Thủ tướng chỉ thị đẩy mạnh các giải pháp giảm chi phí logistics

(HQ Online)- Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc vừa ký ban hành Chỉ thị 21/CT-TTg về đẩy mạnh triển khai các giải pháp nhằm giảm chi phí logistics, kết nối hiệu quả hệ thống hạ tầng giao thông.

Chỉ thị nêu rõ, ngày 14/02/2017, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 200/QĐ-TTg về việc phê duyệt Kế hoạch hành động nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển dịch vụ logistics Việt Nam đến năm 2025. Sau hơn 01 năm thực hiện Quyết định, các cơ quan, đơn vị đã nỗ lực triển khai các nhóm nhiệm vụ trọng yếu để đạt được mục tiêu đặt ra, bước đầu đạt được một số kết quả nhất định.

Tuy nhiên, hệ thống kết cấu hạ tầng giao thông phát triển chưa đồng đều, thiếu đồng bộ; kết nối các phương thức vận tải chưa hiệu quả; chưa phát huy tốt các nguồn lực về hạ tầng, con người, thị trường nội địa và khu vực; các trung tâm logistics đóng vai trò kết nối Việt Nam với quốc tế chưa được đầu tư, xây dựng… dẫn đến chi phí logistics vẫn còn cao ảnh hưởng đến sức cạnh tranh của nền kinh tế Việt Nam.

Để giảm chi phí logistics, kết nối hiệu quả hệ thống hạ tầng giao thông phát triển dịch vụ logistics thành một ngành dịch vụ đem lại giá trị gia tăng cao, góp phần tăng sức cạnh tranh cho nền kinh tế, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu các bộ, ngành và địa phương, theo chức năng và nhiệm vụ được giao có chương trình cụ thể thực hiện kế hoạch hành động nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển dịch vụ logistics Việt Nam đến năm 2025 đã được Thủ tướng Chính phủ ban hành tại Quyết định số 200/QĐ-TTg ngày 14/02/2017 với 6 nhóm nhiệm vụ chính: 1- Hoàn thiện chính sách, pháp luật về dịch vụ logistics; 2- Nâng cao năng lực kết cấu hạ tầng logistics; 3- Nâng cao năng lực doanh nghiệp và chất lượng dịch vụ; 4- Phát triển thị trường dịch vụ logistics; 5- Đào tạo, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực; 6- Tuyên truyền, nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của dịch vụ logistics đối với sự phát triển của đất nước.

Phát huy tối đa vận tải đa phương thức và dịch vụ logistics

Thủ tướng Chính phủ giao Bộ Giao thông vận tải hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, cơ chế chính sách, cải cách thủ tục hành chính, cắt giảm điều kiện kinh doanh, đơn giản hóa thủ tục kiểm tra chuyên ngành; nâng cao chất lượng công tác lập và tổ chức thực hiện quy hoạch; tăng cường kết nối, phát triển hợp lý các phương thức vận tải, phát huy tối đa vận tải đa phương thức và dịch vụ logistics; tăng cường kết nối các phương thức vận tải, giảm chi phí, nâng cao chất lượng dịch vụ vận tải.

Đẩy mạnh tái cơ cấu thị trường vận tải nội địa, giảm thị phần vận tải bằng đường bộ, tăng thị phần vận tải bằng đường biển, đường sắt và đường thủy nội địa, đặc biệt là trên các hành lang vận tải chính.

Ưu tiên phát triển mạnh vận tải ven biển, vận tải sông pha biển, nhằm vận chuyển hàng hóa, giảm tải cho đường bộ, đồng thời tận dụng hiệu quả điều kiện tự nhiên sẵn có về sông, biển để kết nối vận tải hàng hóa giữa hàng hải, đường thủy nội địa với các phương thức vận tải khác

Nâng cao hiệu quả quản lý và sử dụng vốn đầu tư trong xây dựng kết cấu hạ tầng; đề xuất cơ chế khuyến khích, thu hút đầu tư ngoài ngân sách, huy động các nguồn lực để xây dựng, phát triển kết cấu hạ tầng giao thông; tổ chức khai thác tốt kết cấu hạ tầng giao thông hiện có; cân đối, bố trí các nguồn vốn đầu tư, nguồn vốn ngân sách, vốn ODA cho các dự án nhằm tăng cường khả năng kết nối giữa các phương thức vận tải, ưu tiên tập trung đầu tư xây dựng, nâng cấp các công trình có tính quan trọng, cấp bách.

Bộ Giao thông vận tải đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ trong quản lý, khai thác vận tải: Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý điều hành, khai thác vận tải, liên kết các phương thức vận tải, quản lý vận tải đa phương thức, dịch vụ logistics; phát triển sàn giao dịch vận tải, sàn giao dịch logistics.

Thủ tướng Chính phủ yêu cầu tiếp tục sử dụng hiệu quả các nguồn vốn, từng bước xã hội hóa để đầu tư hình thành mạng đường bộ cao tốc quốc gia, đường chuyên dùng bảo đảm kết nối hiệu quả các khu công nghiệp, trung tâm kinh tế trọng điểm, cửa khẩu chính, đầu mối giao thông quan trọng với các cảng biển, cảng thủy nội địa, ga đường sắt.

Tăng cường quản lý hiệu quả các dự án, tập trung đầu tư xây dựng đường cao tốc Bắc – Nam; xây dựng kế hoạch, lộ trình để đẩy nhanh việc áp dụng thu phí dịch vụ sử dụng đường bộ theo hình thức tự động không dừng, qua đó tạo sự công khai, minh bạch trong thu phí; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, phát triển, kết nối các sàn giao dịch vận tải hành khách, hàng hóa; nghiên cứu thúc đẩy hoạt động của sàn giao dịch vận tải hàng hóa hạn chế xe chạy rỗng, đồng thời nghiên cứu hình thành sàn giao dịch chung cho các phương thức vận tải để làm cơ sở phát triển dịch vụ logistics.

