩu Pò Peo; Chi cục Hải quan cửa khẩu Sóc Giang; Chi cục Hải quan cửa khẩu Bí Hà…

Một nét nổi bất khác trong công tác năm 2018 của Cục Hải quan Cao Bằng là thu nộp ngân sách được 252,03 tỷ đồng; đạt 210% chỉ tiêu Bộ Tài chính giao.

Năm 2018, Cục Hải quan Cao Bằng đã phát hiện, xử lý 39 vụ vi phạm trong lĩnh vực hải quan, trong đó có 8 vụ việc có yếu tố hình sự, Cục đã ra quyết định khởi tố 2 vụ án. Tang vật vi phạm chủ yếu là thuốc lá lá, pháo, gà vịt đông lạnh, phụ tùng ô tô, giầy dép…

Ngoài ra, Cục Hải quan Cao Bằng đã hoàn thành kết nối Hệ thống quản lý hải quan tự động (VASSCM) tại 16 địa điểm tập kết, kiểm tra hàng hóa tập trung và kho ngoại quan theo kế hoạch.

Về nhiệm vụ năm 2019, Cục Hải quan Cao Bằng tiếp tục thực hiện thí điểm tạm nhập, tái xuất hàng hóa theo cơ chế đặc thù tại địa bàn; triển khai và duy trì vận hành tốt Hệ thống VASSCM.

Đồng thời, ngay từ đầu năm, Cục Hải quan Cao Bằng phấn đấu hoàn thành và hoàn thành vượt mức nhiệm vụ thu ngân sách năm 2019 theo chỉ tiêu Bộ Tài chính giao (128 tỷ); và chỉ tiêu phấn đấu 150 tỷ đồng do UBND tỉnh Cao Bằng và Bắc Kạn giao…

Phát biểu tại Hội nghị, Bí thư Tỉnh ủy Cao Bằng Lại Xuân Môn và Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Hải quan Nguyễn Công Bình đánh giá cao nỗ lực, kết quả các mặt công tác của Cục Hải quan Cao Bằng trong năm 2018.

Về nhiệm vụ năm 2019, lãnh đạo Tổng cục Hải quan và tỉnh Cao Bằng yêu cầu Cục Hải quan Cao Bằng tiếp tục đẩy mạnh công tác cải cách thủ tục hành chính, hiện đại hóa hải quan, tạo thuận lợi cho hoạt động XNK.

Đồng thời thực hiện tốt nhiệm vụ thu ngân sách; phòng, chống buôn lậu, gian lận thương mại; quản lý, giám sát hiệu quả hàng hóa liên quan đến loại hình tạm nhập tái xuất, kho ngoại quan; chú trọng công tác xây dựng lực lượng…

Nguồn:baohaiquan

2 lý do khiến xuất khẩu cà phê gặp khó nửa đầu năm

(HQ Online)- Dự báo, trong 6 tháng đầu năm 2019, xuất khẩu cà phê của Việt Nam sẽ tiếp tục gặp khó khăn bởi giá cà phê toàn cầu ở mức thấp và lượng cà phê xuất khẩu có khả năng thấp hơn cùng kỳ năm 2018 do sản lượng giảm.

Theo Tổ chức Cà phê Quốc tế (ICO): Sản lượng cà phê thế giới niên vụ 2017/2018 đạt 163,51 triệu bao, tăng 4,8% so với niên vụ 2016/2017. Trong đó, cà phê Arabica tăng 1,7% lên 101,23 triệu bao và cà phê Robusta tăng 10,5% lên 62,28 triệu bao.

Trong khi đó, lượng tiêu thụ của vụ 2017/2018 là 161,93 triệu bao, tăng 1,8%, khiến lượng cà phê dư thừa 1,58 triệu bao. Tính đến ngày 17/12/2018, tồn kho cà phê Robusta được sàn London chứng nhận đã tăng thêm 2.510 tấn, tăng 2,4% so với tuần thương mại trước đó, lên 105.350 tấn.

ICO dự báo, 6 tháng đầu năm 2019, thị trường cà phê toàn cầu vẫn chịu áp lực dư cung. Bên cạnh đó, kinh tế toàn cầu tiềm ẩn nhiều rủi ro cũng sẽ có tác động nhất định đến nhu cầu tiêu thụ cà phê.

Thời gian qua, xuất khẩu cà phê của Việt Nam đã và đang chịu tác động trực tiếp từ thị trường cà phê thế giới. Theo thống kê của Tổng cục Hải quan (Bộ Tài chính): Năm 2018, xuất khẩu cà phê đạt 1,882 triệu tấn, trị giá 3,544 tỷ USD, tăng 20,1% về lượng và tăng 1,2% về trị giá so với năm 2017. Giá xuất khẩu bình quân cà phê cả năm đạt mức 1.883 USD/tấn, giảm 15,7% so với năm 2017.

Xung quanh câu chuyện của ngành cà phê, Cục Xuất nhập khẩu (Bộ Công Thương) thông tin thêm: Tháng 12/2018, giá cà phê Robusta nhân xô trong nước giảm so với tháng 11/2018. Hiện, giá cà phê tại thị trường trong nước có mức thấp nhất là 32.200 đồng/kg tại huyện Di Linh (Lâm Đồng) và mức cao nhất là 33.400 đồng/kg tại các huyện Cư M’gar và Buôn Hồ tỉnh Đắk Lắk. Tại các kho quanh khu vực TP.HCM, cà phê Robusta loại R1 có mức giá 34.100 đồng/kg, giảm 5,8%.

