Siết chặt quản lý doanh nghiệp vi phạm về kiểm tra chuyên ngành

(HQ Online)- Được giải quyết cho mang hàng kiểm tra chuyên ngành (KTCN) về bảo quản, tránh phát sinh chi phí, nhưng một số DN lợi dụng ưu đãi này, không nộp kết quả KTCN, tự ý đưa hàng ra thị trường tiêu thụ khi chưa có kết quả KTCN. Cục Hải quan TP.HCM kiến nghị siết chặt quản lý, xử lý nghiêm những trường hợp cố tình vi phạm.

Khó xử lý DN bỏ trốn

Trong số các DN vi phạm đã có 2 DN có hành vi tự ý đưa hàng nhập khẩu được mang về bảo quản, chờ kết quả KTCN ra thị trường tiêu thụ bị cơ quan Hải quan khởi tố vụ án hình sự, gồm: Công ty TNHH Nông Sinh NK trên 250 tấn phân hữu cơ các loại, xuất xứ Trung Quốc, trị giá 85.840 USD; Công ty TNHH Pet Prince tự ý tiêu thụ lô hàng thức ăn cho chó trong thời gian đưa hàng về bảo quản, chờ kết quả kiểm tra chất lượng lô hàng.

Theo Phó cục trưởng Cục Hải quan TP.HCM Nguyễn Hữu Nghiệp, thực hiện quy định tại Điều 32 Thông tư 38/2015/TT-BTC ngày 25/3/2015 của Bộ Tài chính, để tạo thuận lợi cho các DN trong hoạt động XNK, các Chi cục Hải quan trực thuộc Cục Hải quan TP.HCM đã giải quyết cho DN được mang hàng về kho bảo quản chờ kết quả KTCN theo đúng quy định. Tuy nhiên, hiện nay, vẫn còn tồn tại không ít trường hợp DN nợ kết quả KTCN kéo dài mặc dù các chi cục đã thực hiện nhiều biện pháp nghiệp vụ để đôn đốc DN, dẫn đến khó xử lý đối với các trường hợp DN bỏ trốn, không hoạt động tại địa chỉ đăng ký kinh doanh.

Thống kê của Cục Hải quan TP.HCM cho thấy, tính đến ngày 15/5/2018, có 272 DN vi phạm chính sách quản lý hải quan đối với hàng hóa đã được cho mang hàng về bảo quản chờ kết quả kiểm tra chuyên ngành. Trong đó, có 240 DN không được cho mang hàng về bảo quản vì vi phạm chính sách quản lý hải quan đối với hàng hóa đã được cho mang hàng về bảo quản chờ kết quả kiểm tra chuyên ngành, nhưng quá hạn 30 ngày DN chưa nộp kết quả kiểm tra; 26 DN chậm nộp kết quả KTCN, đã bổ sung kết quả, bị xử phạt vi phạm hành chính, không được đưa hàng về bảo quản trong thời hạn 6 tháng kể từ ngày ra quyết định xử phạt và 6 DN bị tạm dừng 1 năm không được đưa hàng về bảo quản. Các trường hợp này, ngoài việc không giải quyết cho mang hàng về bảo quản, Cục Hải quan TP.HCM thông báo danh sách các DN vi phạm trên đến các đơn vị hải quan địa phương trong cả nước để phối hợp không cho mang hàng về bảo quản.

Đáng chú ý, trong thời gian qua, một số DN đã lợi dụng quy định được mang hàng về bảo quản chờ kết quả KTCN đã tự ý đưa hàng ra thị trường tiêu thụ, bỏ trốn khỏi địa chỉ đăng ký kinh doanh. Đối với những DN này, các chi cục hải quan đã cử công chức tới cơ quan quản lý địa phương xác minh, phát hiện DN đã bỏ trốn, mất tích, không còn hoạt động tại địa chỉ đăng ký kinh doanh và hàng hóa cũng đã không còn tại địa chỉ mang hàng về bảo quản. Các chi cục đã gửi công văn để xác minh tình trạng hoạt động của DN tại Chi cục thuế địa phương, Sở Kế hoạch và Đầu tư địa phương, kết quả cho thấy, một số ít trường hợp DN đã tuyên bố giải thể, đóng mã số thuế còn đa phần là ở tình trạng chưa đóng mã số thuế nhưng không rõ DN còn kinh doanh hay không, kinh doanh tại địa chỉ nào. Xác minh tình trạng giám định hàng hóa tại cơ quan KTCN được biết, một số DN không xuất trình hàng hóa ngay khi mang về bảo quản, một số trường hợp DN đã KTCN nhưng sau đó đã bỏ trốn, mất tích và cơ quan KTCN chưa đủ điều kiện để kết luận về kết quả KTCN (chờ bổ túc hồ sơ, chờ giám định lại theo yêu cầu của DN…).

Sau khi xác minh, điều tra và có đầy đủ căn cứ xác định “DN đã không bảo quản nguyên trạng hàng hóa tại địa điểm đã đề xuất mang về bảo quản” theo đúng qui định tại Điều 32, Thông tư 38/2015/TT-BTC và đã bỏ trốn, mất tích khỏi địa chỉ đăng ký kinh doanh, chi cục đã tập hợp chứng cứ và làm công văn chuyển thông tin trao đổi với cơ quan công an để xử lý theo quy định của pháp luật. Cụ thể, Chi cục Hải quan cửa khẩu cảng Sài Gòn KVI đã tập hợp hồ sơ, chuyển thông tin trao đổi với cơ quan Công an quận 2. Tuy nhiên, các công văn này đã bị Công an quận 2 đóng dấu từ chối tiếp nhận chứng từ bưu điện chuyển tới nhưng không thông báo lý do.

Để xử lý đối với các trường hợp trên, trước mắt Cục Hải quan TP.HCM đề xuất xử lý nghiệp vụ trên hệ thống, tránh tồn đọng tờ khai, đồng thời lập danh sách các DN này báo cáo và đề nghị Tổng cục Hải quan đưa vào danh sách DN bị cưỡng chế không làm thủ tục Hải quan trên toàn quốc.

Cần chế tài xử lý

Đối với trường hợp DN cố tình trì hoãn hoàn thành thủ tục kiểm tra chuyên ngành, Cục Hải quan TP.HCM cho rằng, mặc dù văn bản pháp lý đã quy định rất chặt chẽ về quyền và trách nhiệm của các bên trong quá trình thực hiện cho phép mang hàng bảo quản chờ kết quả KTCN với chế tài cụ thể về thời gian, nhưng trên thực tế các công văn của cơ quan KTCN gửi các Chi cục Hải quan cửa khẩu thường chỉ ghi lý do chậm trễ ra kết quả KTCN là do “DN chưa đề nghị kiểm tra”,“DN chưa bổ túc hồ sơ”. Các công văn này thường không có cam kết xác nhận về thời hạn ra kết quả KTCN theo đúng quy định. Nhiều tờ khai đã kéo dài thời hạn mang hàng bảo quản trên cả năm vẫn chưa có xác nhận kết quả KTCN.

Việc xác định kết quả KTCN thuộc trách nhiệm của các cơ quan có thẩm quyền nhưng do cơ quan kiểm tra và DN đùn đẩy trách nhiệm trong quá trình thực hiện nên dẫn đến kéo dài thời gian ra kết quả KTCN. Việc xác nhận vô hạn định tình trạng nợ KTCN nên cơ quan Hải quan vẫn phải chịu trách nhiệm giám sát hàng hóa đã mang về bảo quản tại địa điểm kiểm tra ngoài cửa khẩu trong một thời gian dài mà không có hướng xử lý và cũng không có chế tài để buộc các cơ quan KTCN phải có kết luận KTCN đúng thời hạn.

Từ thực tế trên, Cục Hải quan TP.HCM kiến nghị, đối với trường hợp DN nợ quá hạn kết quả KTCN trên 6 tháng kể từ ngày mang hàng về kho bảo quản và DN vẫn giữ nguyên trạng hàng hóa tại địa điểm mang hàng về bảo quản nhưng cố tình chây ỳ, không chịu hợp tác để hoàn thành kết luận kiểm tra (theo công văn xác nhận của cơ quan KTCN, lý do chậm trễ ra kết quả KTCN là do “DN chưa đề nghị kiểm tra”,“DN chưa bổ túc hồ sơ”). Chính vì thế, cơ quan KTCN không thể xác định được thời hạn ra kết quả giám định thì cơ quan Hải quan lập biên bản vi phạm DN về hành vi “nhập khẩu hàng hóa không đáp ứng yêu cầu về điều kiện, tiêu chuẩn, kỹ thuật” và buộc DN tái xuất mặt hàng này theo quy định tại Nghị định 45/2016/NĐ-CP ngày 26/5/2016 về sửa đổi, bổ sung một số Điều của Nghị định số 127/2013/NĐ-CP ngày 15/10/2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính và cưỡng chế thi hành quyết định hành chính trong lĩnh vực hải quan.