Triển khai dự án nâng cấp, hiện đại hóa đường sắt Bắc – Nam; nâng cao năng lực, chất lượng vận tải đường sắt và cải tạo nâng cấp, đồng bộ các tuyến đường sắt Hà Nội – Hải Phòng, Hà Nội – Thái Nguyên, Hà Nội – Lạng Sơn, Hà Nội – Hạ Long; nghiên cứu phương án, lộ trình xây dựng tuyến đường sắt nối với cảng cửa ngõ quốc tế Hải Phòng; nghiên cứu, phát triển, hình thành kết nối đường sắt với các khu công nghiệp, cảng biển, cảng cạn.

Đồng thời xây dựng các ga đầu mối hàng hóa, nâng cấp trang thiết bị xếp dỡ hiện đại cho các ga đầu mối vận chuyển hàng hóa như Yên Viên, Đông Anh, Sóng Thần… theo khả năng cân đối vốn, đồng thời mời gọi các nhà đầu tư cùng hợp tác đầu tư nâng cấp kho, bãi hàng đủ tiêu chuẩn để cung cấp dịch vụ dùng chung cho tất cả các doanh nghiệp vận tải hàng hóa và khách hàng.

Từng bước đầu tư hệ thống kết cấu hạ tầng giao thông đường thủy nội địa, tiến tới giải quyết dứt điểm các điểm nghẽn trên các hành lang vận tải thủy chính (Quảng Ninh – Hải Phòng – Hà Nội, Hải Phòng – Ninh Bình, Thành phố Hồ Chí Minh – Cà Mau, vận tải thủy kết nối Cam-pu-chia) như: nâng cấp tĩnh không cầu Đuống, cầu Măng Thít, cầu Nàng Hai; nâng cao chất lượng và kết nối đồng bộ đường thủy nội địa khu vực Đồng bằng Sông Cửu Long; đồng thời kết nối với cảng biển và các khu vực bên ngoài.

Ưu tiên phát triển vận tải sông pha biển, ven biển để tận dụng tối đa các cửa sông ra biển nhằm giảm tải cho đường bộ trên trục Bắc – Nam, góp phần giảm chi phí, nâng cao sản lượng vận tải; nghiên cứu, xây dựng cơ chế khuyến khích tư nhân đầu tư vào xây dựng, vận hành, khai thác và bảo trì kết cấu hạ tầng đường thuỷ nội địa, đầu tư đóng mới, hoán cải phương tiện thuỷ nội địa chuyên dụng (phương tiện chở công-ten-nơ, phương tiện chở xăng dầu và các mặt hàng chuyên dụng khác, phương tiện sông pha biển)…

Phát triển dịch vụ vận tải biển đồng bộ với hệ thống cảng biển, tập trung khai thác hiệu quả các tuyến vận tải biển nội địa nhằm giảm tải cho đường bộ, góp phần giảm chi phí, nâng cao sản lượng vận tải. Phát huy tối đa lợi thế về vị trí của các cảng biển, đặc biệt là cảng cửa ngõ quốc tế để thu hút các tàu trọng tải lớn vận chuyển hàng hóa xuất nhập khẩu đi các tuyến vận tải biển xa; tăng cường hợp tác với các cơ quan quản lý cảng biển, hãng tàu biển nước ngoài để thu hút nguồn hàng thông qua Cảng biển Việt Nam.

Nghiên cứu, hình thành phát triển các kết nối cảng biển, hệ thống dịch vụ hỗ trợ sau cảng biển với đường bộ, đường sắt, đường thủy nội địa như: Nghiên cứu đầu tư khu bến cảng Liên Chiểu, Đà Nẵng phù hợp với nhu cầu vận tải và khả năng về nguồn vốn; Thực hiện các giải pháp thu hút, phân luồng hàng hóa để khai thác có hiệu quả khu bến cảng Cái Mép – Thị Vải; nghiên cứu triển khai dự án đầu tư luồng Cái Mép – Thị Vải để các tàu trọng tải đến 160.000 tấn hành hải 24/24h vào khu bến cảng Cái Mép – Thị Vải (đặc biệt là đoạn luồng từ phao số “0” đến bến cảng CMIT); đẩy nhanh tiến độ hoàn thành dự án đầu tư xây dựng Cảng cửa ngõ quốc tế Hải Phòng (Lạch Huyện) – Giai đoạn khởi động.

Sớm hoàn thành, trình Chính phủ và Quốc hội phê duyệt Báo cáo nghiên cứu khả thi Dự án Cảng hàng không quốc tế Long Thành; chuẩn bị dự án mở rộng Cảng hàng không quốc tế Nội Bài; xây dựng, phát triển các trung tâm logistics hàng không gắn liền với các cảng hàng không quốc tế Nội Bài, Tân Sơn Nhất, Đà Nẵng; đầu tư mở rộng Cảng hàng không quốc tế Tân Sơn Nhất, phối hợp với Thành phố Hồ Chí Minh nghiên cứu xây dựng cơ sở hạ tầng và tổ chức giao thông nhằm giảm thiểu tình trạng ùn tắc giao thông quanh khu vực sân bay…

Đẩy mạnh thu hút đầu tư vào lĩnh vực hạ tầng logistics

Thủ tướng Chính phủ giao Bộ Công Thương tiếp tục phối hợp với các bộ, ngành liên quan (đặc biệt là Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính…) hoàn thiện chính sách đẩy mạnh thu hút đầu tư vào lĩnh vực hạ tầng logistics.

Tập trung cải thiện cơ sở hạ tầng logistics gắn với thương mại điện tử, kết hợp logistics với thương mại điện tử theo xu hướng phát triển hiện nay trên thế giới và khu vực. Thông qua các hoạt động nhằm nâng cao năng lực doanh nghiệp, khuyến khích, hướng dẫn doanh nghiệp trong một số ngành áp dụng mô hình quản trị chuỗi cung ứng tiên tiến trong quá trình sản xuất, kinh doanh, trong đó chú trọng triển khai các hoạt động logistics trên nền tảng công nghệ thông tin và các công nghệ mới trong logistics.