Dự báo, trong 6 tháng đầu năm 2019, xuất khẩu cà phê của Việt Nam sẽ tiếp tục gặp khó khăn. Đó là bởi, giá cà phê toàn cầu ở mức thấp và lượng cà phê xuất khẩu có khả năng thấp hơn cùng kỳ năm 2018 do sản lượng giảm.

Về cơ bản, thị trường cà phê thế giới tiếp tục được nhìn nhận khá ảm đạm trong nửa đầu năm, tuy nhiên, nửa cuối năm sẽ khởi sắc.

Cụ thể, thị trường cà phê toàn cầu đã xuất hiện tín hiệu khả quan khi sản lượng cà phê Việt Nam dự báo giảm mạnh. Theo Hiệp hội Cà phê – Ca Cao Việt Nam, sản lượng cà phê Việt Nam niên vụ 2018/2019 giảm khoảng 20% so với dự kiến trước đó do ảnh hưởng của biến đổi khí hậu năm 2018 và diện tích trồng cà phê giảm khoảng 6% trong năm 2017 và năm 2018 do chuyển đổi cây trồng.

Trong khi đó, các tác động của El Nino đã diễn ra ở một số khu vực của Australia, Brazil và Ấn Độ nhiều khả năng sẽ ảnh hưởng tới năng suất và sản lượng mùa vụ các mặt hàng nông nghiệp.

ICO cho rằng dư thừa cà phê chỉ là ngắn hạn, trong khi nhu cầu tiêu thụ hàng năm vẫn tăng trưởng ổn định. Do đó, nhiều khả năng nửa cuối năm 2019, giá cà phê sẽ phục hồi trở lại sau khi lượng cà phê dư thừa được hấp thụ hết, nhưng mức tăng sẽ không quá cao.

Nguồn:baohaiquan

Sau gần một năm, Ngân hàng Nhà nước nâng giá mua USD

Thị trường với bối cảnh, các điều kiện và các cân đối liên quan đến tỷ giá USD/VND đã thay đổi…

Ngày 2/1, ngày giao dịch đầu tiên của thị trường năm 2019, Sở Giao dịch Ngân hàng Nhà nước quyết định nâng giá mua vào ngoại tệ trên biểu niêm yết.

Cụ thể, giá mua vào USD của Sở Giao dịch Ngân hàng Nhà nước đã lên mức 23.200 VND, tăng 500 VND so với mức niêm yết trước đó trong năm 2018.

Cùng ngày, đầu mối này vẫn giữ nguyên việc áp giá bán ra USD như thực hiện trong năm qua, thấp hơn mức trần một bước 50 VND; tỷ giá trung tâm giữa VND với USD cũng được giữ nguyên ở 22.825 VND như mức đóng cửa năm 2018.

Như vậy, đây là lần đầu tiên trong gần một năm qua, Sở Giao dịch Ngân hàng Nhà nước điều chỉnh giá mua vào USD, theo hướng nâng lên nói trên.

Mức giá mua vào 22.700 VND trước đó là kết quả của lần điều chỉnh giảm 10 VND ngày 8/2/2018 và áp dụng đến hết năm vừa qua.

Trong gần một năm đó, thị trường với bối cảnh, các điều kiện và các cân đối liên quan đến tỷ giá USD/VND đã thay đổi. Cụ thể như lãi suất USD đã tăng lên, tỷ giá trung tâm cũng đã tăng khoảng 1,8% và tỷ giá giao dịch trên thị trường cũng đã tăng khoảng 2,2% trong một năm đó…

Theo đó, Sở Giao dịch Ngân hàng Nhà nước đã có điều chỉnh mới ở giá mua vào, đưa mức giá mới đến điểm phù hợp hơn với các cân đối trên, cũng như để phản ánh sự tương đồng nhất định với “mặt bằng” của tỷ giá USD/VND cũng như cung – cầu trên thị trường.

“Mặt bằng” tỷ giá hiện nay được định hình trong biên độ + / – 3% so với tỷ giá trung tâm, có định hướng hỗ trợ ở mức giá mua vào – bán ra của Sở Giao dịch Ngân hàng Nhà nước niêm yết, cũng như thể hiện ở tỷ giá giao dịch trên biểu niêm yết của các ngân hàng thương mại.

Tỷ giá USD/VND của các ngân hàng thương mại hiện ổn định và khá cân bằng giữa vùng biên độ theo cơ chế điều hành hiện hành. Trạng thái ngoại tệ của hệ thống hiện có dấu hiệu dư cung, cũng như tỷ giá USD/VND giảm khá mạnh thời gian gần đây.

Trong ngày đầu tiên có điều chỉnh trên, tỷ giá USD/VND trên các thị trường khá ổn định; giá mua vào USD của các ngân hàng thương mại thấp hơn so với mức giá mua vào nói trên của Sở Giao dịch Ngân hàng Nhà nước.

