Quảng Trị: Hàng nhập khẩu phải kiểm tra chuyên ngành chiếm 65%

(HQ Online)- Đến hết tháng 9, Hải quan Quảng Trị đã làm thủ tục cho 2.278 tờ khai xuất nhập khẩu phải kiểm tra chuyên ngành (KTCN).

Trong đó có 1.753 tờ khai nhập khẩu, chiếm 65% tổng số tờ khai nhập khẩu; 525 tờ khai xuất khẩu, chiếm 12,5% tổng số tờ khai xuất khẩu.

Thống kê từ Cục Hải quan Quảng Trị cho thấy, các mặt hàng nhập khẩu phải KTCN khá đa dạng gồm: nhiên liệu (xăng, dầu); nguyên liệu sản xuất xuất khẩu (abumin trứng); sản phẩm động, thực vật (trâu bò sống, trái cây, lúa gạo, cà phê, hạt điều…); nước tăng lực, máy quạt, tủ lạnh, sắt thép, giấy phế liệu, gỗ, than đá…

Hàng xuất khẩu phải KTCN gồm có dăm gỗ, cát trắng, cát nhiễm mặn, Itmenit, gỗ có nguồn gốc nhập khẩu.

Để nâng cao hiệu quả công tác này, thời gian qua, Hải quan Quảng Trị thực hiện nghiêm túc các quy định, văn bản chỉ đạo của Tổng cục Hải quan về quản lý, KTCN; chú trọng công tác quản lý kiểm tra, cập nhật thông tin về các mặt hàng thuộc diện KTCN theo đúng quy định.

Đồng thời, chỉ đạo các chi cục hải quan cửa khẩu tổ chức kiểm tra việc chấp hành của doanh nghiệp, chú ý công tác thu thập thông tin kiểm tra theo quản lý rủi ro.

Các mặt hàng thuộc diện KTCN ngay tại cửa khẩu như kiểm dịch thực vật, kiểm dịch động vật đã rút ngắn thời gian thông quan hàng hóa, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động thương mại của doanh nghiệp.

Bên cạnh đó, đơn vị cũng phối hợp chặt chẽ với cơ quan quản lý chuyên ngành nhằm kịp thời trao đổi thông tin, giải quyết những vướng mắc của doanh nghiệp trong quá trình thực hiện thủ tục hải quan; tạo thuận lợi trong quá trình thông quan, tạm giải phóng hàng hóa, mang về kho bảo quản chờ kết quả kiểm tra.

Bố trí cán bộ, trang bị cơ sở vật chất để phối hợp kiểm tra chất lượng, vệ sinh an toàn thực phẩm đối với hàng hóa thuộc danh mục KTCN trong thông quan trên cơ sở thông tin đánh giá mức độ rủi ro và năng lực của cơ quan Hải quan.

Nguồn:baohaiquan

Gần 12 năm nợ kết quả kiểm tra chuyên ngành

(HQ Online)- Theo quy định, sau khi được cho mang hàng về bảo quản, doanh nghiệp (DN) phải nộp kết quả cho cơ quan Hải quan, nhưng nhiều trường hợp quá hạn 30 ngày, thậm chí hơn 10 năm vẫn chưa nộp.

Hơn 10 năm vẫn nợ kết quả

Theo Cục Hải quan TP.HCM, mặc dù cơ quan Hải quan và các đơn vị kiểm tra chuyên ngành đã tạo nhiều thuận lợi cho DN trong việc thực hiện kiểm tra chuyên ngành đối với hàng hóa XNK, tuy nhiên, đã có một số DN lợi dụng việc cho mang hàng về bảo quản, đã chây ỳ không nộp kết quả kiểm tra cho cơ quan Hải quan. Một số trường hợp còn tự ý đưa hàng ra thị trường tiêu thụ khi chưa có kết quả kiểm tra chuyên ngành.

Số liệu thống kê của Cục Hải quan TP.HCM cho thấy, hiện có 207 doanh nghiệp nợ kết quả kiểm tra chuyên ngành đối với hàng hóa nhập khẩu cho mang về bảo quản, chờ kết quả kiểm tra chuyên ngành. Đáng chú ý, theo tìm hiểu của chúng tôi, trong số doanh nghiệp nợ kết quả kiểm tra chuyên ngành có nhiều trường hợp nợ chứng từ này từ năm 2006, 2007, khiến cơ quan Hải quan phải ròng rã theo dõi, quản lý. Chẳng hạn, như trường hợp của Công ty TNHH SX TM DV Ngân Hải (MST 0303626692) được Chi cục Hải quan cửa khẩu cảng Sài Gòn khu vực III giải quyết cho mang hàng về bảo quản theo quy định từ năm 2006, nhưng đến nay đã gần 12 năm, công ty này vẫn còn nợ kết quả kiểm tra chuyên ngành của 6 lô hàng nhập khẩu.

Nhiều DN, như Công ty CP Liêu Việt, Công ty TNHH TMDV Song Chi, Công ty TNHH MTV Khang Lạc… nợ kết quả kiểm tra chuyên ngành sau khi được mang hàng về bảo quản từ năm 2010, nhưng đến nay vẫn chưa nộp kết quả kiểm tra chuyên ngành cho cơ quan Hải quan. Các trường hợp này, ngoài việc không được giải quyết cho mang hàng về bảo quản, Cục Hải quan TP.HCM còn thông báo danh sách các DN vi phạm trên đến các đơn vị Hải quan địa phương trong cả nước để phối hợp không cho mang hàng về bảo quản.

Bỏ trốn khỏi địa chỉ đăng ký kinh doanh

Không chỉ chây ỳ nộp kết quả kiểm tra chuyên ngành, một số DN còn bỏ trốn khỏi địa chỉ đăng kinh doanh sau khi được giải quyết mang hàng nhập khẩu về bảo quản.

Theo tìm hiểu của chúng tôi, trong số các DN nợ kết quả kiểm tra chuyên ngành có 5 DN lợi dụng quy định được mang hàng về bảo quản chờ kết quả kiểm tra chuyên ngành đã tự ý đưa hàng ra thị trường tiêu thụ, bỏ trốn khỏi địa chỉ đăng ký kinh doanh. Đối với những DN này, các chi cục hải quan đã cử công chức tới cơ quan quản lý địa phương xác minh, phát hiện DN đã bỏ trốn, mất tích, không còn hoạt động tại địa chỉ đăng ký kinh doanh và hàng hóa cũng không còn tại địa chỉ mang hàng về bảo quản.