Bộ Kế hoạch và Đầu tư tập trung kêu gọi đầu tư xây dựng các trung tâm logistics loại I, đóng vai trò kết nối Việt Nam với quốc tế; khuyến khích một số khu công nghiệp, khu chế xuất xây dựng hình mẫu khu công nghiệp dựa trên nền tảng logistics; hoàn thiện chính sách hỗ trợ doanh nghiệp dịch vụ logistics; xây dựng hệ thống chỉ tiêu thống kê và thu thập dữ liệu thống kê về logistics; ban hành mã số đăng ký kinh doanh theo nhóm ngành cho dịch vụ logistics…

Bộ Tài chính nghiên cứu xây dựng chính sách thuế, phí, giá dịch vụ để tạo điều kiện cho doanh nghiệp cung cấp dịch vụ vận tải đa phương thức.

Thủ tướng Chính phủ yêu cầu UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương dành quỹ đất thích hợp để xây dựng trung tâm phân phối hàng hóa, dịch vụ hậu cảng, cảng cạn, kết nối thuận tiện với mạng lưới giao thông quốc gia để từng bước tạo thành mạng lưới kết cấu hạ tầng logistics hiện đại.

Căn cứ định hướng phát triển và thực tế điều kiện tại địa phương, chủ động phối hợp với các bộ, ngành tổ chức kêu gọi đầu tư xây dựng, hoàn chỉnh hệ thống logistics trên địa bàn.

Hiệp hội Doanh nghiệp dịch vụ logistics Việt Nam, Hiệp hội Chủ hàng Việt Nam, các Hiệp hội ngành hàng liên quan căn cứ quy định của pháp luật, chỉ đạo của các cấp có thẩm quyền và chức năng, nhiệm vụ để định hướng thay đổi hành vi trong thương mại quốc tế, gắn kết giữa doanh nghiệp chủ hàng và doanh nghiệp cung cấp dịch vụ logistics, thay đổi điều kiện giao hàng “mua CIF, bán FOB”, nâng cao ý thức của doanh nghiệp chủ hàng, tạo cơ sở cho doanh nghiệp dịch vụ logistics Việt Nam tham gia vào nhiều công đoạn trong chuỗi cung ứng với hàm lượng giá trị gia tăng ngày càng cao.

Nguồn:baohaiquan

Tăng cường năng lực cho DNNVV trong lĩnh vực logistics

(HQ Online)- Bên cạnh các giải pháp như tiếp tục cải thiện môi trường kinh doanh, cắt giảm chi phí cho các DN ngành logistics, nghiên cứu quy hoạch tuyến đường lưu thông xe container…, Bộ Kế hoạch và Đầu tư (KH&ĐT) đã đưa ra các giải pháp nhằm tăng cường năng lực cho DNNVV trong lĩnh vực logistics.

Báo cáo của Bộ Kế hoạch và Đầu tư (KH&ĐT) về tăng cường năng lực cho DNNVV Việt Nam trong lĩnh vực logistics cho thấy, DN logistics Việt Nam chủ yếu ở quy mô nhỏ, 90% số DN khi đăng ký có vốn dưới 10 tỷ đồng.

Các DN logistics Việt Nam chưa đủ sức cạnh tranh để vươn ra thị trường quốc tế, mà mới chỉ tham gia vào các công đoạn ở nội địa trong cả chuỗi logistics, nhiều DNNVV logistics Việt Nam còn hoạt động phân tán, đơn lẻ, DN thiếu hụt nguồn nhân lực chất lượng cao, hạn chế trong quản lý, ứng dụng công nghệ thông tin.

Từ những hạn chế trên, bên cạnh các giải pháp như tiếp tục cải thiện môi trường kinh doanh, cắt giảm chi phí cho các DN ngành logistics, nghiên cứu quy hoạch tuyến đường lưu thông xe container, Bộ KH&ĐT đã đưa ra các giải pháp nhằm tăng cường năng lực cho DNNVV trong lĩnh vực logistics.

Mục tiêu trước hết là tăng cường năng lực tài chính cho DNNVV logistics Việt Nam. Theo Bộ KH&ĐT, DNNVV logistics gặp khó khăn trong tiếp cận nguồn vốn vay của các ngân hàng thương mại do thiếu tài sản đảm bảo, hạn chế trong hệ thống sổ sách, quản trị và xây dựng kế hoạch kinh doanh.

Theo Bộ KH&ĐT, Luật Hỗ trợ DNNVV đã đưa ra các giải pháp nhằm hỗ trợ tiếp cận tín dụng cho DNNVV, trong đó có DN logistics.

Cụ thể, trong từng thời kỳ, Chính phủ quyết định chính sách hỗ trợ tổ chức tín dụng tăng dư nợ cho vay đối với DNNVV; khuyến khích tổ chức tín dụng cho vay đối với DNNVV dựa trên xếp hạng tín nhiệm DN; khuyến khích thành lập tổ chức tư vấn độc lập để xếp hạng tín nhiệm DNNVV; Hỗ trợ tiếp cận tín dụng thông qua các quỹ bảo lãnh tín dụng cho DNNVV…

Về giải pháp tăng cường liên kết giữa các DNNVV logistics Việt Nam, Bộ KH&ĐT cho biết, Luật Hỗ trợ DNNVV đã đưa ra nhóm giải pháp trọng tâm để hỗ trợ các DN về vấn đề này như: Đào tạo chuyên sâu về công nghệ, kỹ thuật sản xuất; tư vấn về tiêu chuẩn, quy chuẩn, chiến lược phát triển sản phẩm theo cụm liên kết ngành, chuỗi giá trị; Cung cấp thông tin về nhu cầu kết nối, sản xuất, kinh doanh của các DNNVV tham gia cụm liên kết ngành, chuỗi giá trị; Hỗ trợ phát triển thương hiệu…

Về giải pháp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cho DNNVV trong lĩnh vực logistics, theo Bộ KH&Đ, cần thực hiện đồng thời các giải pháp đào tạo cho nhân lực hiện tại của DN và thúc đẩy nguồn cung nhân lực ngành logistics trong tương lai.