Trước đây, trong năm 2017, Ngân hàng Nhà nước từng nhiều lần điều chỉnh tăng hoặc giảm giá mua vào USD, linh hoạt theo diễn biến của thị trường từng giai đoạn.

Lần này, như trên, việc điều chỉnh cũng nhằm hướng tới sự phù hợp hơn và phản ánh những thay đổi của thị trường sau một thời gian nhất định.

Nguồn:baohaiquan

2019 là năm bứt phá, tạo động lực cho kinh tế Việt Nam

(HQ Online)- Đây là nhận định của Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê Nguyễn Bích Lâm (Ảnh) trong cuộc trao đối với báo giới bên lề buổi Họp báo công bố số liệu thống kê về kinh tế – xã hội năm 2018 vừa được tổ chức. 

Xin ông cho biết những đánh giá về tình hình kinh tế năm 2018 và cho biết những ngành, lĩnh vực nào khởi sắc giúp cho nền kinh tế Việt Nam tăng trưởng trong năm 2018?

Kinh tế Việt Nam năm 2018 đạt nhiều kết quả tích cực và toàn diện trên tất cả các lĩnh vực, cung – cầu của nền kinh tế cùng song hành phát triển. Tăng trưởng kinh tế năm 2018 đạt 7,08% so với năm 2017, là mức tăng cao nhất 11 năm qua, vượt mục tiêu 6,7% của Chính phủ. Chất lượng tăng trưởng và môi trường đầu tư kinh doanh được cải thiện, DN thành lập mới tăng mạnh. Nền tảng kinh tế vĩ mô được củng cố và từng bước được tăng cường.

Kinh tế năm 2018 khởi sắc trên cả ba khu vực sản xuất. Trong đó, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo là điểm sáng đóng góp chính cho tăng trưởng kinh tế với mức tăng cao 12,98%. Ngành nông nghiệp khẳng định xu hướng phục hồi rõ nét khi đạt mức tăng 2,89%, cao nhất giai đoạn 2012-2018; ngành thủy sản đạt kết quả khá tốt với mức tăng 6,46%. Bên cạnh đó, các ngành dịch vụ thị trường tăng trưởng khá hoạt động thương mại dịch vụ năm 2018 có mức tăng trưởng khá đã góp phần đưa mức tăng trưởng của khu vực dịch vụ năm 2018 lên 7,03%, cao hơn so với các năm 2012-2016.

Kim ngạch hàng hóa xuất khẩu năm 2018 ước tính đạt 244,7 tỷ USD, tăng 13,8% so với năm 2017 (vượt mục tiêu Quốc hội đề ra là tăng 7%-8% và Nghị quyết 01 của Chính phủ là tăng 8%-10%). Năm 2018,cán cân thương mại hàng hóa xuất siêu 7,2 tỷ USD, là năm có giá trị xuất siêu lớn nhất từ trước đến nay.

Bên cạnh những kết quả đạt được, tình hình kinh tế – xã hội vẫn còn nhiều khó khăn, thách thức tác động tới tăng trưởng cho các năm tới. Ông nhận định về tình hình này như thế nào?

Tăng trưởng kinh tế Việt Nam năm 2018 đạt mức cao nhất từ năm 2008 đến nay do các yếu tố tích cực nội tại, tuy nhiên, nền kinh tế nước ta cũng đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức tác động đến tăng trưởng trong các năm tới.

Có thể kể đến như: nền kinh tế nước ta phụ thuộc khá nhiều vào bên ngoài phản ánh thực tế mọi biến động của thế giới đều có thể tác động tới nền kinh tế trong nước, thậm chí nền kinh tế nước ta có thể bị cuốn vào “vòng xoáy” của những biến động đó. XK của nước ta vẫn phụ thuộc vào các thị trường lớn, XK khu vực trong nước có cải thiện nhưng tỷ trọng kim ngạch XK của khu vực có vốn đầu tư nước ngoài còn lớn (chiếm trên 70%).

Bên cạnh đó, cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 tạo ra xu hướng tự động hóa và trao đổi dữ liệu trong công nghệ sản xuất có phạm vi ảnh hưởng sâu rộng tới mọi mặt kinh tế, chính trị và xã hội, trở thành động lực mới cho phát triển nhưng cũng là thách thức rất lớn đối với những nước đang phát triển có mức thu nhập trung bình như Việt Nam.

Ngoài ra, còn có những thách thức đến từ các yếu tố nội tại của nền kinh tế, như: Trình độ công nghệ thấp, đất đai, tài nguyên đang dần bị suy giảm trong khi năng suất, hiệu quả và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế tuy có chuyển biến nhưng chưa thực sự đột phá, những lợi thế so sánh truyền thống của Việt Nam có xu hướng giảm dần…

Thưa ông, phát triển kinh tế 2019 có vai trò thế nào trong giai đoạn 2016-2020? Theo ông, những yêu cầu nào cần đặt ra để phấn đấu trong năm 2019, góp phần thành công cho giai đoạn 2016-2020?

Nếu năm 2018 là năm bản lề thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội 5 năm 2016-2020 thì năm 2019 có thể coi là năm “bứt phá”nhằm tạo động lực cho kinh tế Việt Nam về đích vào năm 2020.