Trường hợp của Công ty CP Sản xuất Thương mại XNK thực phẩm Á Châu (đường Lê Đức Thọ, phường 6, quận Gò Vấp TP.HCM) là một điển hình. Tháng 7/2014, DN này nhập khẩu lô hàng hơn 6,6 tấn kẹo bạc hà qua cảng Cát Lái- thuộc diện hàng nhập khẩu phải kiểm tra an toàn thực phẩm. Sau khi được cơ quan Hải quan giải quyết cho mang hàng về bảo quản theo quy định, nhưng sau đó DN không nộp kết quả kiểm tra vệ sinh an toàn thực phẩm cho cơ quan Hải quan để hoàn tất hồ sơ, thông quan lô hàng. Xác minh, kiểm tra tại địa chỉ đăng ký kinh doanh của DN, cơ quan Hải quan phát hiện DN không còn hoạt động tại địa chỉ này, cơ quan Thuế địa phương cũng xác nhận DN ngưng hoạt động, nhưng chưa làm thủ tục đóng mã số thuế. Đầu năm 2018, Chi cục Hải quan cửa khẩu cảng Sài Gòn khu vực I đã chuyển hồ sơ vụ việc này cho cơ quan Công an quận 2- TP.HCM để hỗ trợ điều tra, làm rõ.

Tương tự, tháng 2/2015, Công ty CP Đầu tư Dịch vụ Sài Gòn (MST 0312275747001) nhập khẩu lô hàng gồm hơn 1,8 tấn bột nền làm kem qua cảng Cát Lái. DN này được Chi cục Hải quan cửa khẩu cảng Sài Gòn khu vực I giải quyết cho mang hàng về bảo quản theo đề xuất của cơ quan kiểm tra chuyên ngành, chờ kết quả kiểm tra theo quy định. Tuy nhiên, quá thời hạn quy định, DN không nộp kết quả kiểm tra chuyên ngành, xác minh tại địa chỉ đăng ký kinh doanh của DN và cơ quan Thuế địa phương cho thấy, DN không còn hoạt động tại địa chỉ đăng ký kinh doanh, đồng thời cơ quan Thuế cũng cung cấp công văn DN đã giải thể. Hay trường hợp của Công ty TNHH Tư vấn –DV-TM Quốc Việt, nợ kết quả kiểm tra chuyên ngành của 2 lô hàng nhập khẩu từ tháng 9/2014. Hiện nay, cơ quan Hải quan đã xác định doanh nghiệp này không còn hoạt động tại địa chỉ đăng ký kinh doanh.

Theo Chi cục Hải quan cửa khẩu cảng Sài Gòn khu vực I, đối với các trường hợp trên, sau khi xác minh, điều tra và có đầy đủ căn cứ xác định “DN không bảo quản nguyên trạng hàng hóa tại địa điểm đã đề xuất mang về bảo quản” theo đúng quy định và đã bỏ trốn, mất tích khỏi địa chỉ đăng ký kinh doanh, các chi cục hải quan đã tập hợp chứng cứ và làm công văn chuyển thông tin trao đổi với cơ quan Công an để phối hợp xử lý theo quy định của pháp luật…

Nguồn:baohaiquan

Quảng Ninh: Dưới 0,1% tờ khai kiểm tra chuyên ngành vi phạm

(HQ Online)- Tính đến đầu tháng 9, Hải quan Quảng Ninh đã phát hiện, xử lý 6 tờ khai vi phạm về kiểm tra chuyên ngành, tức là chiếm 0,075% tờ khai phải kiểm tra chuyên ngành (7.955 tờ khai).

Qua thống kê của Hải quan Quảng Ninh, các tờ khai trên vi phạm về thời gian nộp kết quả kiểm tra chuyên ngành; bảo quản hàng hóa chờ hoàn thành việc thông quan; hàng hóa không đủ điều kiện nhập khẩu.

Điển hình là trong tháng 8, Chi cục Hải quan cửa khẩu cảng Cẩm Phả (Cục Hải quan Quảng Ninh) phát hiện tờ khai nhập khẩu động cơ điện ba pha dòng điện xoay chiều không đủ điều kiện nhập khẩu, trị giá hàng hóa 320 triệu đồng. Chi cục đã tiến hành lập biên bản, đồng thời buộc tái xuất lô hàng trên.



Đến đầu tháng 9/2018, Hải quan Quảng Ninh đã làm thủ tục cho 41.472 tờ khai xuất nhập khẩu gồm 21.387 tờ khai nhập khẩu và 20.085 tờ khai xuất khẩu. Trong số này có 7.955 tờ khai xuất nhập khẩu phải kiểm tra chuyên ngành, chiếm 19,18% tổng số tờ khai .

Cụ thể, hàng hóa nhập khẩu có 7.641 tờ khai kiểm tra chuyên ngành gồm: 3.064 tờ khai kiểm dịch; 735 tờ khai kiểm tra an toàn thực phẩm; 1.434 tờ khai kiểm tra chất lượng; 1.204 tờ khai quản lý chuyên ngành; 294 tờ khai có giấy phép; 656 tờ khai phải có giấy chứng nhận đủ điều kiện…

Đối với hàng hóa xuất khẩu có 314 tờ khai phải kiểm tra chuyên ngành gồm 100 tờ khai kiểm tra an toàn thực phẩm; 94 tờ khai quản lý chuyên ngành; 24 tờ khai kiểm dịch…

Nguồn:baohaiquan

Kiểm tra chuyên ngành vẫn chưa thực sự tạo thuận lợi cho doanh nghiệp

(HQ Online)- Đẩy mạnh cải cách công tác quản lý, kiểm tra chuyên ngành ( KTCN) đối với hàng hóa XK, NK là vấn đề được Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo quyết liệt trong những năm qua. Xung quanh vấn đề này, phóng viên Báo Hải quan phỏng vấn ông Ngô Minh Hải, Phó Cục trưởng Cục Giám sát quản lý về hải quan (Tổng cục Hải quan).

Qua công tác quản lý của cơ quan Hải quan, ông đánh giá như thế nào về kết quả cải cách quản lý, KTCN đối với hàng hóa XK, NK trong thời gian qua?

– Trên thực tế trong công tác quản lý, KTCN thời gian qua vẫn còn những điểm chưa thực sự tạo thuận lợi cho hoạt động XK, NK. Chính vì vậy liên tiếp trong các năm từ 2014 đến 2018, Chính phủ đã có các Nghị quyết 19/NQ-CP về các nhiệm vụ và giải pháp để cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, trong đó có các nội dung chỉ đạo về cải cách về quản lý, KTCN. Thời gian qua, các bộ đã chủ động, tích cực trong việc cải cách công tác liên quan KTCN, tuy nhiên, trên thực tế phải nhìn nhận KTCN vẫn chưa thực sự tạo thuận lợi, vẫn là lực cản trong hoạt động XNK, liên quan đến cải thiện chỉ số giao dịch qua biên giới.