Đơn cử: Tổ chức đào tạo chuyên sâu về nghiệp vụ, kỹ năng cho người lao động làm việc tại các DNNVV logistics. Hiện tại, Bộ KH&ĐT đang triển khai các hoạt động hỗ trợ đào tạo nguồn nhân lực cho DNNVV, VLA cần phối hợp với Bộ triển khai hoạt động đào tạo cho các DN trong ngành.

Về giải pháp tăng cường áp dụng công nghệ thông tin trong các DNNVV logistics Việt Nam, Bộ KH&ĐT nhấn mạnh cần thúc đẩy đầu tư tư nhân vào các DNNVV khởi nghiệp sáng tạo trong lĩnh vực logistics.

Giải pháp này đang được Chính phủ triển khai, bước đầu là ban hành Nghị định số 38/2018/NĐ-CP ngày 11/3/2018 quy định chi tiết về đầu tư cho DNNVV khởi nghiệp sáng tạo, hướng dẫn Luật Hỗ trợ DNNVV.

Nghị định này nhằm mục tiêu khơi thông dòng vốn của khu vực tư nhân vào các DNNVV khởi nghiệp sáng tạo, trong đó có lĩnh vực logistics. Bên cạnh đó, việc xem xét ưu đãi thuế cho các nhà đầu tư khởi nghiệp sáng tạo cũng cần được đẩy mạnh nghiên cứu, triển khai theo định hướng Luật Hỗ trợ DNNVV nhằm khuyến khích các nhà đầu tư bỏ vốn vào các DNNVV dựa trên tài sản trí tuệ, công nghệ và mô hình kinh doanh mới.

Nguồn:baohaiquan

Vận tải biển khởi sắc

cont truckDo dư chấn khủng hoảng từ 2008 đến nay, ngành vận tải biển thế giới vẫn chìm trong khó khăn, nhiều hãng tàu lớn thua lỗ, phá sản hoặc phải sáp nhập để duy trì hoạt động. Tại Việt Nam, nhờ tái cơ cấu đúng hướng, ngành vận tải biển đã bắt đầu tăng trưởng dương.

Đây là những tín hiệu tích cực được công bố tại “Hội nghị Tổng kết công tác năm 2017 và triển khai kế hoạch, nhiệm vụ năm 2018” của Cục Hàng hải Việt Nam, diễn ra cuối tuần qua, tại Hà Nội.

Tại hội nghị, ông Bùi Thiên Thu, Phó cục trưởng Cục Hàng hải Việt Nam cho biết, năm 2017, tổng sản lượng vận tải do đội tàu biển Việt Nam thực hiện ước đạt 130,9 triệu tấn, tăng 6% so với năm 2016. Hiện đội tàu mang cờ quốc tịch Việt Nam đã đảm nhận được gần 100% lượng hàng vận tải nội địa bằng đường biển (trừ một số tàu chuyên dụng như LPG, xi măng rời…).

Do những ưu thế về giá cước so với các loại hình vận tải khác trong khoảng cách từ 300-500km và các bến cảng thuỷ nội địa sâu trong sông kết nối với cảng biển nên đội tàu VR-SB đã phát huy hiệu quả tích cực.

Từ năm 2014 đến tháng 12/2017 đã vận tải 36,2 triệu tấn. Riêng năm 2017, tổng lượng tàu thông qua đạt 22 nghìn lượt (tăng 67% so với năm 2016); khối lượng hàng hoá đạt 18,5 triệu tấn (tăng 56% so với năm 2016).

Về vấn đề này, Thứ trưởng Bộ Giao thông Vận tải Nguyễn Văn Công cho rằng, với các đơn vận tải hàng đường dài, vận đơn lớn, tàu lớn chủ yếu do các hãng tàu lớn thế giới nắm giữ là điều không khó đoán. Trong bối cảnh vận tải biển thế giới còn khó khăn thì “miếng bánh” đó sẽ các hẹp lại, các hãng tàu lớn cũng đang cạnh tranh khốc liệt, hoặc phá sản.

Thứ trưởng Công cũng chỉ ra những tồn tại mà ngành hàng hải cần khắc phục như: đội tàu còn nhỏ lẻ, manh mún, cơ cấu chưa phù hợp, vì thế, đội tàu Việt Nam sẽ ưu tiên tập trung thế mạnh tại các mặt hàng truyền thống, hàng rời, các tuyến vận tải có đủ năng lực. “Dù còn nhiều khó khăn, nhưng năm 2017, vận tải biển đã tăng 6% so với năm 2016 là kết quả rất tích cực, báo hiệu sự khởi sắc cho vận tải biển”, Thứ trưởng Công đánh giá

Ông Bùi Thiên Thu cũng cho biết, năm 2017, hệ thống cảng biển đạt mức tăng trưởng cao, ước đạt 536,4 triệu tấn (tăng 17% so với năm 2016). Dù đây là con số tích cực nhưng chưa có sức lan toả tốt vì thiếu “chuỗi” phát triển logistics.

Ông Thu nhấn mạnh về sự kiện Thời báo Kinh tế Việt Nam vừa tổ chức hội thảo thực trạng logistic Việt Nam, trong đó, chỉ rõ các cảng biển, các cảng cạn (ICD) là trung tâm, đầu mối phát triển logistic nhưng lại thiếu tính kết nối giữa đường bộ, đường thuỷ nội địa, đường sắt, hàng không… dẫn đến tăng chi phí giá thành.