Nguồn:baohaiquan

Kiểm tra chuyên ngành: Còn rất nhiều việc phải làm

(HQ Online)- Trong 4 năm liên tiếp thực hiện các Nghị quyết 19 của Chính phủ với những nội dung liên quan đến cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, trong đó có cải thiện toàn diện hoạt động quản lý, kiểm tra chuyên ngành (KTCN), bên cạnh những kết quả đạt được, vẫn còn nhiều mục tiêu đề ra cho hoạt động này đã không được như kỳ vọng.

Thời gian thông quan đạt chỉ tiêu

Số liệu của Hải quan Hải Phòng (tại thời điểm tháng 3/2018), tỷ lệ (tính trên tổng số tờ khai thuộc diện kiểm tra) chuyển hậu kiểm trong lĩnh vực an toàn thực phẩm đạt hơn 90%, lĩnh vực KTCN thuộc quản lý của Bộ Xây dựng là 100%, của Bộ KHCN là 95%.

Một trong những nội dung trọng tâm, xuyên suốt của các Nghị quyết 19 là vấn đề thủ tục hải quan, cải cách toàn diện các quy định quản lý và kiểm tra chuyên ngành đối với hàng hóa XNK (được đưa vào từ Nghị quyết 19 năm 2015) nhằm cải thiện chỉ số thương mại qua biên giới của Việt Nam. Theo đó, Nghị quyết yêu cầu áp dụng nguyên tắc quản lý rủi ro, chuyển mạnh sang hậu kiểm, phù hợp với thông lệ quốc tế trong hoạt động quản lý, KTCN đối với hàng hóa XNK.

Với quyết tâm mạnh mẽ của Chính phủ, sự vào cuộc tích cực của các bộ, ngành, địa phương và sự hợp tác chặt chẽ của các hiệp hội, ngành hàng, các DN trong việc thực hiện Nghị quyết 19, Việt Nam đã đạt được những kết quả đáng khích lệ về cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.

Theo TS. Nguyễn Đình Cung, DN đã được giảm đáng kể chi phí và khoảng 90% thủ tục lâu nay liên quan đến khai báo, làm thủ tục XNK, nhờ đó thông quan nhanh hơn. Về kết quả thực hiện chỉ đạo của Chính phủ tại các Nghị quyết 19 về quản lý KTCN, tại Hội thảo thực hiện nghị quyết 19 của Chính phủ về cải cách thủ tục hành chính trong hoạt động quản lý, kiểm tra đối với hàng hóa XNK vừa được Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương (CIEM) tổ chức, ông Phạm Thanh Bình, chuyên gia Dự án quản trị nhà nước nhằm tăng trưởng toàn diện (GIG) thuộc tổ chức USAID Việt Nam, đã chỉ ra những mặt đạt được và chưa đạt được theo các yêu cầu của Nghị quyết về vấn đề KTCN.

Về yêu cầu chuyển căn bản sang hậu kiểm, đến nay đã thực hiện chuyển hậu kiểm/trước khi đưa ra thị trường: Về lĩnh vực kiểm tra chất lượng, đã quy định tại Nghị định 74/2018/NĐ-CP, Thông tư 07/2017/TT-BKHCN và Thông tư 21/2017/TT-BCT về formaldehyt. Các lĩnh vực khác (Thức ăn chăn nuôi, kiểm dịch…) chưa thực hiện.

Tại địa bàn do Hải quan Hà Nội phụ trách, năm 2017 tỷ lệ lô hàng NK phải KTCN là 5,43%, quý 1/2018 tỷ lệ lô hàng NK phải KTCN là 5,63%. Tại địa bàn do Hải quan Hải Phòng phụ trách, tỷ lệ KTCN trước thông quan nói chung tại thời điểm tháng 3/2018 là khoảng 9% tổng số tờ khai NK. Tại địa bàn Hải quan TP.HCM phụ trách là khoảng 14%.

Về yêu cầu thời gian thông quan hàng hoá còn 70 giờ đối với hàng hoá NK, 90 giờ đối với hàng hoá XK, theo đánh giá của Hải quan Hà Nội, thời gian hoàn thành thủ tục thông quan hàng hoá (hàng không phải kiểm dịch) trung bình là 48 giờ (tính từ lúc khai hải quan đến khi lấy hàng), nếu có kiểm dịch động vật là 96 giờ, có kiểm dịch thực vật là 50 giờ.

Theo thống kê chưa đầy đủ của Tổng cục Hải quan về hoạt động KTCN trong 5 tháng đầu năm 2018, Tổng cục Hải quan đã phối hợp với các bộ, ngành rà soát, thống kê được tổng số 337 văn bản quy phạm pháp luật về quản lý, KTCN và đã đề nghị các bộ, ngành sửa đổi, bổ sung được 79/87 văn bản; rà soát danh mục hàng hóa thuộc diện KTCN kèm mã HS để cắt giảm, ban hành được hơn 60 danh mục hàng hóa theo Thông tư số 65/2017/TT-BTC. Bên cạnh đó, Tổng cục Hải quan đã xây dựng Đề án trình Thủ tướng Chính phủ về thí điểm thực hiện KTCN một số mặt hàng tại cơ quan Hải quan. Thống kê cho thấy, quý II/2015 có 82.760 mặt hàng thuộc diện quản lý và KTCN, đến quý I/2018 còn 78.390 mặt hàng (giảm 4.403 mặt hàng).

Theo đại diện Bộ NN&PTNT, về những mặt hàng phải KTCN, qua rà soát, Bộ này đã ban hành Thông tư 24/2017/TT-BNN&PTNT ban hành mã HS với những mặt hàng phải KTCN, đây là lần rà soát bước đầu làm giảm căn bản mặt hàng phải KTCN trên các lĩnh vực của ngành NN&PTNT. ”Trước đó, tiếp cận danh mục này như bước vào rừng rậm với hàng nghìn mặt hàng. Đến nay theo Thông tư 24 còn hơn 7.000. Đây chưa phải là số chính xác, vì còn sự trùng lặp ở một số danh mục. Trong những đợt tiếp theo chúng tôi sẽ tiếp tục cắt giảm trên nền Thông tư này. Với nhóm hàng hóa chịu sự quản lý của nhiều đơn vị thuộc Bộ, chúng tôi thống nhất giao một đầu mối để thực hiện việc KTCN, hiện đang chờ ý kiến của ban cán sự Bộ NNPTNT, trong thời gian sớm nhất, chậm nhất tháng 8 sẽ ban hànhquyết định này”, đại diện Bộ NN&PTNT cho biết.

Dán nhãn năng lượng: Tốn nhiều thời gian, chi phí

Theo ông Phạm Thanh Bình, có nhiều yêu cầu cải thiện KTCN chưa đạt được như yêu cầu đề ra tại các Nghị quyết 19. Cụ thể, về yêu cầu áp dụng quản lý rủi ro trong KTCN, yêu cầu của Nghị quyết 19 là áp dụng nguyên tắc quản lý rủi ro trên cơ sở đánh giá mức độ tuân thủ pháp luật của DN trong KTCN. Đến nay, đã áp dụng trong lĩnh vực quản lý an toàn thực phẩm, còn các lĩnh vực khác về cơ bản là chưa áp dụng. Cùng với đó, yêu cầu áp dụng chế độ DN ưu tiên trong quản lý KTCN đến nay cũng chưa có lĩnh vực quản lý KTCN nào áp dụng.

Theo thông tin được chuyên gia đến từ GIG cung cấp, việc thực hiện yêu cầu về áp dụng rộng rãi thông lệ quốc tế chưa có chút tiến bộ nào. Cụ thể, chưa có bộ nào áp dụng việc đẩy mạnh công nhận lẫn nhau trong KTCN. Việc chủ động công nhận chất lượng của các nhãn hiệu, nhà sản xuất nổi tiếng, những hàng hóa đựoc sản xuất tại các nước, khu vực có tiêu chuẩn chất lượng tiên tiến (châu Âu, Mỹ, Nhật…) cũng chưa có bộ nào công bố áp dụng, kể cả trường hợp đã được công bố tại luật.