Thứ nhất, văn bản quy định liên quan đến quản lý, KTCN hiện nay cơ quan Hải quan đang thực hiện vẫn còn nhiều. Trong đó, nhiều danh mục hàng hóa ban hành (danh mục kiểm tra, giấy phép, điều kiện XK, NK) chưa có mã HS, nhiều mặt hàng chưa có tiêu chuẩn, quy chuẩn để thực hiện kiểm tra, còn sự chồng chéo trong kiểm tra.

Thứ hai, phương pháp thực hiện KTCN vẫn chủ yếu thủ công, chưa áp dụng mạnh mẽ ứng dụng CNTT trong kiểm tra, các cơ quan, đơn vị KTCN vẫn kiểm tra theo lô hàng, kiểm tra đi, kiểm tra lại… ảnh hưởng kéo dài thời gian thông quan.

Thứ ba, liên quan đến cơ sở vật chất, nguồn lực để thực hiện KTCN. Rất nhiều văn bản quy định thực hiện KTCN tại cửa khẩu, nhưng thực tế hầu hết ở cửa khẩu chỉ có lực lượng Hải quan, Biên phòng, Kiểm dịch, còn các lực lượng khác liên quan đến quản lý, KTCN hầu như không có ở cửa khẩu, thực hiện việc kiểm tra chủ yếu thực hiện sâu trong nội địa. Và thời gian kiểm tra vẫn trong khâu thông quan.

Thứ tư, về phía DN, không ít DN chưa nắm rõ các quy định, yêu cầu về quản lý và KTCN dẫn đến bị động trong thực hiện các quy định. Một số ít DN đã lợi dụng các quy định chưa chặt chẽ trong hoạt động KTCN để thực hiện không đúng quy định.

Thứ năm, việc phối hợp cung cấp thông tin giữa các cơ quan có liên quan đến KTCN trong thời gian qua còn hạn chế, đặc biệt là việc trao đổi giữa các cơ quan có liên quan đến KTCN và giữa các đơn vị kiểm tra với cơ quan Hải quan.

Đấy là những nguyên nhân dẫn đến công tác KTCN mặc dù có chuyển biến nhất định nhưng vẫn chưa thực sự tạo thuận lợi cho DN.

Theo ông, để thực hiện đúng tiến độ Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đề ra là giảm tỉ lệ KTCN xuống 10%, các bộ, ngành cần thực hiện các giải pháp gì?

– Để thực hiện mục tiêu của Chính phủ đặt ra trong Nghị quyết 19/NQ-CP năm 2018, tôi cho rằng các bộ cần tiếp tục rà soát, bổ sung những văn bản liên quan đến quản lý, KTCN.

Cách đây 3 năm Quyết định 2026/QĐ-TTg giao các bộ, ngành sửa 87 văn bản nhưng qua thống kê việc sửa đổi, bổ sung chậm so với tiến độ. Năm thứ nhất sửa đổi, bổ sung được 27%, năm thứ hai sửa đổi, bổ sung được hơn 40%, rất may đến năm 2018 các bộ, ngành đã sửa đổi, bổ sung được cơ bản, 95%. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện quản lý, KTCN, các bộ, ngành vẫn cần rà soát các văn bản, quy định rõ việc kiểm tra trước thông quan phải rõ mã số HS. Hiện nay theo thống kê của cơ quan Hải quan có 164 danh mục hàng liên quan đến quản lý, KTCN nhưng hiện vẫn còn 29 danh mục chưa có mã số.

Bên cạnh đó, trong việc sửa yêu cầu các bộ, sớm ban hành quy chuẩn, tiêu chuẩn kiểm tra. Theo thống kê mới nhất của cơ quan Hải quan, có tới 25% mặt hàng thuộc đối tượng kiểm tra chất lượng còn thiếu tiêu chuẩn, quy chuẩn kiểm tra. Ví dụ, lĩnh vực thuộc Bộ Tài nguyên và Môi trường, thực hiện Quyết định 73/2014/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ quy định danh mục phế liệu được phép NK từ nước ngoài làm nguyên liệu sản xuất, nhưng đến nay vẫn có đến 50% mặt hàng thuộc danh mục này chưa có tiêu chuẩn, quy chuẩn kiểm tra.

Để nâng cao hiệu quả hoạt động KTCN, hiện nay Bộ Tài chính cũng đang chủ trì phối hợp với các bộ, ngành có liên quan trình Chính phủ quy định thực hiện thủ tục hải quan thông qua Cơ chế một cửa quốc gia (NSW), Cơ chế một cửa ASEAN và KTCN đối với hàng hóa XNK.

Một giải pháp nữa tôi cho rằng rất quan trọng đó thay đổi phương pháp kiểm tra trên cơ sở áp dụng phương pháp quản lý rủi ro, đánh giá mức độ vi phạm, rủi ro của hàng hóa, DN để áp dụng cách thức quản lý, không nên kiểm tra toàn bộ mà kết quả kiểm tra tỉ lệ phát hiện rất thấp.

Tăng cường nguồn lực cho việc kiểm tra, đầu tư cơ sở vật chất, nguồn lực cần thiết theo địa bàn để thực hiện kiểm tra ngay tại cửa khẩu.

Tăng cường thông tin truyền thông, thời gian qua nhiều DN khi làm thủ tục XK, NK hàng hóa chưa nắm vững quy định pháp luật liên quan quản lý, KTCN nên rất lúng túng, dẫn đến kéo dài thời gian. DN chưa có bộ phận chuyên trách, chuyên sâu kiểm tra.

Bên cạnh đó, giải pháp sử dụng cơ chế bảo lãnh thông quan để tạo thuận lợi cho DN cũng cần nghiên cứu áp dụng. Giải pháp này ở một số nước tiên tiến trên thế giới đã sử dụng. Hiện nay, đã có chính sách bảo lãnh với thuế, nhưng có thể mở rộng áp dụng bảo lãnh đối với các chứng từ có liên quan đến việc tạo thuận lợi cho hoạt động NK, NK.

Xin cảm ơn ông!

Nguồn:baohaiquan

Hải quan còn nặng “vai” đầu mối thúc đẩy kiểm tra chuyên ngành

(HQ Online)- Chỉ thị 20/CT-TTg về tăng cường cải cách hoạt động kiểm tra chuyên ngành (KTCN) và cắt giảm, đơn giản hóa điều kiện kinh doanh vừa được Thủ tướng Chính phủ ký ban hành, với những yêu cầu không chậm trễ trong từng nhiệm vụ. Bộ Tài chính (Tổng cục Hải quan) tiếp tục vai trò là đầu mối, phối hợp với các bộ triển khai các nhiệm vụ.