Chất lượng cảng biển chưa cao, doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn do chi phí cảng biển, chi phí xếp dỡ thấp. Thủ tục hành chính còn rườm rà, chưa thực sự thuận lợi cho chủ tàu, chủ hàng.

Ông Thu đánh giá, cả nước hiện có tới 1.300 doanh nghiệp tham gia cung cấp các loại hình dịch vụ hàng hải và losgistic, tuy nhiên, đa phần chỉ là hợp tác và cung cấp dịch vụ logistic cho bên thứ 2, trong đó, nắm chủ chốt vẫn là các công ty logistics lớn của nước ngoài.

Đánh giá về những tồn tại, vướng mắc trong chuỗi phát triển logistics, Thứ trưởng Nguyễn Văn Công cho biết, Năm 2017, đánh dấu lần đầu tiên cảng nước sâu Cái Mép – Thị Vải đón tàu trọng tải lên đến 200.000 tấn. Đây là sự kiện lớn đánh dấu cụm cảng Cái Mép – Thị Vải nằm trong tuyến luồng hàng hải quan trọng của thế giới.

Thứ trưởng Công cũng đánh giá cao, cơ chế một cửa quốc gia tại 9 khu vực cảng biển để thực hiện thủ tục điện tử cho tàu thuyền Việt Nam và tàu thuyền nước ngoài nhập cảnh, xuất cảnh và quá cảnh đã được áp dụng.

Theo vneconomy.vn

 

30% doanh nghiệp phải đào tạo lại nhân viên logistics

(HQ Online)- Lao động cho logistics được đòi hỏi có chất lượng, trình độ cao song đây là vấn đề khá yếu của ngành này bởi việc đào tạo chưa đáp ứng được yêu cầu.

Theo báo cáo của Hiệp hội Doanh nghiệp dịch vụ logistics Việt Nam (VLA), cả nước có khoảng hơn 3.000 doanh nghiệp tham gia cung cấp dịch vụ logistics (70% có trụ sở tại TP. HCM), trong đó 1.300 doanh nghiệp đang hoạt động tích cực, 89% doanh nghiệp 100% vốn trong nước, còn lại là doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.

Giai đoạn 2017-2020, ngành logistics Việt Nam cần thêm khoảng 20.000 lao động chất lượng cao, có trình độ chuyên môn, và đến năm 2030, số lượng người lao động mới cần thêm trong ngành logistics lên tới 200.000 lao động trình độ cao, đáp ứng đủ các yêu cầu về kỹ năng, kiến thức chuyên môn và trình độ tiếng Anh.

Tuy nhiên, theo ông Nguyễn Tương, Phó Tổng thư ký VLA, bất cập của việc đào tạo hiện nay là chưa đáp ứng được yêu cầu và chất lượng nguồn nhân lực chất lượng cao, thiếu kiến thức toàn diện, trình độ ICT còn hạn chế. Nhân lực cũng chưa theo kịp tiến bộ phát triển của logistics thế giới.

Ngoài ra, trình độ tiếng Anh nghiệp vụ logistics còn hạn chế. Chỉ khoảng 4% nhân lực thông thạo tiếng Anh nghiệp vụ, 30% doanh nghiệp phải đào tạo lại nhân viên. Ngoài ra, lực lượng giảng viên còn thiếu và mỏng, chủ yếu chuyển từ các chuyên ngành khác sang, kiến thức thực tế còn chưa nhiều.

Chỉ ra những nguyên nhân khiến nhân lực ngành logistics Việt Nam còn thiếu chất lượng, bà Trịnh Thị Thu Hương, Trường Đại học Ngoại thương cho rằng, đào tạo logistics ở bậc đại học và sau đại học gặp nhiều bất cập. Chẳng hạn như, chưa có mã ngành logistics, số lượng sinh viên chưa nhiều; phần thực hành về ngành nghề cũng chưa đầy đủ.

Bổ sung thêm, bà Nguyễn Thị Vân Hà, Trường Đại học Giao thông Vận tải nêu ý kiến, giáo trình, tài liệu tham khảo bằng tiếng Việt khan hiếm, giáo trình tiếng Anh khó tiếp cận; không có mô phỏng về doanh nghiệp logistics, các phần mềm mô phỏng tối ưu toàn chuỗi không được đưa vào dạy.

Hơn nữa, sự gắn kết giữa doanh nghiệp và nhà trường chưa nhiều, chưa thiết thực và chưa đáp ứng được nhu cầu của doanh nghiệp cũng như sinh viên.

Với thực tế này, các chuyên gia đề xuất, Bộ Giáo dục và Đào tạo tạo điều kiện và hỗ trợ cho trường được cấp mã ngành cấp 4 về đào tạo logistics. Bộ Công Thương và các cơ quan quản lý nhà nước liên quan hỗ trợ trường trong việc tìm kiếm các nguồn tài trợ, tạo điều kiện tham gia vào các đề án phát triển nhân lực và vật lực, để nâng cao chất lượng đào tạo.

Bên cạnh đó, cần xây dựng và củng cố cơ chế hợp tác giữa các bộ ngành liên quan về đào tạo logistics; đẩy mạnh hợp tác quốc tế trong giáo dục đào tạo về logistics và nghiên cứu; tăng cường phối hợp giữa doanh nghiệp, cơ sở đào tạo cũng là yếu tố quan trọng; tiếp tục xây dựng và phát triển các chương trình đào tạo ngắn hạn và các hoạt động hỗ trợ liên quan.

Nguồn:baohaiquan

Hàng xuất khẩu theo loại hình E62 nếu khai thiếu hoặc thừa so với thực tế đều bị xử lý

Theo Tổng cục Hải quan, trường hợp khai thiếu hoặc thừa so với thực tế về số lượng hàng hóa có thuế xuất 0% đối với hàng hóa từ khu phi thuế quan ra nước ngoài sẽ bị xử lý vi phạm hành chính theo quy định.