Nhiệm vụ trọng tâm của kinh tế 2019 là vừa phải ổn định kinh tế vĩ mô, vừa phải quyết liệt thực hiện các giải pháp để đẩy nhanh tốc độ cơ cấu lại nền kinh tế, đổi mới thực chất hơn nữa mô hình tăng trưởng để duy trì đà tăng trưởng như hiện nay.

Với mục tiêu tăng trưởng GDP đạt 6,5%-7% Quốc hội đề ra cho giai đoạn 2016-2020, chúng ta đã đi được hơn một nửa đoạn đường với kết quả khả quan giai đoạn 2016-2018 tăng trưởng bình quân 6,7%.

Tuy nhiên, để đạt được mục tiêu tăng trưởng GDP năm 2019 của Quốc hội đề ra là 6,6%-6,8%, năm 2019 cần tập trung vào một số giải pháp sau: Chính phủ và các địa phương trong cả nước cần tập trung rà soát, bổ sung và hoàn thiện thể chế, cắt giảm thực chất điều kiện kinh doanh đang là rào cản đối với hoạt động của DN và cơ sở kinh doanh cá thể, đẩy mạnh cải cách hành chính, thực thi hiệu quả thủ tục một cửa tạo môi trường kinh doanh thuận lợi cho DN thành lập và phát triển…

Bên cạnh đó, tiến hành xây dựng, sửa đổi, bổ sung hệ thống pháp luật để thực hiện có hiệu quả Hiệp định CPTPP, đồng thời tích cực vận động sớm phê chuẩn Hiệp định EVFTA. Nâng cao kết quả hoạt động mở rộng thương mại quốc tế, đẩy mạnh xúc tiến thương mại, tìm kiếm và mở rộng thị trường XK chính ngạch cho sản phẩm nông sản.

Ngoài ca, chúng ta cần chủ động, linh hoạt trong điều hành chính sách tiền tệ, lãi suất, tỷ giá phù hợp với diễn biến thị trường trong nước và quốc tế để hỗ trợ cho sản xuất kinh doanh và tăng trưởng kinh tế. Nâng cao chất lượng tín dụng; phát triển đồng bộ hệ thống kết cấu hạ tầng, đặc biệt là hạ tầng giao thông và công nghệ thông tin; đẩy nhanh tiến độ hoàn thành các công trình, dự án trọng điểm, có sức lan tỏa cao, có ý nghĩa nâng cao năng lực sản xuất cho nền kinh tế.

Để nền kinh tế có thể hòa nhập, không bị bỏ lại phía sau trong cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, Chính phủ cần đổi mới phương thức thu hút FDI, tập trung thu hút các nhà đầu tư hàng đầu thế giới, đang nắm giữ công nghệ nguồn có năng lực quản trị hiện đại, năng lực cạnh tranh cao đầu tư vào Việt Nam, tăng cường liên kết giữa DN FDI và DN nội địa, ngăn ngừa việc chuyển dịch các dòng vốn gây ô nhiễm môi trường, công nghệ lạc hậu vào Việt Nam.

Trân trọng cảm ơn ông!

Nguồn:baohaiquan

Đài Loan bỏ lệnh cấm nhập khẩu tạm thời dầu mỡ Việt Nam

(HQ Online)- Đài Loan chính thức xóa bỏ lệnh cấm nhập khẩu tạm thời đối với sản phẩm dầu mỡ có nguồn gốc từ động vật của Việt Nam và kể từ ngày 1/1/2019. 

Theo Vụ Thị trường châu Á-châu Phi (Bộ Công Thương): Ngày 17/9 vừa qua, Bộ Y tế và Phúc lợi Đài Loan chính thức công bố sửa đổi nội dung phụ lục 3 và Điều 8 của “Biện pháp thực hiện kiểm tra có tính hệ thống đối với thực phẩm nhập khẩu”.

Theo đó, phía Đài Loan đã chính thức xóa bỏ lệnh cấm nhập khẩu tạm thời đối với sản phẩm dầu mỡ có nguồn gốc từ động vật của Việt Nam và kể từ ngày 1/1/2019. Các sản phẩm dầu mỡ có nguồn gốc từ động vật nếu đáp ứng được các yêu cầu kiểm tra có tính hệ thống và Bộ Tiêu chuẩn nhập khẩu của Đài Loan sẽ được phép nhập khẩu vào Đài Loan.

Trước đó, cuối năm 2014, sau vụ việc dầu mỡ Việt Nam không đạt tiêu chuẩn nhập khẩu vào Đài Loan, Đài Loan đã công bố áp dụng “Biện pháp quản lý tạm thời đối với mặt hàng dầu mỡ nhập khẩu”, tạm dừng nhập khẩu các sản phẩm (dầu) mỡ bò, lợn, dê, cừu từ Việt Nam.

Thời gian qua, Bộ Công Thương đã tích cực phối hợp với các cơ quan liên quan Việt Nam trao đổi để phía Đài Loan dỡ bỏ lệnh cấm này.

Nguồn:baohaiquan

Bộ Công Thương làm gì để thúc xuất khẩu hàng hóa cuối năm?