Kết quả đạt được

Năm 2015, Bộ Tài chính (Tổng cục Hải quan) đã “định hình” được bức tranh toàn diện những hạn chế, bất cập của công tác quản lý, KTCN, kiến nghị Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định 2026/QĐ-TTg ngày 17/11/2015 về phê duyệt Đề án giải pháp nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động KTCN đối với hàng hóa XK, NK, giao các bộ, ngành thực hiện các giải pháp được nêu trong Đề án; đặc biệt là việc “điểm danh” được 87 văn bản đang gây khó khăn cho hoạt động XNK.

Để việc triển khai các giải pháp của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ được kịp thời, Bộ Tài chính (Tổng cục Hải quan) đã đưa ra kiến nghị quan trọng, đó là cần thiết phải có đơn vị theo dõi, đôn đốc việc thực hiện các chỉ đạo ở các bộ, ngành.

Cụ thể, tại Báo cáo số 43/BC-BTC ngày 12/5/2017 về tình hình và kết quả thực hiện Quyết định số 2026/QĐ-TTg và Nghị quyết 19-2016/NQ-CP về công tác KTCN đối với hàng hóa XNK, Bộ Tài chính đã kiến nghị Thủ tướng Chính phủ bổ sung nhiệm vụ cho Tổ công tác của Chính phủ theo dõi, đôn đốc tiến độ xây dựng và hoàn thiện thể chế liên quan đến việc sửa đổi, bổ sung văn bản quy phạm pháp luật về công tác quản lý và KTCN nêu tại Quyết định 2026/QĐ-TTg và các Nghị quyết 19/NQ-CP về các nhiệm vụ, giải pháp cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.

Sự “vào cuộc” của Chính phủ bằng việc lần đầu tiên Tổ công tác của Thủ tướng Chính phủ đã trực tiếp làm việc với các bộ, ngành để nắm bắt, đôn đốc việc cải cách công tác KTCN hàng hóa XNK. Cũng từ đó, Tổ công tác đã báo cáo Chính phủ những vấn đề bất cập, những thủ tục hành chính nhiêu khê, phức tạp gây khó khăn cho hoạt động sản xuất, kinh doanh của DN.

Ngoài việc kiến nghị các bộ, ngành về việc thực hiện các giải pháp cải cách thủ tục KTCN, Tổng cục Hải quan đã chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành tổ chức đợt làm việc tập trung để áp mã số HS đối với danh mục hàng hóa chuyên ngành.

Đến nay các bộ, ngành đã sửa đổi, bổ sung 80/87 văn bản (chiếm 92%) yêu cầu; nhiều danh mục hàng hóa KTCN được cắt giảm, chuyển kiểm tra sau thông quan; bãi bỏ một số quy định không còn phù hợp; hơn 60 danh mục hàng hóa thuộc diện quản lý và KTCN được áp mã số HS phù hợp với Danh mục hàng hóa XK, NK ban hành kèm theo Thông tư 65/2017/TT-BTC.

Một số văn bản nổi bật như: Thông tư số 07/2017/TT-BKHCN ngày 16/6/2017 của Bộ Khoa học và Công nghệ cắt giảm hơn 90% mặt hàng phải kiểm tra chất lượng trước khi thông quan;

Thông tư số 23/2016/TT-BCT ngày 12/10/2016 bãi bỏ Thông tư số 37/2015/TT-BCT ngày 30/10/2015 của Bộ Công Thương quy định về mức giới hạn và việc kiểm tra hàm lượng formaldehyt và amin thơm chuyển hóa từ thuốc nhuộm azo trong sản phẩm dệt may;

Thông tư số 14/2017/TT-BCT ngày 8/8/2017 của Bộ Công Thương bãi bỏ quy định cấp Giấy phép NK tự động đối với mặt hàng thép;

Thông tư số 28/2017/TT-BNNPTNT ngày 25/12/2017 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cắt giảm danh mục các mặt hàng nhóm 2 phải kiểm tra trước thông quan như máy móc, thiết bị nông nghiệp; chuyển kiểm tra sau thông quan đối với một số nhóm hàng như giống vật nuôi, giống cây trồng lâm nghiệp.

Hay như Nghị định 55/2017/NĐ-CP ngày 9/5/2017 quản lý nuôi, chế biến và XK cá tra không yêu cầu doanh nghiệp phải nộp xác nhận đáp ứng điều kiện XK cá tra cho cơ quan Hải quan khi làm thủ tục XK;

Nghị định 108/2017/NĐ-CP ngày 20/9/2017 bãi bỏ việc phải nộp Giấy chứng nhận hợp quy phân bón NK cho cơ quan Hải quan.

Ngoài ra, việc thay đổi phương thức kiểm tra cũng tác động đáng kể tới số lượng lô hàng phải KTCN trước thông quan. Như Bộ Y tế đã tham mưu trình Chính phủ ban hành Nghị định số 15/2018/NĐ-CP ngày 2/2/2018 thay thế Nghị định số 38/2012/NĐ-CP ngày 25/4/2012 quy định chi tiết thi hành một số Điều của Luật An toàn thực phẩm theo hướng tạo thuận lợi cho doanh nghiệp, quy định các phương thức kiểm tra phù hợp theo mức độ tuân thủ pháp luật của doanh nghiệp, bổ sung thêm nhiều đối tượng được miễn kiểm tra… Theo đó, cắt giảm 95% lô hàng NK phải kiểm tra nhà nước về ATTP.

Tuy đã đạt được nhiều kết quả khả quan, nhưng hoạt động KTCN vẫn còn nhiều tồn tại cần các cơ quan quản lý nhà nước vào cuộc.

Thủ tướng hối thúc tiến độ triển khai

Trước tồn tại trong công tác cải cách hoạt động KTCN và cắt giảm, đơn giản hóa điều kiện kinh doanh, cuối tuần qua, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Chỉ thị số 20/CT-TTg.

Theo đó, Thủ tướng yêu cầu trước 15/8/2018, các bộ, cơ quan ngang bộ hoàn thành việc ban hành theo thẩm quyền và trình cấp có thẩm quyền các văn bản để thực thi phương án cải cách hoạt động KTCN, cắt giảm, đơn giản hóa điều kiện kinh doanh bằng hình thức một văn bản sửa nhiều văn bản theo quy trình, thủ tục rút gọn.

Văn bản thực thi phương án cải cách hoạt động KTCN phải đáp ứng yêu cầu cắt giảm, đơn giản hóa ít nhất 50% danh mục hàng hóa, sản phẩm và thủ tục KTCN; danh mục hàng hóa, sản phẩm KTCN phải gắn mã HS; một sản phẩm, hàng hóa XK, NK chỉ do một bộ, cơ quan ngang bộ hoặc một đơn vị thuộc bộ, cơ quan ngang bộ chịu trách nhiệm quản lý; phương thức quản lý chuyển từ chủ yếu tiền kiểm sang chủ yếu hậu kiểm gắn với nguyên tắc quản lý rủi ro, đánh giá mức độ tuân thủ pháp luật của tổ chức, cá nhân; không áp dụng hình thức kiểm tra đối với từng lô hàng, trừ kiểm dịch.