DN làm thủ tục tại Cục Hải quan Long An. Ảnh CNPN

Theo Cục Hải quan Long An, trong quá trình xử lý vi phạm hành chính đối với sai phạm của DN, đơn vị đang gặp phải vướng mắc liên quan đến việc khai thiếu hoặc thừa so với thực tế về số hàng hóa XK là sản phẩm sản xuất XK theo loại hình E62 (từ khu phi thuế quan ra nước ngoài), có thuế XK 0%.

Cục Hải quan Long An thắc mắc, Luật Thuế XK, thuế NK và Nghị định 134/2016/NĐ-CP quy định thì hàng hóa XK là sản phẩm sản xuất XK không thuộc đối tượng miễn thuế. Như vậy, các trường hợp khai sai về số lượng thì DN có bị xử phạt vi phạm hành chính hay không, nếu xử phạt thì theo điều khoản quy định nào?

Giải quyết thắc mắc này của Cục Hải quan Long An, theo Tổng cục Hải quan, trường hợp khai thiếu so với thực tế về số lượng hàng hóa có thuế XK 0% thì căn cứ quy định tại Điểm a, Khoản 2, Điều 7 Nghị định 127/2013/NĐ-CP đã được sửa đổi, bổ sung tại Nghị định 45/2016/NĐ-CP để xử lý đối với hàng hóa từ khu phi thuế quan ra nước ngoài.

Trường hợp khai nhiều hơn so với thực tế về số lượng hàng hóa XK thì tùy theo tính chất, mức độ của hành vi vi phạm, xử lý theo Khoản 3, Điều 9 Thông tư 155/2016/TT-BTC của Bộ Tài chính.

Tuy nhiên, trong quá trình xử lý, nếu phát hiện hành vi vi phạm có dấu hiệu của tội buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa, tiền tệ qua biên giới, tội trốn thuế thì phải tiến hành xử lý theo thẩm quyền quy định của pháp luật tố tụng hình sự.

nguồn: baohaiquan

Chuyển đổi loại hình nhập khẩu phải chỉnh cả thời hạn nộp thuế

Việc DN chuyển loại hình nhập khẩu(NK) từ nhập nguyên liệu sản xuất xuất khẩu(XK) sang nhập kinh doanh sản xuất thì phải điều chỉnh lại thời hạn nộp thuế và tính tiền chậm nộp thuế.

Hoạt động nghiệp vụ tại Chi cục Hải quan Thái Nguyên, Cục Hải quan Bắc Ninh. Ảnh: T.Trang.

Đây là hướng dẫn của Tổng cục Hải quan trước kiến nghị của Công ty TNHH Vikom về việc Công ty bị phạt chậm nộp thuế.

Theo phân tích của Tổng cục Hải quan, tại khoản 7 Điều 16 và điểm d khoản 1 Điều 19 Luật Thuế XK, thuế NK số 107/2016/QH13; điều 12, Điều 36 Nghị định 134/2016/NĐ-CP thì trường hợp DN NK hàng hóa để sản xuất hàng XK nhưng không trực tiếp XK mà bán cho DN khác để sản xuất sản phẩm XK thì không được miễn thuế, hoàn thuế theo quy định tại Nghị định 134/1016/NĐ-CP.

Việc Công ty chuyển loại hình NK E31(nhập nguyên liệu sản xuất XK) sang loại hình A12 (nhập kinh doanh sản xuất) thì phải điều chỉnh lại thời hạn nộp thuế và tính tiền chậm nộp thuế.

Tổng cục Hải quan cho biết thêm, mức tính tiền chậm nộp là 0.03%/ngày tính trên số tiền thuế chậm nộp.

Ngày chậm nộp thuế căn cứ theo quy định tại điểm b khoản 4 Điều 133 Thông tư 38/2015/TT-BTC, cụ thể:  “Số ngày chậm nộp tiền thuế được tính từ ngày tiếp sau ngày cuối cùng của thời hạn nộp thuế, thời hạn gia hạn nộp thuế, thời hạn ghi trong thông báo hoặc trong quyết định xử lý của cơ quan hải quan và văn bản xử lý về thuế của cơ quan có thẩm quyền đến ngày liền kề trước ngày người nộp thuế hoặc cơ quan, tổ chức thu tiền thuế, tổ chức bảo lãnh nộp số tiền thuế chậm nộp vào ngân sách nhà nước”.

Doanh nghiệp lưu ý khi làm thủ tục nộp bổ sung C/O

(HQ Online)-Tổng cục Hải quan vừa có văn bản yêu cầu cục hải quan các tỉnh, thành phố hướng dẫn người khai hải quan thực hiện thống nhất đối với các trường hợp nộp bổ sung C/O.

Theo đó, khi thực hiện nộp bổ sung C/O, người khai hải quan khai nội dung thông tin khai bổ sung trên tờ khai AMA thông qua Hệ thống (đối với tờ khai hải quan điện tử). Đối với tờ khai giấy, DN khai bổ sung theo mẫu số 03/KBS/GSQL Phụ lục V ban hành kèm Thông tư 38/2015/TT-BTC của Bộ Tài chính và nộp C/O trong vòng 30 ngày kể từ ngày đăng ký tờ khai.

Để thông tin tới rộng rãi DN, Tổng cục Hải quan cũng yêu cầu các đơn vị hải quan địa phương niêm yết công khai hướng dẫn này tại các điểm làm thủ tục hải quan.