(HQ Online)- Để thúc đẩy xuất khẩu hàng hóa mạnh mẽ, từ nay đến cuối năm, Bộ Công Thương sẽ tiếp tục theo dõi sát biến động của tình hình thế giới, đặc biệt là diễn biến cuộc chiến thương mại Hoa Kỳ – Trung Quốc để chủ động trong công tác điều hành, có biện pháp thúc đẩy xuất khẩu những mặt hàng có khả năng tận dụng cơ hội để xuất khẩu và tăng cường quản lý chặt chẽ trước nguy cơ gian lận thương mại và gian lận xuất xứ hàng hóa.

Theo báo cáo mới nhất của Bộ Công Thương: Kim ngạch xuất khẩu 9 tháng đầu năm ước đạt 178,91 tỷ USD, tăng 15,4% so với cùng kỳ năm 2017. Trong đó, kim ngạch xuất khẩu của khối FDI chiếm tỷ trọng khoảng 71% trong tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước. Nếu loại trừ hai mặt hàng dầu thô và điện thoại di động thì tỷ trọng này còn khoảng 63,8%.

Đóng góp lớn vào mức tăng trưởng xuất khẩu là 3 nhóm hàng điện thoại các loại; máy tính và linh kiện và nhóm các sản phẩm dệt may. Tính chung cả ba nhóm hàng này đã tăng khoảng 11,54 tỷ USD so với cùng kỳ, đóng góp gần 50% vào tổng mức tăng 23,9 tỷ USD kim ngạch xuất khẩu. Quy mô xuất khẩu tiếp tục được mở rộng. Tính đến hết tháng 9, đã có 26 mặt hàng đạt kim ngạch xuất khẩu trên 1 tỷ USD (trong đó có 8 mặt hàng xuất khẩu trên 5 tỷ USD và 5 mặt hàng xuất khẩu trên 10 tỷ USD).

Đánh giá chung về tình hình xuất khẩu hàng hóa 9 tháng đầu năm, Thứ trưởng Bộ Công Thương Đỗ Thắng Hải cho biết: Tính đến hết quý III, tăng trưởng xuất khẩu đã vượt xa mục tiêu kế hoạch đề ra (tăng trưởng 10%). Điểm đáng chú ý là xuất khẩu của khối DN trong nước tiếp tục tăng trưởng tốt. Nếu như những năm trước đây, xuất khẩu của khối doanh nghiệp FDI luôn đạt mức tăng trưởng cao hơn so với khối doanh nghiệp trong nước thì thời gian gần đây, tốc độ tăng trưởng của khối trong nước đã cao hơn khối FDI. Cụ thể, trong 9 tháng đầu năm, khối doanh nghiệp này xuất khẩu khoảng 51,08 tỷ USD, tăng 17,5%, cao hơn mức tăng trưởng xuất khẩu chung.

Với đà xuất khẩu hiện tại, Bộ Công Thương dự kiến kim ngạch xuất khẩu cả năm 2018 có thể đạt 239 tỷ USD, tăng 11,2% so với năm 2017 (đạt 214,01 tỷ USD).

Thứ trưởng Đỗ Thắng Hải cho biết, để thúc đẩy xuất khẩu mạnh mẽ, từ nay đến cuối năm, Bộ Công Thương sẽ tiếp tục theo dõi sát biến động của tình hình thế giới, đặc biệt là diễn biến cuộc chiến thương mại Hoa Kỳ – Trung Quốc để chủ động trong công tác điều hành, có biện pháp thúc đẩy xuất khẩu những mặt hàng có khả năng tận dụng cơ hội để xuất khẩu và tăng cường quản lý chặt chẽ trước nguy cơ gian lận thương mại và gian lận xuất xứ hàng hóa; rà soát, hoàn thiện cơ chế chính sách quản lý hoạt động xuất nhập khẩu, tăng cường công tác kiểm tra thi hành pháp luật, kịp thời phát hiện những vấn đề phát sinh để đề xuất phương hướng chỉnh sửa, bổ sung phù hợp…

Bên cạnh đó, Bộ Công Thương cũng tăng cường tổ chức các hoạt động kết nối doanh nghiệp xuất khẩu nông, thủy sản của Việt Nam với các doanh nghiệp có nhu cầu nhập khẩu của Trung Quốc qua các cửa khẩu biên giới, đặc biệt là đối với các mặt hàng Việt Nam có lợi thế và Trung Quốc đang có nhu cầu lớn như trái cây, thủy sản, gạo, cà phê…; đồng thời tổ chức hoạt động cấp Giấy chứng nhận xuất xứ hàng hóa (C/O) theo hướng đơn giản hóa quy trình, thủ tục cấp C/O; đề xuất các biện pháp tăng cường chống gian lận xuất xứ hàng hóa; tăng cường công tác hậu kiểm tại tổ chức cấp C/O và các doanh nghiệp đề nghị cấp C/O.

Nhìn nhận về câu chuyện xuất khẩu hàng hóa nói chung, Bộ trưởng Bộ Công Thương Trần Tuấn Anh nhấn mạnh: “Trong bối cảnh xung đột thương mại hiện nay, các thị trường ngày càng khắt khe về hàng rào kỹ thuật, hàng rào bảo hộ, đặt ra yêu cầu phải có sự xâu chuỗi, kết hợp bộ, ngành nhằm giải quyết tốt vấn đề thị trường. Tất cả các bộ, ngành như Công Thương, NN&PTNT, Tài chính… phải vào cuộc để đảm bảo yêu cầu phát triển bền vững”.