Đối với Tổng cục Hải quan, với vai trò là đầu mối, phối hợp với các Bộ liên quan triển khai thực hiện Quyết định 2026/QĐ-TTg, Tổng cục Hải quan (Bộ Tài chính) tiếp tục tích cực phối hợp các bộ, ngành triển khai các giải pháp cải cách toàn diện hoạt động KTCN đối với hàng hóa XNK theo đúng mục tiêu cắt giảm thủ tục KTCN đã được Chính phủ chỉ đạo. Cụ thể rà soát để cắt giảm và đơn giản hóa Danh mục hàng hóa thuộc diện quản lý và KTCN trước khi thông quan; chỉ thực hiện quản lý và KTCN trước thông quan đối với những hàng hóa có nguy cơ rủi ro cao gây mấ́t an toàn, gây nguy hại cho sức khỏe, tính mạng con người, gây ô nhiễm môi trường, đạo đức xã hội, thuần phong mỹ tục, nguy hại cho kinh tế, cho an ninh quốc gia.

Hoàn thiện trình Chính phủ ban hành Nghị định quy định thực hiện thủ tục hành chính thông qua Cơ chế một cửa quốc gia, Cơ chế một cửa ASEAN và KTCN đối với hàng hóa xuất khẩu. Rà soát, xây dựng và hoàn thiện hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý và KTCN vừa tạo thuận lợi cho hoạt động xuất nhập khẩu, vừa đảm bảo yêu cầu quản lý của nhà nước theo đúng tiến độ.

Chủ tịch Phòng Thương mại và công nghiệp Việt Nam (VCCI) Vũ Tiến Lộc: Hoạt động KTCN còn nhiều bất cập

Qua kết quả thống kê của VCCI đối với dạnh mục hàng hóa, thủ tục hành chính KTCN đối với hàng hóa xuất NK vẫn còn những bất cập.

Thứ nhất, nhiều hoạt động KTCN còn chưa rõ ràng về các loại hàng hóa phải kiểm tra, không có danh mục hàng hóa cụ thể phải kiểm tra gây bất cập trong thực tế triển khai khi các chủ thể áp dụng, khó nhận diện hàng hóa phải được kiểm soát.

Thứ hai, các biện pháp quản lý về an toàn thực phẩm còn chưa áp dụng cơ chế quản lý mới nêu trong Nghị định 15/2018/NĐ-TTg.

Thứ ba, có sự chồng lấn thiếu rõ ràng cơ chế quản lý về an toàn thực phẩm đối với hoạt động kiểm dịch động thực vật.

Thứ tư, chưa có quy định đồng bộ trong quy trình vận hành giữa các hoạt động KTCN liên quan đến kiểm tra chất lượng hàng hóa.

Thứ năm, việc áp dụng rủi ro trong hoạt động KTCN chưa được nhiều cơ quan, tổ chức KTCN áp dụng dẫn đến tình trạng tất cả các lô hàng đều chịu kiểm tra kể cả các trường hợp rủi ro, vi phạm thấp.

Thứ sáu, công tác xã hội hóa hoạt động KTCN giao cho các tổ chức xã hội phù hợp để thực hiện KTCN mới chỉ được một số bộ, ngành triển khai như Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, Bộ Công Thương, Bộ Y tế.

Quang Hùng (ghi)

Nguồn:baohaiquan

Đưa công tác kiểm tra chuyên ngành đi vào thực chất

(HQ Online)- Cơ quan Hải quan sẽ sử dụng các trang thiết bị, phương tiện hiện đại để kiểm tra lại tính chính xác trong khai báo của chủ hàng (chủng loại, phẩm cấp, chất lượng hàng hóa). Hiện Tổng cục Hải quan đang hoàn thiện đề án trình Chính phủ cho phép cơ quan Hải quan thí điểm thực hiện kiểm tra chuyên ngành tại cửa khẩu.

Nội dung trên do Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Hải quan Nguyễn Công Bình báo cáo trong buổi làm việc giữa Tổ công tác của Thủ tướng và các bộ, ngành liên quan đến công tác kiểm tra chuyển ngành diễn ra ngày 12/7.

Theo Phó Tổng cục trưởng Nguyễn Công Bình, thời gian qua, việc xây dựng thể chế, chính sách, cắt giảm các danh mục quản lý chuyên ngành được các bộ, ngành triển khai khá tốt. Tất cả các yêu cầu cắt giảm đã được công bố công khai, có Nghị định, thông tư hướng dẫn cụ thể.

Tuy nhiên, làm thế nào để triển khai các quy định của các bộ, ngành vào thực tế? Cơ quan Hải quan phải kết nối được với kết quả của các bộ, ngành.

Trên thực tế, danh mục quản lý chuyên ngành của các bộ, ngành đã có hướng dẫn cụ thể, nhưng mã HS, từng bảng biểu cần quá trình rà soát mất nhiều thời gian, công phu và các điều kiện về quy chuẩn, tiêu chuẩn cần phải được lượng hóa. Bởi cơ quan Hải quan bắt buộc phải chuẩn hóa thành các tiêu chí đưa vào các hệ thống tin học.

Vấn đề đầu tư cơ sở vật chất, nguồn lực, xã hội hóa để phục vụ hoạt động kiểm tra chuyên ngành, để triển khai các biện pháp, chính sách kiểm tra chuyên ngành vào thực tiễn, phải đầu tư thay đổi hoạt động kiểm tra chuyên ngành.

Bộ Tài chính đã chỉ đạo Tổng cục Hải quan phối hợp với các cơ quan kiểm tra chuyên ngành thành lập 10 địa điểm kiểm tra chuyên ngành tập trung thí điểm. Tuy nhiên, do nhiều địa điểm chưa đem lại hiệu quả như kỳ vọng nên Bộ Tài chính đã tiến hành rà soát, để đề xuất bỏ những điểm hoạt động không hiệu quả.

Bên cạnh đó, Bộ Tài chính chỉ đạo Tổng cục Hải quan nâng cấp Trung tâm phân tích, phân loại hàng hóa xuất nhập khẩu thành Cục Kiểm định Hải quan chịu trách nhiệm kiểm tra Nhà nước về các mặt thủ tục hải quan. Trong đó sử dụng các trang thiết bị, các phương tiện hiện đại để kiểm tra lại tính chính xác trong khai báo của chủ hàng (chủng loại, phẩm cấp, chất lượng hàng hóa).