Trước đó, ngày 4/10/2016, Bộ Tài chính đã có công văn 13959/BTC-TCHQ hướng dẫn cụ thể về các trường hợp nộp C/O (trừ C/O mẫu VK, KV và mẫu EAV) sau thời điểm làm thủ tục hải quan là: “Trường hợp chưa có bản chính C/O tại thời điểm làm thủ tục hải quan, người khai hải quan phải khai báo việc nộp bổ sung C/O trên tờ khai hải quan và nộp C/O trong vòng 30 ngày kể từ ngày đăng ký tờ khai hải quan”.

nguồn: baohaiquan

Xuất khẩu cá ngừ sang các thị trường mới nổi tăng

Bước sang nửa cuối năm 2017, xuất khẩu cá ngừ của Việt Nam sang các thị trường vẫn tiếp tục tăng trưởng tốt. Theo số liệu thống kê của Hải quan Việt Nam…
xuat khau ca ngu sang cac thi truong moi noi tang
Cá ngừ Việt Nam đã xuất khẩu sang 70 nước trên thế giới

Xuất khẩu (XK) các sản phẩm cá ngừ của Việt Nam trong thời gian này đều tăng so với cùng kỳ. Trong đó, XK cá ngừ chế biến đóng hộp tăng mạnh nhất 32,3%. Còn XK cá ngừ tươi sống, đông lạnh và khô tăng 14%. Thăn/philê cá ngừ tiếp tục là sản phẩm XK chủ lực của Việt Nam trong 7 tháng đầu năm nay, chiếm 48% tổng giá trị XK cá ngừ của Việt Nam. Tiếp đến là cá ngừ đóng hộp chiếm 30%.

Hiện các sản phẩm cá ngừ của Việt Nam đã xuất được sang hơn 70 nước trên thế giới. Với Mỹ, EU, Israel, ASEAN, Nhật Bản, Mexico, Canada và Trung Quốc là 8 thị trường XK lớn nhất trong 7 tháng đầu năm, chiếm 88% tổng giá trị XK cá ngừ của Việt Nam.

Mỹ

Tháng 7, XK cá ngừ sang Mỹ tăng, tuy nhiên tốc độ tăng trưởng thấp. Giá trị XK cá ngừ sang thị trường này trong tháng 7 đạt 20 triệu USD, tăng 8% so với tháng 7/2016, nâng tổng giá trị XK sang đây trong 7 tháng đầu năm 2017 lên 128 triệu USD, tăng 15% so với cùng kỳ.

Các mặt hàng cá ngừ của Việt Nam XK sang Mỹ trong 7 tháng đầu năm nay đều tăng so với cùng kỳ. Thăn/philê cá ngừ đông lạnh của Việt Nam chiếm tỷ trọng cao nhất, 60% tổng giá trị XK cá ngừ của Việt Nam sang Mỹ, tăng 3% so với cùng kỳ. So với năm ngoái, Việt Nam đang đẩy mạnh XK cá ngừ chế biến đóng hộp sang thị trường này, tăng 41%.

EU

XK cá ngừ sang EU trong tháng 7 vẫn tiếp tục tăng. Giá trị XK cá ngừ của Việt Nam sang khu vực này trong tháng 7 đạt 10,7 triệu USD, nâng tổng giá trị XK trong 7 tháng đầu năm lên 69 triệu USD, tăng 23% so với cùng kỳ năm 2016.

Đáng chú ý trong tháng 7, XK cá ngừ sang Italy tăng đột biến sau một thời gian sụt giảm liên tục từ đầu năm. Giá trị XK cá ngừ sang đây đạt 1,2 triệu USD, tăng 166% so với tháng 7 năm ngoái. Tuy nhiên, lượng tăng này vẫn không đủ bù đắp lại lượng sụt giảm trong 6 tháng đầu năm. Trong khi đó, XK cá ngừ sang Đức và Hà Lan vẫn tiếp tục tăng trưởng tốt, đạt mức tăng lần lượt là 95% và 68% so với cùng kỳ.

Hiện XK các mặt hàng cá ngừ sang EU đều tăng, trừ cá ngừ chế biến khác. Đặc biệt, XK cá ngừ đóng hộp đang có xu hướng tăng tỷ trọng XK trong 7 tháng đầu năm nay. Giá trị XK mặt hàng này đạt 23 triệu USD, chiếm 33% tổng giá trị XK cá ngừ của Việt Nam, tăng 26% so với cùng kỳ.

Israel

Với tốc độ tăng trưởng ấn tượng từ đầu năm, Israel hiện đã vượt qua ASEAN và Nhật Bản trở thành thị trường XK cá ngừ lớn thứ 3 của Việt Nam. XK cá ngừ của Việt Nam sang đây đạt 28 triệu USD, tăng tới 155% so với 7 tháng đầu năm 2016.

Thời gian gần đây, do nhu cầu tiêu thụ cá ngừ chế biến đóng hộp tại các thị trường lớn truyền thống như Mỹ, EU, Nhật Bản chững lại, các DN Việt Nam đang chuyển hướng XK sang các thị trường mới nổi tại Trung Đông, đặc biệt là Israel. Do đó, XK cá ngừ chế biến đóng hộp là sản phẩm XK chủ lực sang đây hiện chiếm tới 68% tổng giá trị XK, đạt 19 triệu USD, tăng 67% so với cùng kỳ.

Dự báo, XK cá ngừ của Việt Nam sang Mỹ và EU về cuối năm sẽ tăng chậm, trong khi XK sang các thị trường chính mới nổi sẽ tiếp tục tăng mạnh.

Nguyễn Hà

Theo Vasep

nguồn: vietnambiz

Xăng liên tục tăng giá, cước vận tải sắp tới ngưỡng “đòi theo”

Chưa dám tăng cước vận tải vì sức ép cạnh tranh cũng như yêu cầu bình ổn giá từ cơ quan chức năng nhưng nhiều DN vận tải và taxi thừa nhận sau 4 lần xăng tăng giá, cước vận tải đã sắp tới ngưỡng phải điều chỉnh.