Nguồn:baohaiquan

Nguyên nhân đằng sau việc Malaysia ngừng nhập khẩu ớt từ Việt Nam

Mới đây, Bộ Nông nghiệp và Công nghiệp chế biến Malaysia (MOA) đã thông báo tạm dừng nhập khẩu ớt từ Việt Nam với lý do dư lượng thuốc trừ sâu tối đa (MRL) vượt quá ngưỡng cho phép của nước này.

Theo phóng viên TTXVN tại Kuala Lumpur, ngày 11/10, Tham tán Thương vụ Việt Nam tại Malaysia, ông Phạm Quốc Anh cho biết có hai vấn đề cần lưu ý đằng sau việc Malaysia ngừng nhập khẩu ớt từ Việt Nam.

Đó là không phải tất cả các đơn vị xuất khẩu ớt của Việt Nam đều vi phạm tiêu chuẩn MRL của Malaysia và quyết định tạm dừng nhập khẩu ớt từ Việt Nam rất có thể liên quan đến chương trình hỗ trợ doanh nghiệp trẻ do Chính phủ Malaysia bảo trợ.

Ông Phạm Quốc Anh cho biết mới đây, MOA rất quan tâm đến các hộ nông dân trồng ớt của Malaysia, đặc biệt là các nông dân trẻ tham gia chương trình bảo trợ của chính phủ, đồng thời bày tỏ mong muốn các nông dân Malaysia có thể cạnh tranh được với các nông dân trồng ớt nước ngoài.

Với lý do này, MOA đã quyết định cử đoàn công tác đến Việt Nam và Thái Lan, hai nước xuất khẩu ớt số lượng lớn vào Malaysia, để tìm hiểu thực địa.

Song song với việc trên, MOA cũng đã tiến hành một loạt hoạt động thanh kiểm tra đối với các sản phẩm ớt nhập khẩu được bán trên thị trường Malaysia.

Kết quả cho thấy không có hành động bán phá giá, song rõ ràng giá bán ớt nhập khẩu thấp đã gây áp lực lên các sản phẩm trong nước.

Ví dụ như ớt được trồng tại bang Johor được bán với giá 8 ringgit/kg (khoảng 45.000 VND), ớt dầu đỏ giá 6,5 ringgit/kg, trong khi giá ớt nhập từ Việt Nam chỉ ở mức 3,9 ringgit/kg.

Các cuộc thanh kiểm tra cũng nhằm xác định xem các sản phẩm ớt nhập khẩu có vi phạm các tiêu chuẩn về an toàn của Malaysia hay không. Thông báo tạm ngừng nhập khẩu ớt từ Việt Nam được đưa ra sau các cuộc thanh kiểm tra nói trên.

Trong khi đó, ông Trần Văn Hân, chủ một doanh nghiệp xuất khẩu ớt sang Malaysia cho biết quyết định trên khiến hoạt động của các doanh nghiệp Việt Nam bị đình trệ.

Lệnh cấm không chỉ ảnh hưởng đến người trồng ớt Việt Nam mà còn ảnh hưởng tiêu cực đến người tiêu dùng Malaysia vì họ không được phép tiếp cận với các sản phẩm ớt nhập khẩu giá rẻ của Việt Nam trong bối cảnh thị trường Malaysia nhập khẩu đến 80% để đáp ứng nhu cầu về ớt trong nước.

Trước tình hình trên, Thương vụ Việt Nam tại Malaysia đã có công văn gửi Cục Chế biến và Phát triển thị trường Nông sản Việt Nam, theo đó đề nghị Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn có văn bản chính thức yêu cầu phía Malaysia làm rõ tiêu chuẩn về tiêu chuẩn dư lượng thuốc trừ sâu cho phép để làm cơ sở cho các doanh nghiệp xuất khẩu của Việt Nam tham khảo.

Bên cạnh đó, hai bên cần thảo luận để đi đến công nhận lẫn nhau về vấn đề kiểm định chất lượng, giúp các doanh nghiệp Việt Nam đáp ứng tiêu chuẩn của Malaysia được tiếp tục cấp phép xuất khẩu sản phẩm vào nước này.

Bên cạnh đó, Chính phủ Malaysia cần có biện pháp tháo gỡ cho các doanh nghiệp xuất khẩu ớt của Việt Nam, cũng như đảm bảo quyền lợi chính đáng của người tiêu dùng Malaysia.

Các doanh nghiệp Việt Nam rất cần những thông tin công khai của phía Malaysia về tiêu chuẩn nhập khẩu ớt, nhất là các tiêu chí về dư lượng thuốc trừ sâu cho phép, để các doanh nghiệp có cơ sở thực hiện hoạt động xuất khẩu sản phẩm của mình vào thị trường này.