Bên cạnh đó, Cục Kiểm định Hải quan cũng đáp ứng ngay các dịch vụ kiểm tra chuyên ngành của các bộ, ngành. Tổng cục Hải quan đang hoàn thiện đề án trình Chính phủ cho phép cơ quan Hải quan thí điểm thực hiện kiểm tra chuyên ngành tại cửa khẩu.

Hiện nay, với vai trò là thường trực của Ủy ban quốc gia về Cơ chế một cửa ASEAN, cơ chế một cửa quốc gia và tạo thuận lợi thương mại, Tổng cục Hải quan tham mưu, đề xuất Chính phủ thông qua Nghị định về một cửa quốc gia, tạo thuận lợi thương mại và quản lý chuyên ngành. Theo đó, đảm bảo các hành lang pháp lý để thực hiện công tác kiểm tra chuyên ngành bằng phương pháp điện tử đưa công tác kiểm tra chuyên ngành đi vào thực chất.

Theo Nghị quyết 19, cơ quan Hải quan đề xuất giảm danh mục hàng hóa kiểm tra chuyên ngành, giảm số lô hàng phải kiểm tra chuyên ngành tại cửa khẩu.

Qua thống kê, số lô hàng chịu kiểm tra chuyên ngành chiếm 19,4% lô hàng phải kiểm tra, sau khi cắt giảm sẽ chỉ còn 10%. Do vậy, để cần thống nhất tiêu chí đanh giá mức độ cắt giảm của các bộ, ngành, cần phải xây dựng Hệ thống dữ liệu quốc gia về kiểm tra chuyên ngành.

Nguồn:baohaiquan

Kiểm tra chuyên ngành còn chậm chuyển biến

(HQ Online)- Đó là nhìn nhận của Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ Mai Tiến Dũng tại buổi làm việc của Tổ công tác của Thủ tướng với các bộ, ngành liên quan về kiểm tra chuyên ngành (KTCN), cắt giảm các điều kiện kinh doanh diễn ra sáng 12/7, tại Hà Nội. 

Thời gian KTCN tốn thời gian nhất



Phát biểu tại buổi làm việc, Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ Mai Tiến Dũng cho biết, thời gian qua, Tổ công tác của Thủ tướng đã làm việc với các Bộ: Tư pháp, Tài chính, Giáo dục và Đào tạo, Văn hóa -Thể thao và Du lịch trong việc xây dựng phương án rà soát, cắt giảm các điều kiện kinh doanh còn chồng chéo, bất cập.

“Qua kiểm tra, hàng tháng, Tổ Công tác đã thường xuyên có báo cáo tại phiên họp Chính phủ. Trong đó, kiến nghị Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo các bộ, ngành trong thực hiện nhiệm vụ nhằm cải cách KTCN đối với hàng hóa xuất nhập khẩu, trên tinh thần thực chất, làm đâu được đấy và làm đâu chắc đó”, Bộ trưởng Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ Mai Tiến Dũng nhấn mạnh.

Cũng theo Bộ trưởng, hiện nay cải cách KTCN còn chậm chuyển biến. Những bất cập về KTCN chưa được cải cách triệt để theo đúng yêu cầu chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ. Cụ thể, vẫn còn chậm trễ triển khai các giải pháp cụ thể để đơn giản hóa thủ tục hành chính, cải thiện môi trường kinh doanh tại các bộ, ngành, cơ quan quản lý.

Tại Hội nghị cải cách hành chính KTCN theo Nghị quyết 19 của Chính phủ, các bộ, ngành thống nhất cắt giảm 50% danh mục hàng hóa phải kiểm tra chuyên ngành.

Bộ trưởng Mai Tiến Dũng dẫn chứng báo cáo của Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế trung ương và Cơ quan phát triển Hoa Kỳ về một gói cà phê sữa, cho sữa sấy khô để tạo ra sản phẩm mà cơ quan KTCN yêu cầu bóc ra để kiểm tra lây nhiễm dịch bệnh và cho rằng, như vậy, KTCN còn phát sinh nhiều thủ tục.

Một ví dụ khác, một tàu chở 5 loại hàng hóa khác nhau của 5 chủ hàng, 4 lô hàng đã hoàn thành thủ tục hải quan phải chờ lô hàng còn lại làm thủ tục KTCN.

Khi kiểm tra vắc-xin, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chỉ định 2 trung tâm, trong đó, có 1 trung tâm khu vực phía Bắc bị đình chỉ hoạt động từ tháng 2/2018. Như vậy, cả nước tập trung vào trung tâm kiểm định phía Nam gây khó khăn trong việc đi lại, tốn kém cho doanh nghiệp.

Qua báo cáo của Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế trung ương, chi phí kiểm tra mà các doanh nghiệp phải chịu vẫn còn rất lớn do trước đó đã kiểm tra lô hàng cùng loại không được thừa nhận.

Theo đánh giá của Ngân hàng Thế giới, thời gian tuân thủ chứng từ liên quan đến KTCN nhập khẩu ở Việt Nam là 76 giờ cao hơn rất nhiều so với các nước ASEAN 4 chỉ có 28 giờ. Mặt khác, thủ tục dành cho KTCN cũng tốn nhiều thời gian nhất khi doanh nghiệp Việt Nam khi nhập khẩu.

Sẽ loại bỏ nhiều mặt hàng ra khỏi danh mục KTCN

Tại buổi làm việc, Tổ công tác đã lắng nghe đại diện các Bộ: Thông tin và Truyền thông; Y tế; Nông nghiệp và Phát triển nông thôn… báo cáo những kết quả trong triển khai công tác cải cách thủ tục KTCN; đồng thời, nêu một số công việc dự kiến sẽ triển khai trong thời gian tới.

Công chức Hải quan kiểm tra hàng nhập khẩu thuộc danh mục kiểm tra chuyên ngành. Ảnh: Q.H

Liên quan đến cải cách thủ tục KTCN, đại diện Bộ Công Thương cho rằng, tổng số sản phẩm hàng hóa xuất nhập khẩu thuộc diện KTCN đang chịu quản lý của bộ là 578 sản phẩm, trong đó 571 sản phẩm có mã HS. Dự kiến, còn lại 7 sản phẩm chưa có mã HS sẽ được loại bỏ ra khỏi danh mục KTCN.

Thời gian tới, Bộ Công Thương ban hành Thông tư quy định quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm thay thế các quy định hiện hành để triển khai Nghị định 15 (dự kiến hoàn thành trong quý IV/2018). Việc ban hành thông tư mới này, có 396 sản phẩm do Bộ Công Thương quản lý, dự kiến cắt giảm trên 90% lô hàng phải KTCN khi làm thủ tục hải quan. Đồng thời, tiếp tục cắt giảm tỷ lệ 5% lô hàng nhập khẩu phải KTCN của Bộ Công Thương theo Nghị quyết 19.