Xăng liên tục tăng giá, cước vận tải sắp tới ngưỡng “đòi theo”

Một số doanh nghiệp taxi rậm rịch tính phương án tăng cước. Ảnh: PV

Chiều 5/9, liên Bộ Tài chính – Công Thương quyết định tăng giá xăng RON 92 thêm 306 đồng/lít lên mức 17.792 đồng/lít; xăng E5 tăng 285 đồng/lít lên mức 17.539 đồng/lít; dầu diesel 0.05S tăng 155 đồng/lít lên mức 13.950 đồng/lít. Đây là lần tăng thứ 4 liên tiếp của giá xăng với tổng mức tăng 1.777 đồng/lít (tương đương tăng 10,8%) còn giá dầu diesel cũng đã 5 lần điều chỉnh và tăng lên 1.115 đồng/lít (tương đương mức tăng 8,6%).
Trao đổi với báo PV, ông Đỗ Quốc Bình – Chủ tịch Hiệp hội vận tải Hà Nội – cho biết so với thời điểm điều chỉnh cước taxi mới nhất, bước nhảy của giá xăng đã gần tới ngưỡng phải điều chỉnh cước (gần 2.000 đồng/lít) do đó các doanh nghiệp taxi đã bắt đầu phải tính tới việc điều chỉnh giá nhưng “vừa tính vừa đợi” vì phải xem chiều hướng giá xăng trong thời gian tới sẽ diễn biến ra sao. Ông Bình dự đoán, giá xăng nhiều khả năng sẽ tăng lên nữa và trong trường hợp đó việc điều chỉnh giá cước là khó tránh. Tuy nhiên, các doanh nghiệp taxi cũng sẽ phải cân nhắc rất nhiều xem nếu điều chỉnh thì ở mức nào vì còn phải duy trì khả năng cạnh tranh.
Cùng quan điểm, ông Nguyễn Công Hùng – Phó Tổng Giám đốc Công ty Cổ phần Mai Linh Đông Đô – thừa nhận giá xăng tăng đã gần tới ngưỡng nhưng đơn vị ông chưa dám tăng giá vì đang trong giai đoạn làm thương hiệu và cơ quan chức năng đã yêu cầu bình ổn giá do đó công ty phải trích quỹ bình ổn, quỹ dự phòng để hỗ trợ lái xe tiền nhiên liệu.
Liên quan tới khả năng tăng cước vận tải, đại diện Sở GTVT Hà Nội cho biết, trong tháng 7 và 8 vừa qua, Sở đã nhận được một số văn bản trình phương án tăng giá nhưng đều bị bác bỏ với lý do các đơn vị trên chưa thực hiện đúng theo quy định về phương án tính giá và Sở GTVT cũng đã có văn bản về việc bình ổn giá cước vận tải hành khách bằng ôtô trong đó đề nghị các doanh nghiệp vận tải trên địa bàn thành phố rà soát các chi phí cấu thành giá; không kê khai tăng giá cước, chủ động điều chỉnh giảm giá cước, tổ chức thu giá cước theo đúng phương án đã kê khai, có văn bản và phương án giá gửi về Sở GTVT Hà Nội.
Cũng chịu áp lực chi phí do xăng tăng giá, các doanh nghiệp vận tải chưa dám tăng cước vì còn phải nghe ngóng. Trao đổi với báo giới, ông Nguyễn Văn Thanh – Chủ tịch Hiệp hội Vận tải ôtô Việt Nam – cho biết, theo thông lệ, giá xăng cứ tăng khoảng 5%, các doanh nghiệp vận tải sẽ xem xét lên phương án điều chỉnh giá cước. Do đó, về lý thuyết sau 4 lần tăng giá liên tiếp, hiện giá xăng đã tăng 10,8% thì các doanh nghiệp sẽ phải tính phương án tăng cước nhưng sức ép cạnh tranh cùng sự phức tạp của quy trình điều chỉnh giá cước khiến doanh nghiệp phải cân nhắc.
Tuy nhiên, các doanh nghiệp đều thừa nhận nếu giá xăng tiếp tục tăng và vượt ngưỡng chịu đựng của doanh nghiệp thì việc tăng cước là khó tránh.

Theo Lao Động

nguồn: bizlive

Chi cục Hải quan: hơn 1,3 tấn ngà voi trong 14 thùng phuy nhựa đường

Tối 6/9, Chi cục Hải quan cửa khẩu cảng Sài Gòn khu vực 1 cho biết, kết quả khám xét các thùng phuy chứa nhựa đường, lực lượng chức năng đã thu giữ hơn 1,3 tấn ngà voi.

Các thùng phuy nhựa đường được dùng để cất giấu ngà voi
Các thùng phuy nhựa đường được dùng để cất giấu ngà voi

Trước đó như Dân trí đã thông tin, sáng 6/9, Chi cục hải quan cửa khẩu cảng Sài Gòn khu vực 1 phối hợp với Cục Cảnh sát phòng chống tội phạm về buôn lậu (C74) – Bộ Công an, Công an TPHCM, Bộ đội biên phòng TPHCM tiến hành khám xét 2 container của một công ty có trụ sở tại đường Phan Xích Long (quận Phú Nhuận), trên giấy tờ khai là nhựa đường chứa trong hàng trăm thùng phuy.

Kết quả khám xét, lực lượng chức năng phát hiện bên trong 14 thùng phuy có chứa 1.356 kg ngà voi.

Lực lượng chức năng dùng cây xăm để kiểm tra
Lực lượng chức năng dùng cây xăm để kiểm tra
Ngà voi được cất giấu trong thùng phuy nhựa đường
Ngà voi được cất giấu trong thùng phuy nhựa đường

Số tang vật này được các đối tượng cất giấu tinh vi trong 14 thùng phuy nhựa đường, bên trên phủ một lớp mùn cưa, nhựa đường và thạch cao.

Theo chi cục Hải quan cảng Sài Gòn khu vực 1, đây là lần đầu tiên đơn vị phát hiện ngà voi được cất giấu trong thùng phuy chứa nhựa đường, trước đó các đối tượng thường cất giấu trong các khối gỗ để thẩm lậu.

Thảo Trần
Nguồn: dantri