Nguồn:baohaiquan

Thu hút FDI: Thêm nhiều dự án “tỷ đô” sẽ vào Việt Nam

(HQ Online)- Trong khuôn khổ Hội nghị tổng kết 30 năm thu hút vốn đầu tư nước ngoài (FDI) do Bộ Kế hoạch và Đầu tư tổ chức ngày 4/10 đã diễn ra lễ trao văn kiện hợp tác đầu tư cho các doanh nghiệp FDI và trao đổi biên bản ghi nhớ (MOU) giữa các doanh nghiệp Việt Nam và nhà đầu tư nước ngoài.

Tổng số dự án được trao Giấy chứng nhận đầu tư, tăng vốn đầu tư và MOU hợp tác đầu tư tại Hội nghị bao gồm 24 dự án với tổng vốn đầu tư ước lên tới trên 11 tỷ USD trên hàng loạt các lĩnh vực công nghệ, xây dựng cơ sở hạ tầng, năng lượng, công nghiệp, chế biến thức ăn gia súc, sản xuất nguyên phụ liệu dệt may…

Đáng chú ý, có nhiều dự án với tổng vốn đầu tư lên tới trên 1 tỷ USD như dự án Nhà máy điện khí LNG với tổng vốn đầu tư lên tới 4 tỷ USD, cụm nhà máy công nghiệp hỗ trợ cơ khí tại Khu kinh tế mở Chu Lai với tổng vốn đầu tư 1,34 tỷ USD…

Theo đó, UBND TP.Hà Nội đã trao 3 văn kiện trong đó đáng chú ý có Bản ghi nhớ về hợp tác hỗ trợ đầu tư UBND TP. Hà Nội và Tập đoàn Jiayuan International về dự án đầu tư, xây dựng, công viên phần mềm và cảng cạn ICD tại Hà Nội với tổng vốn đầu tư là 1,5 tỷ USD; Bản ghi nhớ về hợp tác hỗ trợ đầu tư giữa UBND TP. Hà Nội và Công ty cổ phần Viễn thông di động Vietnamobile về mở rộng đầu tư, xây dựng, nâng cấp và phát triển cơ sở hạ tầng viễn thông mạng 4G, 5G với tổng vốn đầu tư tăng thêm 800 triệu USD…

Lãnh đạo UBND tỉnh Quảng Nam trao Thỏa thuận chủ trương đầu tư cho Công ty Hyosung Advanced Materials về xây dựng cụm nhà máy công nghiệp hỗ trợ cơ khí tại Khu kinh tế mở Chu Lai với tổng vốn đầu tư 1,34 tỷ USD; Giấy Chứng nhận đầu tư cho Công ty TNHH Groz Beckert Việt Nam về Dự án sản xuất thiết bị và công cụ sản xuất ngành dệt và các ngành liên quan với tổng vốn đầu tư 96 triệu EUR.

Ông Dương Thành Trung, Chủ tịch UBND tỉnh Bạc Liêu trao Biên bản ghi nhớ hợp tác đầu tư giữa UBND tỉnh Bạc Liêu và Công ty Delta Offshore Energy PTE. Ltd về dự án Nhà máy điện khí LNG với tổng vốn đầu tư 4 tỷ USD; Biên bản ghi nhớ hợp tác đầu tư giữa UBND tỉnh Bạc Liêu và Công ty UPC Vietnam Ltd về dự án Nhà máy điện gió trên bờ tại tỉnh Bạc Liêu với tổng vốn đầu tư 407 triệu USD; Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư cho Tập đoàn Việt – Úc về dự án nuôi tôm siêu thâm canh trong nhà kín với tổng vốn đầu tư 100 triệu USD.

Nguồn:baohaiquan

Indonesia chấm dứt điều tra chống bán phá giá tôn màu Việt Nam

(HQ Online)- Theo Cục Phòng vệ thương mại (Bộ Công Thương): Mới đây, Cục này đã nhận được thông tin từ Thương vụ Việt Nam tại Indonesia thông báo về việc Ủy ban Chống bán phá giá Indonesia (KADI) chấm dứt điều tra chống bán phá giá đối với sản phẩm tôn màu nhập khẩu từ Trung Quốc và Việt Nam.

Trước đó, ngày 7/6, sau khi tiến hành điều tra, KADI đã xác định sản phẩm bị điều tra nhập khẩu từ Việt Nam bán phá giá vào thị trường nước này và gây ra thiệt hại đáng kể cho ngành sản xuất trong nước của Indonesia.

Trên cơ sở đó, KADI kiến nghị áp dụng biện pháp chống bán phá giá với sản phẩm tôn màu của Việt Nam trong khoảng thời gian 5 năm. Tuy nhiên, sau khi xem xét các tác động của biện pháp tới lợi ích kinh tế xã hội, KADI đã chấm dứt điều tra và không áp dụng biện pháp chống bán phá giá với tôn màu của Việt Nam.

Trong vụ việc này, sản phẩm bị điều tra là tôn màu (Mã HS: 7210.70.10.00, 7212.40.10.00, và 7212.40.20.00). Giai đoạn điều tra bán phá giá: 7/2015 – 6/2016.

Theo số liệu trong thông báo của KADI, tổng lượng nhập khẩu vào Indonesia (trong giai đoạn điều tra) là 224.119 tấn. Trong đó, lượng nhập khẩu từ Việt Nam và Trung Quốc là 196.190 tấn, chiếm 87,5%.