Liên quan đến thay đổi cách thức quản lý, kiểm tra, dán nhãn hiệu suất năng lượng, ông Phạm Thanh Bình cho biết, đây đang là thủ tục phức tạp, tốn nhiều thời gian, chi phí nhất hiện nay. Theo đánh giá của một DN thường xuyên làm thủ tục NK tại địa bàn TP.HCM thì tổng chi phí kiểm tra, chứng nhận hợp quy tại Trung tâm Kỹ thuật Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng 3 (Quatest 3) là trên 149 triệu đồng cho 4 model tủ đông công nghiệp. Về yêu cầu liên quan đến bãi bỏ, đơn giản hóa thủ tục công bố hợp quy, hợp chuẩn, theo chuyên gia của GIG, nhìn chung thủ tục công bố hợp quy hợp chuẩn chưa có thay đổi đáng kể. Đơn cử, việc công bố sản phẩm đối với sản phẩm chức năng, sản phẩm dinh dưỡng, sản phẩm cho em bé thời gian khoảng 3 tháng do Sở Y tế (TP.HCM) yêu cầu bổ sung nhiều hơn 1 lần dẫn đến DN phải làm đi làm lại.

Liên quan đến KTCN, tại Nghị quyết 19 năm 2018, yêu cầu tiếp tục đặt ra là các chỉ tiêu, nhiệm vụ đề ra từ các Nghị quyết 19 trước chưa thực hoàn thành phải tiếp tục thực hiện, như: áp dụng quản lý rủi ro trong KTCN; áp dụng chế độ DN ưu tiên trong quản lý KTCN; chủ động công nhận chất lượng của các nhãn hiệu, nhà sản xuất nổi tiếng, những hàng hóa được sản xuất tại các nước, khu vực có tiêu chuẩn chất lượng tiên tiến; điện tử hóa thủ tục quản lý KTCN; thay đổi cách thức quản lý, kiểm tra, dán nhãn hiệu suất năng lượng. Bên cạnh đó, Nghị quyết yêu cầu chuyển đổi mạnh mẽ cách thức quản lý Nhà nước từ chủ yếu tiền kiểm sang hậu kiểm, gắn liền áp dựng nguyên tắc quản lý rủi ro, đánh giá mức độ tuân thủ pháp luật của tổ chức, cá nhân. Xóa bỏ căn bản tình trạng một mặt hàng chịu quản lý, KTCN của nhiều hơn một cơ quan; giảm ít nhất 50% mặt hàng phải KTCN; giảm tỷ lệ các lô hàng NK phải KTCN tại giai đoạn thông quan từ 25-27% hiện nay xuống còn dưới 10%; triển khai đủ 130 thủ tục hành chính mới qua một cửa quốc gia và một cửa ASEAN… Chưa kể, hiện có nhiều vấn đề có cách hiểu khác nhau trong KTCN cũng đang gây cản trở, khó khăn cho việc thông quan hàng hóa XNK. Đây cũng là nhóm nội dung cần được thống nhất để tạo thuận lợi cho KTCN.

Theo TS. Nguyễn Đình Cung, Viện trưởng Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương (CIEM):

Ngoài nguyên tắc chuyển từ tiền kiểm sang hậu kiểm làm tương đối tốt, chúng ta còn rất nhiều việc phải làm trong cải thiện công tác KTCN. Những điểm mờ trong KTCN cần được sửa đổi cho sáng lên. Các DN sợ nhất tính bất định, vì thế, cần giới hạn tối đa những điểm mờ để DN tiên liệu trước được, còn nếu không sẽ có nhiều rủi ro, rủi ro không chỉ về chi phí mà còn là về mặt pháp lý cho DN.

Nguồn:baohaiquan

Quảng Bình: 88% hàng hóa XNK thuộc diện phải kiểm tra chuyên ngành

(HQ Online)- Thống kê từ Hải quan Quảng Bình, trong kỳ (15/4 đến 15/5) có 88% hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu phải kiểm tra chuyên ngành hoặc thuộc diện quản lý chuyên ngành.

Các loại hàng hóa thuộc đối tượng kiểm tra chuyên ngành gồm: Trái cây, gạo các loại (kiểm dịch thực vật, kiểm tra an toàn thực phẩm); gỗ (kiểm dịch thực vật); trâu, bò sống, chân cánh gà đông lạnh (kiểm dịch động vật, sản phẩm động vật); phân bón Kali (kiểm tra chất lượng).

Ngoài ra, hàng hóa xuất khẩu thuộc diện quản lý chuyên ngành gồm: Axit Sunfuric, tinh quặng Ilmenite.

Cụ thể, 90% tổng tờ khai hàng hóa phải kiểm tra chuyên ngành được thực hiện qua Hệ thống một cửa quốc gia (gồm các thủ tục kiểm dịch thực vật, kiểm dịch động vật, sản phẩm động vật trên cạn nhập khẩu).

Có được kết quả như trên, Hải quan Quảng Bình và các cơ quan tại cửa khẩu đã phối hợp chặt chẽ, đảm bảo công tác quản lý Nhà nước, cũng như tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động xuất nhập khẩu của doanh nghiệp.

Trong kỳ, tại đơn vị chưa phát sinh vụ vi phạm kiêm quan đến kiểm tra chuyên ngành và quản lý chuyên ngành.

Được biết, tính từ đầu năm đến nay, Hải quan Quảng Bình làm thủ tục cho 5.711 tờ khai nhập khẩu, trong đó có 97% tờ khai kiểm tra chuyên ngành.

Nguồn:baohaiquan

34% danh mục hàng hóa phải kiểm tra chuyên ngành nhưng chưa có tiêu chuẩn

(HQ Online)-Thông tin trên được Thứ trưởng Bộ Tài chính Đỗ Hoàng Anh Tuấn đưa ra tại buổi làm việc mới đây của Tổ công tác của Thủ tướng với 16 bộ, ngành.

Theo Thứ trưởng Đỗ Hoàng Anh Tuấn, dù hiện nay tỉ lệ danh mục hàng hóa phải kiểm tra chuyên ngành chưa có tiêu chuẩn, quy chuẩn đã giảm từ 51% xuống còn 34%, nhưng tỉ lệ này vẫn còn khá nhiều. Việc thiếu tiêu chuẩn, quy chuẩn gây khó khăn cho DN trong quá trình thực hiện thủ tục. “Đây là một vấn đề cần khắc phục trong năm 2018 nhằm cải cách công tác kiểm tra chuyên ngành đối với hàng hóa XNK. Hàng hóa đã kiểm tra thì phải có tiêu chuẩn, quy chuẩn”-Thứ trưởng Đỗ Hoàng Anh Tuấn-thành viên Tổ công tác của Thủ tướng kiến nghị các bộ, ngành.

Cùng với đó, Thứ trưởng Đỗ Hoàng Anh Tuấn cho biết, bất cập về chồng chéo trong kiểm tra chuyên ngành cần xử lý dứt điểm. “Vấn đề này cần được thảo luận trong quý I và II, để trước ngày 30/6, Tổ công tác có thể xử lý hoặc trình cấp trên xử lý mối quan hệ chồng chéo trên”.

Trong công tác quản lý chuyên ngành hàng hóa XNK, Thứ trưởng Đỗ Hoàng Anh Tuấn cho biết thêm, hiện vẫn còn 41 danh mục hàng hóa chưa được mã hóa, hay nói cách khác chưa được gọi tên bằng tên quốc tế. Điều này dễ hiểu lầm, gây khó cho DN; đồng thời, hiện cũng còn 37 danh mục hàng hóa có tên nhưng chưa được sửa đổi, bổ sung tên quốc tế mới mà quốc tế đã sửa đổi. Đây cũng là vấn đề cần sớm được giải quyết để giúp DN dễ thực hiện thủ tục.

Thứ trưởng cũng lưu ý rằng tỷ lệ kiểm tra chuyên ngành đã giảm được từ 35% số lô hàng trước đây xuống còn khoảng 26% năm 2017, nhưng ngay cả khi năm 2018 giảm được xuống 15% thì tỉ lệ này vẫn cao hơn trung bình các nước là 7%. Chính vì vậy, cần xây dựng danh mục hàng hóa quản lý chuyên ngành theo hướng quản lý rủi ro, nhằm đảm bảo quản lý nhưng vẫn thông thoáng cho hoạt động XNK.

Thứ trưởng Bộ Tài chính Đỗ Hoàng Anh Tuấn cũng cho rằng, với tốc độ, quy mô XNK ngày càng gia tăng thì cần phải ứng dụng công nghệ thông tin, kết nối mạnh mẽ hơn nữa để quản lý. Cơ chế một cửa quốc gia về bản chất chính là ứng dụng CNTT kết nối 11 bộ, ngành. Chính vì vậy, thời gian tới, cần triển khai mạnh mẽ Cơ chế một cửa quốc gia, tiến tới thực hiện thủ tục điện tử 100%.