Ngoài ra, Bộ Công Thương đang phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn lên phương án cải cách hoạt động KTCN liên quan đến các sản phẩm bột và tinh bột có nguồn gốc thực phẩm và nhóm sản sữa và các sản phẩm từ sữa do trách nhiệm quản lý của bộ.

Đối với hoạt động kiểm tra chất lượng sản phẩm hàng hóa nhóm II, Bộ dự kiến ban hành Thông tư quản lý sản phẩm có khả năng gây mất an toàn để triển khai Nghị định 74 về quản lý chất lượng sản phẩm hàng hóa. Theo đó, đơn giản hóa thủ tục KTCN đối với 139/144 sản phẩm thuộc danh mục hàng hóa nhóm II.

Kết luận buổi làm việc, Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ Mai Tiến Dũng cho biết, Văn phòng chính phủ đã xây dựng và trình Thủ tướng Chính phủ dự thảo Chỉ thị về tăng cường cải cách các hoạt động kiểm tra chuyên ngành, cắt giảm đơn giản hóa các thủ tục hành chính, đặc biệt là trong hoạt động XNK.

Trước ngày 15/8, các bộ, ngành hoàn thành các thủ tục cắt giảm các điều kiện kinh doanh để trình Chính phủ, Thủ tướng theo hướng 1 Nghị định sửa nhiều Nghị định, rút gọn.

Nguồn:baohaiquan

Hải Phòng: Gần 135.000 lô hàng kiểm tra chuyên ngành, chỉ 0,2% vi phạm

(HQ Online)- Khu vực cảng Hải Phòng có số lượng hàng hóa kiểm tra chuyên ngành lớn nhưng việc phát hiện vi phạm rất ít và chủ yếu vi phạm hành chính. Điều này đang gây rào cản lớn trong tạo thuận lợi cho cộng đồng DN, giảm thời gian thông quan hàng hóa XNK.

Mới đây, Cục Hải quan Hải Phòng đề nghị các bộ, ngành chức năng một loạt giải pháp tháo gỡ khó khăn trong công tác quản lý, kiểm tra chuyên ngành đối với hàng hóa XNK.

Đó là quy định áp dụng quản lý rủi ro trong kiểm tra chuyên ngành; ban hành danh mục quản lý chuyên ngành theo mã số HS để thực hiện thống nhất; mở rộng tổ chức kiểm tra chuyên ngành được chỉ định; loại bỏ sự chồng chéo trong quản lý, kiểm tra với cùng một mặt hàng…

Bên cạnh đó, Hải quan Hải Phòng đề nghị các bộ, ngành áp dụng việc giảm tỷ lệ kiểm tra dựa trên đánh giá tuân thủ của DN; thông báo kết quả kiểm tra tới DN và cơ quan Hải quan để chủ động tra cứu giúp giảm được thời gian thông quan…

Thực tế từ công tác quản lý ở cơ sở, Cục Hải quan Hải Phòng cho rằng, hoạt động quản lý, kiểm tra chuyên ngành vẫn đang bộc lộ rất nhiều hạn chế, bất cập như số lượng hàng hóa phải kiểm tra lớn, cách thức thực hiện phức tạp ảnh hưởng đến thời gian thông quan.

Mặt khác, vẫn tồn tại tình trạng một mặt hàng chịu sự quản lý của nhiều cơ quan, bộ, ngành, như trường hợp hàng hóa vừa phải có Giấy chứng nhận hợp quy vừa phải có Giấy chứng nhận điều kiện nhập khẩu…

Ngoài ra, việc tra cứu thông tin kết quả kiểm tra chuyên ngành của các bộ, ngành trên Cổng thông tin một cửa quốc gia còn nhiều hạn chế do chưa có chức năng theo dõi, trừ lùi giấy phép với lô hàng nhập khẩu nhiều lần; chưa có chức năng tự động thông báo kết quả kiểm tra của cơ quan chuyên ngành đến cơ quan Hải quan…

Đáng chú ý, Cục Hải quan Hải Phòng đưa ra thông tin hết sức đáng quan tâm là số lượng tờ khai phải kiểm tra chuyên ngành lớn nhưng tỷ lệ phát hiện vi phạm rất ít và chủ yếu liên quan đến vi phạm hành chính.

Cập nhật trong quý I/2018, toàn Cục có 32.896 tờ khai phải kiểm tra chuyên ngành (chủ yếu là hàng hóa nhập khẩu) nhưng cơ quan quản lý chuyên ngành chỉ phát hiện 36 tờ khai vi phạm, tương đương tỉ lệ 0,1%, với hành vi chủ yếu là chậm nộp kết quả kiểm tra.

Hay trong năm 2017, toàn Cục có 134.871 tờ khai thuộc diện kiểm tra chuyên ngành, nhưng số lượng phát hiện vi phạm chỉ là 272 tờ khai, tương đương 0,2% và hành vi chủ yếu vẫn là chậm nộp kết quả.

Nguồn:baohaiquan

Doanh nghiệp vẫn bức xúc về kiểm tra chuyên ngành

(HQ Online)- Tham dự buổi Tọa đàm “Hải quan- Doanh nghiệp: Kết nối – Chia sẻ- Đồng hành” do Tổng cục Hải quan tổ chức sáng 21/6, tại Hà Nội, nhiều doanh nghiệp bày tỏ bức xúc về vấn đề kiểm tra chuyên ngành; thực hiện Cơ chế một cửa quốc gia (NSW)…

Đồng hành cùng doanh nghiệp

Phát biểu tại buổi Tọa đàm, đại diện nhiều DN, hiệp hội DN trong nước và nước ngoài đánh giá cao công tác cải cách, hiện đại hóa của ngành Hải quan, điều này góp phần quan trọng vào tạo thuận lợi cho hoạt động XNK, giảm thời gian thông quan hàng hóa. Tuy nhiên, công tác cải cách chưa được thực hiện đồng bộ giữa các bộ, ngành.

Đại diện Hiệp DN chế biến và xuất khẩu thủy sản Việt Nam (VASEP), đánh giá cao quan điểm của lãnh đạo ngành Hải quan trong việc coi DN là đối tác để chia sẻ, đồng hành. Đặc biệt, quá trình hoạt động, nhất là xây dựng văn bản pháp luật, Tổng cục Hải quan luôn cầu thị, ghi nhận ý kiến đóng góp của cộng đồng DN.

Bên cạnh đó, khi VASEP và hội viên có vướng mắc, Tổng cục Hải quan trực tiếp gặp gỡ, đối thoại, xử lý kịp thời.