Nguồn:baohaiquan

Nhà đầu tư ngoại ồ ạt nhảy vào điện mặt trời Việt Nam

Với nhu cầu điện ở Việt Nam tăng 12% mỗi năm, chính phủ đã đặt mục tiêu tạo ra 265 tỷ kWh điện vào năm 2020 và 570 tỷ kWh điện vào năm 2030. Điều này nhằm mục đích đáp ứng nhu cầu năng lượng tăng lên trong quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước. 

Làn sóng đầu tư phát triển năng lượng mặt trời

Dự án Ninh Thuận là dự án năng lượng mặt trời quy mô lớn đầu tiên của Việt Nam sẽ khai thác tiềm năng năng lượng mặt trời và tạo ra khoảng 200 cơ hội việc làm cho người dân địa phương.

Sunseap International, công ty con thuộc Sunseap Group – nhà cung cấp năng lượng sạch hàng đầu của Singapore đã ký thỏa thuận với InfraCo Asia Development Pte Ltd để cùng phát triển dự án năng lượng mặt trời quy mô lớn với công suất 168 megawatt (mức cao nhất). Điện được tạo ra bởi nhà máy này dự kiến ​​sẽ cung cấp cho 200.000 hộ gia đình ở Việt Nam.

Dự án nằm ở tỉnh Ninh Thuận, trên bờ biển Nam Trung Bộ, nơi một số chỉ số bức xạ mặt trời được ghi nhận cao nhất trong nước.

Allard Nooy, Giám đốc điều hành của InfraCo Asia cho biết trong một cuộc phỏng vấn qua e-mail với The Asean Post: “Dự án năng lượng mặt trời Ninh Thuận với quy mô lớn cần được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt. Chúng tôi tin rằng Ninh Thuận sẽ là một trong những dự án năng lượng mặt trời quy mô lớn đầu tiên đi vào hoạt động trong nước”.

Gần đây, công ty năng lượng hàng đầu thế giới Thái Lan, B. Grimm Power đã công bố hai khoản đầu tư vào các dự án năng lượng mặt trời tại Việt Nam.

Một là khoản đầu tư trị giá 35,2 triệu USD để mua 80% cổ phần trong dự án nhà máy điện mặt trời ở tỉnh ven biển Việt Nam của Phú Yên, với công suất lắp đặt là 257 MW. Trước đó, Công ty B.Grimm Power ký thỏa thuận với Tập đoàn Xuân Cầu để xây dựng và vận hành nhà máy điện mặt trời ở Tây Ninh với tổng công suất 420 MW, lớn nhất Đông Nam Á.

Hiện tại, B.Grimm Power có tổng công suất lắp đặt là 2.091 MW, trong đó hơn 1.200 MW được bán cho hơn 300 nhà máy tại 6 khu công nghiệp trên khắp Thái Lan và Việt Nam. Quốc gia tiếp theo trong kế hoạch mở rộng của B.Grimm là Hàn Quốc.

Tính cấp thiết của năng lượng tái tạo thể hiện ngày một rõ khi nhu cầu về điện ở Việt Nam tiếp tục tăng. Để đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia, chính phủ đã khởi đầu bằng cách giới thiệu các chính sách mới và phân bổ thêm kinh phí để phát triển ngành.

Điện mặt trời là năng lượng tái tạo chính của tương lai

Hiện nay, Việt Nam sản xuất hơn 170 tỷ kWh điện từ các nguồn năng lượng hóa thạch, chẳng hạn như than đá và khí đốt nhưng chúng đang nhanh chóng cạn kiệt.

Theo Báo cáo Năng lượng năm 2017, Việt Nam đang chuyển sang các nguồn năng lượng tái tạo để duy trì sản xuất điện mà không làm tăng chi phí sản xuất khi nhu cầu ngày một cao.

Trong số các nguồn năng lượng tái tạo, năng lượng mặt trời ở Việt Nam đã đạt được bước tiến lớn.

Theo mục tiêu của Chính phủ, điện mặt trời dự kiến ​​sẽ trở thành nguồn năng lượng tái tạo chính của trong tương lai, với công suất lắp đặt tăng từ 6 – 7 megawatt (MW) vào cuối năm 2017 lên 850 MW vào năm 2020 , tương ứng 1,6% tổng sản lượng điện của cả nước. Con số này dự kiến ​​sẽ tăng lên 12.000 MW vào năm 2030, tương ứng 3,3% tổng sản lượng điện của cả nước.

Nhờ ưu thế với bức xạ mặt trời lớn, những mục tiêu này được kỳ vọng sẽ thành công. Bên cạnh đó, chi phí sản xuất thấp và sự quan tâm của chính phủ trong việc phát triển năng lượng tái tạo cũng sẽ góp phần đạt được kế hoạch này.

Quyết định 11/2017 về cơ chế khuyến khích phát triển các dự án năng lượng mặt trời tại Việt Nam đã được thông qua vào tháng 4/2017, tạo ra làn sóng đầu tư phát triển năng lượng mặt trời. Trong đó, Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) đang đầu tư một số dự án năng lượng mặt trời với tổng công suất lắp đặt là 2.000 MW tại các tỉnh Khánh Hòa, Kon Tum, Ninh Thuận, Bình Thuận và Đồng Nai.

Nguồn:baohaiquan