Nguồn:baohaiquan

Thủ tướng chỉ đạo cải cách kiểm tra chuyên ngành, cắt giảm điều kiện kinh doanh

(HQ Online)- Các bộ, ngành cần tổ chức rà soát, đề xuất phương án cải cách hoạt động kiểm tra chuyên ngành, cắt giảm, đơn giản hóa danh mục hàng hóa, sản phẩm, thủ tục kiểm tra chuyên ngành và điều kiện đầu tư kinh doanh.

Đây là chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ đối với bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang Bộ trong việc thực hiện cải cách hoạt động kiểm tra chuyên ngành và điều kiện kinh doanh.

Thủ tướng yêu cầu các đề xuất cải cách cần lấy ý kiến Hội đồng Tư vấn cải cách thủ tục hành chính của Thủ tướng Chính phủ, Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tư pháp và các cơ quan liên quan; hoàn thành và báo cáo Thủ tướng Chính phủ chậm nhất trước 30/4/2018.

Các bộ, ngành công khai kết quả rà soát và phương án cắt giảm, đơn giản hóa đã được phê duyệt trên Cổng thông tin điện từ của bộ, cơ quan nganh bộ để người dân, DN biết và giám sát việc thực hiện.

Xây dựng các văn bản thực thi các phương án cắt giảm, đơn giản hóa danh mục hàng hóa, sản phẩm, thủ tục kiểm tra chuyên ngành và điều kiện đầu tư kinh doanh đã được bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang bộ phê duyệt để ban hành theo thẩm quyền hoặc trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ban hành chậm nhất trước 31/10/2018, trong đó ưu tiên áp dụng hình thức một văn bản sửa nhiều văn bản theo trình tự, thủ tục rút gọn.

Đối với các quy định trong luật, pháp lệnh cần phải sửa đổi, bổ sung để thực thi các phương án đã được phê duyệt mà chưa có trong chương trình xây dựng luật, pháp lệnh, Thủ tướng giao Bộ trưởng Bộ Tư pháp chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan ngang bộ tổng hợp đề nghị Chính phủ, báo cáo Ủy ban thường vụ Quốc hội về việc cho phép bổ sung vào chương trình xây dựng luật, pháp lệnh theo quy định.

Chỉ đạo của Thủ tướng trong những ngày đầu năm nhằm để triển khai thực hiện cải cách hoạt động kiểm tra chuyên ngành và cắt giảm, đơn giản hóa điều kiện kinh doanh một cách thực chất, toàn diện, hiệu quả, đảm bảo đạt được mục tiêu đề ra của Chính phủ tại Nghị quyết 01/NQ-CP.

Nguồn:baohaiquan

Kiểm định Hải quan hỗ trợ tích cực về kiểm tra chuyên ngành

(HQ Online)- Hai năm sau khi Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định 65/2015/QĐ-TTg nâng cấp Trung tâm Phân tích phân loại hàng hóa XNK thành Cục Kiểm định Hải quan (ngày 5/2/2016), đến nay Cục Kiểm định Hải quan không chỉ cụ thể hóa sự hỗ trợ cho hoạt động XNK của DN mà còn giúp Tổng cục Hải quan nâng tầm công tác kiểm định, tham gia kiểm tra chuyên ngành (KTCN) để từng bước thay đổi và nâng cao công tác quản lý của cơ quan Hải quan.

Bắt nhịp yêu cầu của ngành

Theo dự thảo Đề án, Tổng cục Hải quan đề xuất 2 nhóm mặt hàng thí điểm: Thứ nhất, kiểm tra vệ sinh an toàn thực phẩm (độc tố trong nông sản NK bao gồm kiểm tra hàm lượng kim loại nặng, một số dư lượng thuốc bảo vệ thực vật và các chỉ tiêu vi sinh trong hành tây, cà rốt, nho tươi, quả táo tươi, quả lê tươi, khoai tây, tỏi…). Thứ hai, kiểm tra chất lượng nhóm mặt hàng phân bón khoáng (phân bón khoáng và phân hóa học có chứa nitơ, phosphate, kali; phân bón khoáng hữu cơ và phân bón hữu cơ khoáng). Thời gian thực hiện thí điểm là 1 năm. Thời gian trả kết quả giảm 50% so với quy định hiện hành kể từ ngày lấy mẫu; hình thức trả kết quả thông qua Cổng thông tin một cửa quốc gia và kết quả sẽ là căn cứ để thông quan hàng hoá.

Là phóng viên theo dõi hoạt động của đơn vị chuyên trách triển khai công tác kiểm định, tôi đã được chứng kiến sự thay đổi nhanh chóng của Cục Kiểm định trong thời gian qua. Trong đó, đặc biệt là sự ra đời của chi cục kiểm định hải quan, cho thấy việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Cục Kiểm định Hải quan theo Quyết định số 1388/QĐ-BTC của Bộ trưởng Bộ Tài chính và quyết tâm đưa công tác kiểm định bắt nhịp nhanh vào quá trình phát triển của ngành Hải quan đã cơ bản hoàn thành.

Còn nhớ hơn 1 năm trước đây, nhiều đơn vị địa phương khó khăn trong việc gửi mẫu phân tích, còn DN phải chạy “ngược xuôi” để mong được tháo gỡ nút thắt trong công tác kiểm định, KTCN. Nhưng nay, với việc triển khai thêm 3 đơn vị trực thuộc, Cục Kiểm định Hải quan đã và đang khẳng định các bước đi theo định hướng để thực hiện và chuyên môn hóa công tác này trong tình hình mới, tạo điều kiện, giảm chi phí cho DN.

Và như quyết tâm đưa công tác KTCN đi vào thực chất, ngoài việc triển khai thêm 3 chi cục kiểm định mới: Chi cục Kiểm định Hải quan 1 (tại Hà Nội); Chi cục Kiểm định Hải quan 5 (tại Quảng Ninh); Chi cục Kiểm định Hải quan 6 (tại Lạng Sơn), Tổng cục Hải quan đã phê duyệt “Đề án phát triển Cục Kiểm định Hải quan giai đoạn 2017-2020”; Ban hành Quy chế Kiểm định, phân tích hàng hóa XNK; Cục Kiểm định Hải quan cũng đã hoàn thành việc xây dựng phòng thí nghiệm đạt chuẩn Vilas cho Chi cục Kiểm định Hải quan 2 tại Hải Phòng.

Hiện đã có 4/6 phòng thí nghiệm của Cục Kiểm định Hải quan được Văn phòng Công nhận chất lượng (BoA) của Bộ KH&CN cấp chứng nhận đạt tiêu chuẩn TCVN ISO/IEC 17025:2005 (VILAS). Riêng Chi cục Kiểm định Hải quan 4 còn được công nhận là tổ chức giám định theo tiêu chuẩn TCVN ISO/IEC 17020:2012 (VIAS). Bộ Công Thương và Bộ NN&PTNT đã chỉ định Chi cục Kiểm định Hải quan 4 là tổ chức thử nghiệm phân bón hữu cơ, phân bón vô cơ góp phần phục vụ công tác quản lý nhà nước về chất lượng hàng hóa. Cục trưởng Cục Kiểm định Hải quan Đỗ Văn Quang khẳng định, Cục Kiểm định Hải quan đã được trang bị cơ bản về nhân lực và thiết bị để phục vụ tốt công tác nội ngành nói chung đủ năng lực để trực tiếp tham gia công tác KTCN đối với hàng hóa XNK.

“Đơn vị vừa được đầu tư 4 trạm kiểm định di động với trang thiết bị khá hiện đại có thể linh hoạt di chuyển và áp sát đến các khu vực cửa khẩu vùng biên giới để thực hiện kiểm tra chất lượng; lấy mẫu và tổ chức kiểm tra ngay tại hiện trường. Việc thành lập và đưa vào hoạt động thêm 3 Chi cục Kiểm định Hải quan mới; xây dựng và mở rộng các phép thử cho các phòng thí nghiệm đạt chuẩn VILAS tại cục và các chi cục; việc đầu tư trang thiết bị phân tích hóa lý, các phòng thí nghiệm vi sinh vật và 4 trạm kiểm định di động tạo điều kiện thuận lợi trong thực hiện công tác kiểm định, phân tích và công tác KTCN. Việc tiếp nhận, phân tích, đề xuất ban hành thông báo xác định trước mã số đã cơ bản đáp ứng quy định, tạo thuận lợi cho hoạt động XNK”, ông Đỗ Văn Quang chia sẻ.

Tuy nhiên, trong giai đoạn 2017-2020, để có cơ sở pháp lý thực hiện và hoàn thành nhiệm vụ trong công tác KTCN, cơ quan Hải quan phải được bộ quản lý chuyên ngành công nhận chỉ định hoặc ủy quyền để tham gia KTCN. Ông Đỗ Văn Quang cũng cho biết, đơn vị đang tham mưu trình Tổng cục Hải quan – Bộ Tài chính hoàn thiện Đề án trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, cho phép thí điểm KTCN đối với hàng hóa XNK tại cơ quan Hải quan. Đồng thời, các bộ, ngành phối hợp với Tổng cục Hải quan trong việc giao Cục Kiểm định Hải quan thực hiện xử lý các lô hàng XNK có kết quả kiểm tra không đạt các tiêu chí về tiêu chuẩn, chất lượng, kiểm dịch, tiêu chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm. Có cơ chế thẩm định công nhận phòng thí nghiệm đạt năng lực tổ chức giám định theo chuyên ngành.

Mục tiêu phấn đấu

Có được những tín hiệu vui bước đầu về tiến độ trong việc hoàn thiện Đề án trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, cho phép thí điểm KTCN đối với hàng hóa XNK tại cơ quan Hải quan, Cục trưởng Đỗ Văn Quang chia sẻ, Đề án “Thí điểm KTCN hàng hóa XNK tại cơ quan Hải quan” đưa ra giải pháp nhằm tạo thuận lợi trong thương mại hiện nay, đồng thời tạo cơ sở pháp lý để cơ quan Hải quan tham gia vào công tác KTCN, theo kịp với xu thế của hải quan các nước tiên tiến trên thế giới. Bên cạnh đó, Đề án góp phần tạo thuận lợi hơn nữa cho DN, có thể rút ngắn thời gian thông quan hàng hóa ngay tại cửa khẩu trên cơ sở có chọn lọc đối với một số mặt hàng đang là điểm “nóng” mà cộng đồng DN quan tâm, nhất là những mặt hàng có liên quan đến việc bảo vệ sản xuất trong nước và bảo vệ sức khỏe của cộng đồng.

Theo định hướng đó, trước mắt Cục Kiểm định Hải quan sẽ tham gia kiểm tra chất lượng đối với mặt hàng phân bón và kiểm tra vệ sinh an toàn thực phẩm (xác định độc tố kim loại nặng, các chỉ tiêu vi sinh…) đối với một số nhóm mặt hàng nông sản tại các cửa khẩu trọng điểm. Cụ thể ở khu vực biên giới phía Bắc dự kiến tham gia kiểm tra tại các cửa khẩu ở Lạng Sơn, cửa khẩu Lào Cai; khu vực miền Nam triển khai tại cửa khẩu cảng ở TP. Hồ Chí Minh.

Ông Đỗ Văn Quang nhấn mạnh, khi được giao thí điểm thực hiện KTCN tại cơ quan Hải quan ngoài việc khẳng định vai trò của phòng thí nghiệm hải quan hiện đại còn thúc đẩy các tổ chức kiểm nghiệm, thực hiện công khai, minh bạch trong công tác KTCN, góp phần tích cực, đẩy mạnh việc cải cách công tác KTCN. Bên cạnh đó, Đề án sẽ là tiền đề tạo cơ chế phối hợp trong công tác KTCN của cơ quan Hải quan và các cơ quan của các bộ quản lý chuyên ngành, tạo thuận lợi trong việc hiện đại hóa thủ tục hành chính.

Việc thí điểm KTCN tại cơ quan Hải quan trên cơ sở áp dụng quản lý rủi ro về KTCN đối với hàng hoá XNK, tương lai công tác này sẽ được xã hội hóa và cơ quan Hải quan chỉ thực hiện việc kiểm tra lại kết quả KTCN theo rủi ro nhằm phục vụ tốt nhất nhiệm vụ quản lý nhà nước về hải quan trong thông quan hàng hóa. Với những lợi thế nêu trên, nếu được giao lực lượng kiểm định hải quan cùng tham gia công tác KTCN hàng hóa XNK sẽ đảm bảo mục tiêu cải cách thủ tục hành chính, tập trung kiểm tra tại chỗ, rút ngắn được thời gian thông quan, giảm thiểu chi phí và tạo thuận lợi thương mại, ông Đỗ Văn Quang quả quyết.

Nguồn:baohaiquan

Kiểm tra chuyên ngành: Doanh nghiệp mất hàng chục tỷ đồng tiền lưu kho bãi

(HQ Online)- Đây là một trong những dẫn chứng mà Bộ Kế hoạch và Đầu tư (KH&ĐT) đề cập đến trong báo cáo về tình hình thực hiện Nghị quyết 19 năm 2017. Theo Bộ KH&ĐT, dù có những cải thiện song trên thực tế, tình trạng chồng chéo trong quản lý, kiểm tra chuyên ngành chậm được cải thiện, phạm vi mặt hàng phải kiểm tra chuyên ngành quá rộng và có xu hướng ngày càng tăng… gây tốn kém thời gian và tăng chi phí đáng kể cho DN.

Chồng chéo chậm được cải thiện

Đánh giá về công tác kiểm tra chuyên ngành trong báo cáo Tình hình thực hiện Nghị quyết số 19-2017/NQ-CP (ngày 6/2/2017) của Chính phủ về tiếp tục thực hiện những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia năm 2017, định hướng 2020, Bộ KH&ĐT cho biết, nhìn chung các Bộ, ngành đã nắm rõ yêu cầu về cải cách quản lý, kiểm tra chuyên ngành, một số Bộ đã có hành động cụ thể thực hiện nhiệm vụ này. Theo đó, thời gian DN thực hiện một số thủ tục kiểm tra chuyên ngành đã được rút ngắn hơn trước. Tuy nhiên, vẫn còn rất nhiều tồn tại, vướng mắc về kiểm tra chuyên ngành.

Trước hết, phạm vi mặt hàng phải kiểm tra chuyên ngành quá rộng và có xu hướng ngày càng tăng. Thực tế cho thấy Thông tư của một số Bộ có xu hướng mở rộng Danh mục hàng hóa phải kiểm tra chuyên ngành so với quy định cho phép của Luật.

Theo phản ánh của các DN, thủ tục kiểm dịch động vật được cho là còn rất khó khăn, phức tạp, gây tốn kém thời gian và tăng chi phí đáng kể cho DN. Thủ tục này gồm 2 giai đoạn, thực hiện tại 2 cơ quan của Cục Thú y: Đăng ký kiểm dịch tại Cục Thú y ở Hà Nội (thời gian theo quy định là 5 ngày, thực tế dài hơn nhiều, kể cả việc kéo dài mà không thông báo lý do cho chủ hàng), khai báo và kiểm dịch tại cơ quan thú y vùng (không quy định thời gian hoàn thành).

Khi chậm cấp văn bản đồng ý kiểm dịch, cán bộ Cục Thú y thường trả lời là do quá nhiều hồ sơ mà chỉ có 1 người phụ trách đăng ký cho tất cả các DN trên cả nước. Thời gian thực hiện nhanh hay chậm, dễ hay khó hoàn toàn phụ thuộc vào cán bộ này. Tình trạng này tương tự như việc cấp văn bản đồng ý kiểm dịch tại Cục Thú y. Đây là việc nội bộ của Cục Thú y, nhưng đối tượng chịu hậu quả là DN.

Bộ KH&ĐT cũng nhận định, thời gian qua tình trạng chồng chéo trong quản lý, kiểm tra chuyên ngành chậm được cải thiện. Theo đó, quản lý, kiểm tra chuyên ngành chồng chéo giữa các Bộ (Công thương, Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Y tế, Bộ đội Biên phòng và Hải quan,…) trên các lĩnh vực vẫn chưa được cải thiện (ngoại trừ những thay đổi tích cực trong phân công trách nhiệm quản lý nhà nước về ATTP tại Dự thảo Nghị định thay thế Nghị định 38).

Cụ thể, việc kiểm định kỹ thuật an toàn lao động, huấn luyện an toàn, vệ sinh lao động và quan trắc môi trường lao động thuộc quản lý của 10 Bộ. Cũng theo phản ánh của DN, để nhập khẩu một (01) chiếc điều khiển cần trục xe nâng (1,2kg) phải làm thủ tục 8 lần tại nhiều bộ phận khác nhau của 2 Bộ Công thương và Bộ Thông tin truyền thông.

Cũng theo Bộ KH&ĐT, DN phải thực hiện thủ tục kiểm tra giám sát hàng hóa xuất nhập khẩu qua cửa khẩu biên giới đất liền như nhau với cả cơ quan Hải quan và Bộ đội biên phòng, gây tốn kém về thời gian và bức xúc cho doanh nghiệp. Ngay sau khi Nghị quyết 19-2017 được ban hành, Bộ Quốc phòng đã báo cáo ngay nội dung liên quan tới quy định bộ đội biên phòng kiểm tra, giám sát hàng hóa xuất nhập khẩu qua cửa khẩu biên giới đất liền tại Thông tư 09/2016/TT-BQP. Theo đó, Bộ Quốc phòng báo cáo đang tích cực phối hợp với các Bộ liên quan hoàn chỉnh dự thảo Thông tư sửa đổi để đảm bảo phù hợp với Luật Hải quan; đồng thời đề xuất sửa đổi Pháp lệnh Bộ đội biên phòng. Tuy vậy, đã gần 1 năm từ thời điểm Bộ Quốc phòng báo cáo, chưa có thay đổi, đề xuất nào được đưa ra và thực hiện.

Chi phí quá lớn ảnh hưởng nặng nề tới DN

Về thời gian thực hiện thủ tục quản lý, kiểm tra chuyên ngành, Bộ KH&ĐT nhấn mạnh tuy thời gian đã giảm hơn trước, nhưng vẫn còn dài, dẫn tới nhiều rủi ro cho doanh nghiệp (chi phí lưu kho bãi, phạt hành chính do chậm thông quan, lỡ cơ hội kinh doanh,…).

Đơn cử, thời gian đăng ký dán nhãn năng lượng tại Tổng cục năng lượng (Bộ Công thương) thường khoảng 3 tuần. Thông tư số 36/2016/TT-BCT sửa đổi Thông tư 07/2012/TT-BCT đã thay đổi phương thức chứng nhận cho phương tiện, thiết bị; áp dụng hình thức để doanh nghiệp tự công bố mức hiệu suất năng lượng và dán nhãn năng lượng. Mặc dù quy định cho doanh nghiệp tự công bố và dán nhãn năng lượng, nhưng trên thực tế Tổng cục năng lượng (Bộ Công thương) vẫn yêu cầu DN phải có mã công bố thì mới được dán nhãn để lưu thông sản phẩm (trước đây là số đăng ký). Như vậy, thủ tục dán nhãn năng lượng được cải cách trên văn bản, nhưng không được thực thi trên thực tế.

Điều được quan tâm nhất là chi phí thì theo Bộ KH&ĐT, chi phí kiểm tra chuyên ngành vẫn quá lớn, đặc biệt là phí kiểm tra hiệu suất năng lượng, phí kiểm dịch thú y và phí kiểm tra chất lượng thức ăn chăn nuôi nhập khẩu.

Theo đó, chi phí kiểm tra chuyên ngành quá lớn gây ảnh hưởng nặng nề tới hiệu quả hoạt động kinh doanh của DN, đi ngược với chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ về “cắt giảm chi phí cho DN.

Ví dụ, để nhập khẩu một lô hàng điện lạnh, DN phải thực hiện các loại kiểm tra như kiểm tra tương thích điện từ (16-20 triệu/mẫu sản phẩm) và chi phí không chính thức là 4 triệu/tờ kết quả; Kiểm tra hiệu suất năng lượng hết 16 triệu/mẫu sản phẩm; Kiểm tra hợp quy và dán tem CR hết 6 triệu/mẫu sản phẩm và giá trị mẫu sản phẩm bị mất (kiểm tra phá huỷ đối với sản phẩm nhập lần đầu) đồng thời chi phí không chính thức 2 -3 triệu/tờ kết quả… Như vậy, tổng cộng các chi phí để hoàn tất thủ tục kiểm tra chuyên ngành đối với một model tủ lạnh khoảng 70 triệu đồng (không bao gồm giá trị mẫu bị phá huỷ). DN tính toán nếu một lô hàng nhập khẩu chỉ gồm vài chiếc thì DN không có lãi, thậm chí lỗ.

Bộ KH&ĐT cũng nêu dẫn chứng, cơ quan kiểm dịch yêu cầu nhất thiết phải có giấy chứng nhận kiểm dịch của nước xuất khẩu hoặc có giấy này nhưng cơ quan kiểm dịch nghị ngờ, tiến hành xác minh xong mới được đăng ký kiểm dịch gây khó khăn, tăng thời gian, chi phí, nhiều trường hợp gây thiệt hại cho DN do hàng hoá bị hư hỏng. Một DN nhập khẩu mặt hàng gỗ cho biết mỗi năm DN phải chi phí hàng chục tỷ đồng (có tháng tới 2,5 tỷ) tiền lưu kho bãi vì việc yêu cầu này.

Với những hạn chế trên, để thúc đẩy mạnh mẽ việc thực hiện Nghị quyết 19 về cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, Bộ KH&ĐT kiến nghị Thủ tướng Chính phủ Yêu cầu các Bộ liên quan khẩn trương thực hiện rà soát, kiến nghị cắt giảm điều kiện đầu tư, kinh doanh thuộc lĩnh vực quản lý nhà nước của các Bộ, báo cáo Thủ tướng Chính phủ trong tháng 1/2018.

Đồng thời yêu cầu các bộ thực hiện đầy đủ và kịp thời các nhiệm vụ, giải pháp về quản lý chuyên ngành theo yêu cầu của Nghị quyết 19, hoàn thành giảm tỷ lệ hàng hóa phải kiểm tra chuyên ngành từ 30-35% xuống còn 15% trong quý 2/2018.

Nguồn:baohaiquan

Kiểm tra chuyên ngành: Văn bản mới mâu thuẫn, trái với quy định hiện hành

(HQ Online)- Theo Bộ kế hoạch và Đầu tư, còn nhiều tồn tại, vướng mắc về thủ tục hải quan và quản lý, kiểm tra chuyên ngành, trong đó, số lượng văn bản điều chỉnh hoạt động quản lý, kiểm tra chuyên ngành được ghi nhận là vẫn còn nhiều.

 

Báo cáo của Bộ Kế hoạch và Đầu tư về Tình hình thực hiện Nghị quyết số 19-2017/NQ-CP ngày 6/2/2017 của Chính phủ về tiếp tục thực hiện những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia năm 2017, định hướng 2020 cho biết, theo kết quả rà soát đến ngày 22/12/2017, trong năm 2017 có 29 văn bản pháp quy được ban hành điều chỉnh hoạt động quản lý chuyên ngành đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu.

Trong đó, một số quy định đã tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho DN, nhưng có văn bản gây trở ngại hơn cho DN. Thậm chí, có quy định ở văn bản mới ra còn mâu thuẫn và trái với các quy định của pháp luật hiện hành.

Theo thống kê của cơ quan Hải quan (đến tháng 4/2017) có 414 văn bản quy phạm pháp luật về quản lý và kiểm tra chuyên ngành (gồm: 30 Luật; 97 Nghị định, Nghị quyết, Quyết định của Thủ tướng Chính phủ; 287 Thông tư, Thông tư liên tịch, Quyết định của Bộ, cơ quan ngang Bộ). Nếu tính thêm số văn bản ban hành sau tháng 4/2017 thì số lượng văn bản về quản lý và kiểm tra chuyên ngành khoảng 430 văn bản.

Có thể thấy số lượng văn bản về quản lý chuyên ngành đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu ngày càng tăng, gây khó khăn cho DN và cơ quan Hải quan trong việc theo dõi, cập nhật và áp dụng. Thậm chí, có quy định còn mâu thuẫn, quản lý chồng chéo.

Bên cạnh đó, tỷ lệ các lô hàng XK phải kiểm tra chuyên ngành tại giai đoạn thông quan vẫn chưa giảm (ở mức 30-35%), trong khi mục tiêu của Nghị quyết 19 đặt ra là giảm xuống còn 15% đến 2017.

Theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư, mặc dù đã có một số chuyển biến trong quản lý, kiểm tra chuyên ngành, nhưng cải cách còn ít và chậm. Nghị quyết 19 (của các năm 2015, 2016, và 2017) đã nêu rõ các tiêu chí cải cách quản lý chuyên ngành (như áp dụng quản lý trên cơ sở đánh giá rủi ro, mức độ tuân thủ pháp luật của doanh nghiệp; chuyển từ giai đoạn thông quan sang giai đoạn sau thông quan; minh bạch về danh mục hàng hóa kiểm tra chuyên ngành; điện tử hóa thủ tục; áp dụng thông lệ quốc tế), nhưng nhìn chung đa số các Bộ quản lý chuyên ngành chưa chú trọng cải cách toàn diện các nội dung này.

Nguồn:baohaiquan

Đo thời gian giải phóng hàng: Kiểm tra chuyên ngành vẫn là trở ngại

(HQ Online)- Năm 2017, cuộc đo thời gian giải phóng hàng đã được triển khai tại toàn bộ các chi cục hải quan trực thuộc cục hải quan tỉnh, thành phố trên cả nước; đối với tất cả các loại hình hàng hóa XK, NK được thực hiện thủ tục hải quan điện tử.

Các đơn vị đã tiến hành thu thập dữ liệu đối với 100% các tờ khai hải quan thực hiện đăng ký chính thức trong vòng 6 ngày làm việc liên tục và được theo dõi cho đến khi hàng hóa được thông quan.

Xác định khâu hạn chế

Theo ông Kim Long Biên-Phó Trưởng Ban Cải cách hiện đại hóa hải quan (Tổng cục Hải quan), kết quả đo thời gian trung bình giải phóng hàng là căn cứ để ngành Hải quan triển khai một loạt giải pháp nhằm giảm thời gian thông quan như: Đẩy mạnh ứng dụng CNTT trong thực hiện thủ tục hải quan (triển khai hệ thống VNACCS/VCIS, thực hiện e-manifest, e-payment…); Tăng cường triển khai và thực hiện kết nối hiệu quả Cơ chế một cửa quốc gia, Cơ chế một cửa ASEAN; Nâng cao hiệu quả, giảm thời gian của hoạt động kiểm tra chuyên ngành đối với hàng xuất, nhập khẩu; Đề xuất xây dựng, sửa đổi quy định pháp luật hải quan, pháp luật có liên quan nhằm đơn giản, hài hóa hóa các quy trình thủ tục XNK; Cải tổ cơ cấu, phân bổ nguồn lực để có thể sử dụng một cách tối ưu; Triển khai các biện pháp đảm bảo Liêm chính Hải quan, cải thiện sự minh bạch trong hoạt động hải quan; Giải quyết những khó khăn với doanh nghiệp và các cơ quan hữu quan khác tham gia vào quá trình thông quan…

Theo đánh giá của nhiều đơn vị Hải quan, thông qua cuộc đo thời gian giải phóng hàng để có giải pháp khắc phục thời gian thông quan, đảm bảo hàng hóa thông quan nhanh chóng, thuận lợi cho hoạt động XNK.

Theo Cục Hải quan Đồng Nai, đo thời gian giải phóng hàng XNK nhằm đánh giá hoạt động của cơ quan Hải quan trong quy trình XNK hàng hóa nhằm công khai, minh bạch các thủ tục hành chính, quy trình thủ tục hải quan. Qua đó, xác định thời gian xử lý công việc thuộc trách nhiệm của cơ quan Hải quan trong quy trình thủ tục đối với hàng hóa XK, NK, phục vụ cho công tác đánh giá hiệu quả, giám sát, quản lý hoạt động đơn vị của các cấp lãnh đạo. Phát hiện những bất cập trong từng khâu nghiệp vụ để xem xét, đề xuất các giải pháp khắc phục. Đồng thời, xác định thời gian tác nghiệp của các cơ quan kiểm tra chuyên ngành có liên quan phát sinh trong khoảng thời gian từ khi đăng kí tờ khai hải quan đến khi thông quan lô hàng.

Kiểm tra chuyên ngành – yếu tố tác động chủ yếu

Theo đánh giá của Cục Hải quan Đà Nẵng, có nhiều yếu tố tác động đến thời gian giải phóng hàng. Đối với lô hàng đưa về bảo quản, thời gian kéo dài do phụ thuộc vào cơ quan kiểm tra chuyên ngành và thời gian DN nộp kết quả kiểm tra chuyên ngành; thời gian DN làm thủ tục dịch chuyển, nâng hạ container chứa hàng hóa và xuất trình hồ sơ, hàng hóa để cơ quan Hải quan kiểm tra. Chẳng hạn, đối với hàng NK tại Cục Hải quan Đà Nẵng, thời gian thông quan đối với hàng đưa về bảo quản là hơn 18 ngày. Kết quả này phụ thuộc chủ yếu vào thời gian cơ quan kiểm tra chuyên ngành cấp giấy chứng nhận/thông báo kết quả kiểm tra và thời gian DN xuất trình giấy chứng nhận/thông báo kết quả kiểm tra cho cơ quan Hải quan để thông quan. Nếu như so với kết quả đo thu được ở lần trước thì thời gian thông quan đối với hàng đưa về bảo quản chậm hơn (hơn 8 ngày).

Cục Hải quan Đà Nẵng cho rằng, dù việc triển khai Hệ thống một cửa quốc gia về kiểm tra chuyên ngành rất thuận lợi, nhanh chóng để tra cứu giấy phép, giấy chứng nhận kết quả kiểm tra chuyên ngành, tuy nhiên hệ thống vẫn còn bất cập. Trong đó, nguyên nhân một phần là hệ thống kết nối thông tin. Hiện nay hệ thống mới kết nối các cơ quan quản lý chuyên ngành thuộc các bộ, nhưng chưa triển khai đến các tổ chức giám định chuyên ngành. Trong khi đó phần lớn các tờ khai phải kiểm tra chuyên ngành thuộc tuần đo được thực hiện bởi tổ chức giám định chuyên ngành, tổ chức giám định chưa tham gia hệ thống một cửa quốc gia. Do đó, việc đăng kí và trả kết quả bằng phương thức thủ công làm ảnh hưởng đến thời gian nộp kết quả kiểm tra của DN.

Tại Cục Hải quan Quảng Ninh, một trong những nguyên nhân tác động đến thời gian giải phóng hàng là chính sách quản lý XNK. Đối với hàng NK thuộc diện có điều kiện (kiểm tra nhà nước về chất lượng, kiểm dịch, kiểm tra, vệ sinh an toàn thực phẩm…) theo quy định của các bộ, ngành chức năng còn nhiều, một số mặt hàng phải lấy mẫu đi kiểm tra chất lượng tại Hà Nội hoặc Hải Phòng, yếu tố này ảnh hưởng lớn đến thời gian thông quan hàng. Mặc dù đã triển khai hai trung tâm kiểm tra chuyên ngành tại Cái Lân và Móng Cái, nhưng tác dụng còn hạn chế, việc phân tích, kiểm tra vẫn phải tiến hành tại trụ sở các cơ quan kiểm tra chuyên ngành nơi có phòng thí nghiệm với máy móc đầy đủ.

Về phía góc độ hải quan, một số yếu tố gây chậm trễ từ quy trình thủ tục như: Đối với một số lô hàng XK, NK thường phải dành một khoảng thời gian để hướng dẫn cho một số DN về bổ sung chứng từ hoặc sửa đổi các lỗi khi khai báo; hướng dẫn về các quy định của các bộ, ngành liên quan đến hàng hóa làm thủ tục…

Để khắc phục những hạn chế, Cục Hải quan Đà Nẵng đề xuất giải pháp xử lý nguyên nhân gây chậm trễ là đẩy nhanh tiến độ thực hiện trên Cổng thông tin một cửa quốc gia đối với hàng kiểm tra chuyên ngành đến tất cả các bộ, ngành và các tổ chức thực hiện kiểm tra chuyên ngành được chỉ định; đồng thời về phía cơ quan Hải quan cần nâng cấp hệ thống, đường truyền dữ liệu giữa cơ quan Hải quan, ngân hàng và Kho bạc.

Tương tự Cục Hải quan Đồng Nai cho rằng để rút ngắn thời gian thông quan đối với hàng mang về bảo quản, cần kiến nghị các cơ quan kiểm tra chuyên ngành sớm có kết quả kiểm tra để cơ quan Hải quan giải quyết thông quan cho hàng hóa của DN.

Hiện tại kết quả đo thời gian giải phóng hàng hóa của các cục hải quan tỉnh, thành phố đang được Tổng cục Hải quan tổng hợp, phân tích, đánh giá qua đó xác định thời gian trung bình giải phóng hàng. Đây cũng là một trong những căn cứ khoa học để đề xuất hoạch định chính sách, thực thi pháp luật nhằm rút ngắn thời gian thông quan hàng hóa XNK.

Nguồn:baohaiquan

VCCI: Tồn tại 5 vấn đề nổi cộm trong kiểm tra chuyên ngành

(HQ Online)- Dù những bất cập về kiểm tra chuyên ngành đối với hàng hóa XNK đang được các cấp, các ngành rốt ráo tháo gỡ, tuy nhiên, về tổng thể vẫn tồn tại khá nhiều vấn đề như: Kiểm tra toàn bộ lô hàng; tiền kiểm là chủ yếu; thủ tục, hồ sơ kiểm tra chuyên ngành bất hợp lý; một loại hàng hóa phải chịu cùng lúc nhiều quy trình quản lý chuyên ngành…

5 vấn đề nổi cộm

Trong báo cáo khảo sát DN được VCCI công bố tháng 4/2017, 93% DN được khảo sát cho biết các quy định về kiểm tra chuyên ngành quá nhiều, nằm ở nhiều văn bản khác nhau, nên rất khó cho DN nắm bắt thông tin và tuân thủ; 89% DN cho rằng nhiều quy định không phù hợp thực tế; 82% DN nhận thấy việc phối hợp giữa các cơ quan chưa tốt; 81% DN cho rằng thời gian kiểm tra theo quy định quá dài; 72% DN cho biết việc chia sẻ thông tin kết quả giữa các cơ quan là chưa tốt; 68% DN phản ánh thời gian kiểm tra bị kéo dài so với quy định.

Theo thống kê của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), hiện có khoảng 300 văn bản (bao gồm các văn bản pháp luật và trong một số trường hợp còn có cả các văn bản khác như: Công văn, hướng dẫn, thông báo…) có quy định về vấn đề kiểm tra chuyên ngành, được soạn thảo, ban hành và/hoặc thực thi bởi ít nhất 10 bộ chuyên ngành.

VCCI cho rằng, có 5 vấn đề nổi cộm trong quy định về quản lý chuyên ngành. Thứ nhất là việc kiểm tra toàn bộ các lô hàng. Vấn đề này tồn tại trong tất cả các lĩnh vực quản lý chuyên ngành, việc kiểm tra chuyên ngành được thực hiện với 100% lô hàng, không phân biệt thời điểm NK, chủ thể NK, model hàng hóa đó đã từng kiểm tra hay chưa. Bất cập này là nguyên nhân cơ bản dẫn tới thời gian giải phóng hàng bị kéo dài, chi phí lớn… Việc kiểm tra tất cả các lô hàng còn áp dụng ở hàng mẫu, dù là sản phẩm công nghệ tiên tiến trên thế giới, chưa xuất hiện trên thị trường. Đối với một số sản phẩm công nghệ mới, hiện không có quy chuẩn để đối chiếu nhưng khi NK vẫn phải làm thủ tục đăng ký hợp chuẩn hợp quy theo quy định của Bộ Thông tin và Truyền thông.

Thứ hai là vấn đề tiền kiểm cũng là một trong những bất cập trong quản lý chuyên ngành. Hiện tại, trong tất cả các lĩnh vực quản lý chuyên ngành, việc kiểm tra chuyên ngành phần lớn được thực hiện trước khi thông quan (tiền kiểm). Việc tiền kiểm tất cả các loại hàng hóa là nguyên nhân dẫn tới tình trạng dồn ứ hàng tại cảng, quá tải của cơ quan kiểm tra chuyên ngành, làm mất chi phí lưu kho bãi, chậm giải phóng hàng…

Thứ ba là thủ tục, hồ sơ kiểm tra chuyên ngành hiện nay còn bất hợp lý. VCCI nêu lên thực tế số lượng giấy tờ phải nộp, xuất trình khi xin giấy phép và làm thủ tục kiểm tra chuyên ngành vẫn còn rất lớn, đặc biệt trong đó bao gồm cả những loại giấy tờ không chứa đựng thông tin về chất lượng hàng hóa như: B/L, invoice, packing list… Đồng thời, vẫn tồn tại phổ biến tình trạng yêu cầu công chứng, chứng thực giấy tờ, nhất là những loại giấy tờ không thể công chứng, chứng thực được như các chứng từ thương mại giao dịch bằng điện tử, không có chữ ký, con dấu sống.

Thứ tư là một loại hàng hóa phải chịu cùng lúc nhiều quy trình quản lý chuyên ngành. Sự chồng chéo trong các quy định giữa các bộ dẫn đến một mặt hàng bị điều chỉnh bởi nhiều văn bản, thực hiện nhiều thủ tục kiểm tra.

Chẳng hạn, Bộ Công Thương và Bộ Giao thông vận tải cùng kiểm tra với mặt hàng cần cẩu tự hành, cần trục, cẩu trục, cổng trục, xe nâng; Bộ Công Thương và Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội cùng kiểm tra chuyên ngành đối với hệ thống điều chế và nạp khí, các mặt hàng khí hóa lỏng, khí hòa tan, bình chịu áp lực áp suất cao hơn 0,7 bar, nồi hơi, tời. Hay, Bộ Lao động Thương binh và Xã hội và Bộ Công an cũng quản lý mặt hàng bình chữa cháy. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và Bộ Y tế cùng quản lý mặt hàng tinh bột, sữa tươi (kiểm dịch thực vật thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, kiểm tra an toàn thực phẩm thuộc Bộ Y tế)…

Đáng lưu ý, giữa các đơn vị thuộc cùng một bộ cũng xảy ra tình trạng cùng quản lý một mặt hàng như: Mặt hàng thủy sản XK vừa phải kiểm dịch động vật (do cơ quan thú y thực hiện), vừa phải kiểm tra chất lượng (do trung tâm kiểm tra chất lượng thực hiện).

Thứ năm là sự độc quyền trong hoạt động kiểm tra, đánh giá sự phù hợp. Theo quy định hiện nay thì bộ quản lý chuyên ngành không thực hiện trực tiếp việc kiểm tra chất lượng hàng hóa mà chỉ xác nhận kết quả kiểm tra của tổ chức chuyên môn được chỉ định. Các luật có liên quan giao quyền chỉ định tổ chức kiểm tra, đánh giá sự phù hợp cho bộ quản lý chuyên ngành. Điều này dẫn tới tình trạng “độc quyền” của các tổ chức được chỉ định. Ví dụ, đối với việc kiểm tra chất lượng máy móc nông nghiệp (máy cày, máy kéo…) NK, Cục Chế biến nông, lâm, thuỷ sản và nghề muối (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn) chỉ định duy nhất một đơn vị kiểm tra ở Hà Nội. Đều này gây nhiều khó khăn, tăng chi phí cho DN NK ở nơi khác, nhất là các tỉnh miền Trung, miền Nam.

Cần áp dụng quản lý rủi ro như Hải quan

Trước những tồn tại trong công tác quản lý chuyên ngành hiện nay, VCCI đã nêu lên các giải pháp. Theo đó, phương án tốt nhất đối với vấn đề kiểm tra toàn bộ lô hàng là bộ quản lý chuyên ngành chỉ quy định về điều kiện và tiêu chuẩn kiểm tra; thủ tục kiểm tra chuyên ngành sẽ do cơ quan Hải quan thống nhất thực hiện. Cơ quan Hải quan sẽ sử dụng hệ thống quản lý rủi ro để thực hiện việc kiểm tra. Kết quả kiểm tra đối với một model có giá trị áp dụng cho các lô hàng cùng model NK sau đó. Một phương án khác được VCCI đưa ra là các cơ quan kiểm tra chuyên ngành học tập cơ chế quản lý rủi ro đang được cơ quan Hải quan áp dụng.

Đối với vấn đề tiền kiểm, các bộ cần phân loại hàng hóa để chuyển việc kiểm tra chuyên ngành một số loại hàng hóa từ tiền kiểm sang hậu kiểm. Ví dụ: Hàng hóa là máy móc thiết bị, phương tiện giao thông vận tải… đã có chứng nhận tiêu chuẩn kỹ thuật; hàng hóa là thực phẩm đóng hộp, thực phẩm khác đã có chứng nhận tiêu chuẩn vệ sinh của nước XK…

Đối với bất hợp lý trong thủ tục, hồ sơ kiểm tra chuyên ngành, cũng giống như vấn đề kiểm tra toàn bộ lô hàng, VCCI cho rằng, phương án tốt nhất là các bộ quản lý chuyên ngành chỉ quy định về điều kiện và tiêu chuẩn kiểm tra, thủ tục kiểm tra sẽ do cơ quan Hải quan thống nhất thực hiện. Phương án này sẽ không gây ra tình trạng trùng lặp về giấy tờ, hồ sơ; xử lý được tình trạng cùng một hàng hóa bị kiểm tra bởi nhiều cơ quan quản lý chuyên ngành; tiết kiệm thời gian, nhân lực, chi phí…

Tương tự về sự chồng chéo trong kiểm tra chuyên ngành, VCCI cho rằng tốt nhất là các bộ quản lý chuyên ngành chỉ quy định về điều kiện và tiêu chuẩn kiểm tra, thủ tục kiểm tra chuyên ngành sẽ do cơ quan Hải quan thống nhất thực hiện. Phương án khác là các bộ thống nhất về việc kiểm tra chuyên ngành cùng loại hàng hóa.

Về sự độc quyền trong hoạt động kiểm tra, đánh giá sự phù hợp, VCCI cho rằng cần sửa đổi quy định liên quan trong Luật Chất lượng sản phẩm và các văn bản hướng dẫn thi hành trong lĩnh vực chuyên ngành theo hướng bỏ quy định chỉ định tổ chức đánh giá/chứng nhận sự phù hợp, theo đó tất cả ác tổ chức chứng nhận sự phù hợp đã được cấp phép đều có thể thực hiện việc kiểm tra.

Nguồn:baohaiquan