Chung quan điểm, đại diện Diễn đàn kinh tế tư nhân, đánh giá tích cực nhận thức, khả năng đổi mới, đồng hành cùng DN của ngành Hải quan; nhất là các phương thức đang và đang triển khai để giảm thời gian thông quan, giảm tiếp xúc trực tiếp giữa DN và công chức hải quan…

Theo đại diện Diễn đàn kinh tế tư nhân, thời gian qua, Tổng cục Hải quan đã chủ động liên hệ với DN để đề nghị tham vấn, trao đổi, đối thoại… nhờ đó các vướng mắc, khó khăn được kịp thời tháo gỡ. Nhưng đại diện Diễn đàn kinh tế tư nhân cho rằng điều cần thực hiện liên tục.

Đại diện Diễn đàn kinh tế tư nhân cho rằng, một trong những vướng mắc lớn nhất hiện nay trong quá trình thông quan hàng hóa XNK liên quan đến vấn đề quản lý, kiểm tra chuyên ngành hàng hóa XNK. Do vậy, lãnh đạo các cấp cần đẩy mạnh xã hội hóa công tác KTCN, đồng thời cần phát triển và nâng cao hiệu quả hoạt động của đại lý hải quan; hiệu quả công tác kiểm tra chất lượng, cấp chứng chỉ đối với công tác kiểm tra chuyên ngành…

Theo đại diện Hiệp hội DN Logistics Việt Nam, để thực hiện và chấp hành tốt pháp luật về hải quan, cộng đồng DN cần nắm vững về quy trình thủ tục hải quan; chính sách thuế; chính sách mặt hàng. Nhưng thực tế, có không ít cá nhân đi làm thủ tục không nắm được tổng quan.

“Vướng mắc không phải về quy trình thủ tục hải quan, mà chủ yếu là chính sách thuế và chính sách mặt hàng. Đây là 2 vấn đề sau không thuộc của cơ quan Hải quan. Nhiều lúc chúng ta giả định công chức hải quan phải nắm hết khi xử lý thủ tục nhưng nếu DN không thấu hiểu thực thi, tuân thủ luật pháp sẽ rất khó cho cơ quan Hải quan”- đại diện Hiệp hội DN Logistics Việt Nam nói.

Ngoài ra, đại diện nhiều DN đề nghị cần nâng cao hiệu quả thực hiện Cơ chế một cửa quốc gia để NSW đi vào thực chất, phát huy hiệu quả, tạo thuận lợi cho hoạt động XNK.

Sớm tháo gỡ vướng mắc về kiểm tra chuyên ngành

Tại buổi Tọa đàm, đại diện cộng đồng DN kiến nghị, Tổng cục Hải quan với vai trò Cơ quan Thường trực Ủy ban chỉ đạo quốc gia về Cơ chế một cửa ASEAN (ASW), NSW và tạo thuận lợi thương mại, cần kiến nghị các cấp có thẩm quyền sớm tháo gỡ, tạo thuận lợi cho hoạt động XNK.

Giải đáp kiến nghị của cộng đồng DN, Tổng cục trưởng Tổng cục Hải quan Nguyễn Văn Cẩn cho rằng, các kiến nghị về vướng mắc liên quan đến NSW và kiểm tra chuyên ngành rất xác đáng. Với vai trò là Cơ quan Thường trực Ủy ban chỉ đạo quốc gia về ASW, NSW và tạo thuận lợi thương mại, Tổng cục Hải quan đã và đang nỗ lực kiến nghị Chính phủ và các bộ, ngành chức năng khẩn trương tháo gỡ.

“Hiện nay ngành Hải quan đã hoàn thiện dự thảo Nghị định về Cơ chế một cửa và kiểm tra chuyên ngành để trình Chính phủ sớm ban hành. Khi đó, các vướng mắc liên quan đến NSW và kiểm tra chuyên ngành sẽ cơ bản được giải quyết”- Tổng cục trưởng Nguyễn Văn Cẩn nói.

Liên quan đến một số kiến nghị về vấn đề định mức với DN gia công, sản xuất xuất khẩu, Tổng cục trưởng cho biết, thực hiện các quy định mới (Nghị định 59/2018/NĐ-CP và Thông tư 39/2018/TT-BTC), cơ quan Hải quan chỉ quản lý trên cở sở dữ liệu của DN được kết nối với cơ quan Hải quan, cơ quan Hải quan không yêu cầu đăng ký định mức và báo cáo quyết toán như hiện nay nên DN sẽ rất thuận lợi khi thực hiện.

Ngoài ra, Tổng cục trưởng Nguyễn Văn Cẩn cũng giải đáp thêm một số vướng mắc về Chương trình DN ưu tiên…

Nguồn:baohaiquan

Nhiều chuyển biến tích cực về kiểm tra chuyên ngành tại TP.HCM

(HQ Online)-Thực hiện Quyết định số 2026/QĐ-TTg ngày 17/11/2015 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án “Giải pháp nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động kiểm tra chuyên ngành đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu”, Cục Hải quan TP.HCM đã chủ động phối hợp triển khai, đến nay đã có nhiều chuyển biến tích cực trong việc tạo thuận lợi cho doanh nghiệp.

Giảm 50% thời gian

Thực hiện Đề án “Giải pháp nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động kiểm tra chuyên ngành đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu”, Cục Hải quan TP. HCM đã chủ động rà soát các thủ tục hành chính, đơn giản hóa thủ tục thông qua ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác kiểm tra chuyên ngành (KTCN) nhằm giảm thời gian, chi phí đi lại, rút ngắn thời gian thông quan hàng hóa cho doanh nghiệp trung bình 50% thời gian so với trước đây và nâng cao hiệu quả công tác quản lý KTCN trong công tác phối hợp giữa các cơ quan quản lý nhà nước.

Cục Hải quan TP.HCM đã chủ động phối hợp các cơ quan chuyên ngành thành lập hai địa điểm KTCN tại sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất và cảng Cát Lái. 2 địa điểm này có số lượng tờ khai phát sinh hàng ngày rất lớn, trong đó số lượng tờ khai thuộc diện KTCN chiếm tỷ lệ không nhỏ, việc triển khai địa điểm KTCN tập trung tại đây đã tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động XNK, rút ngắn thời gian thông quan hàng hóa, giảm chi phí đi lại, lưu kho, lưu bãi tại cửa khẩu nhập.

Cụ thể, việc đăng ký, lấy mẫu, kiểm tra và trả kết quả đối với một số trường hợp kiểm dịch thực vật giản đơn, kiểm tra an toàn thực phẩm đối với quà biếu nhập khẩu được thực hiện ngay tại cửa khẩu; Tỷ lệ đăng ký và trả kết quả của Viện Kiểm nghiệm an toàn vệ sinh thực phẩm quốc gia tại cảng Cái Lái là 100%, đã góp phần giảm được thời gian thông quan và chi phí đi lại cho người khai hải quan.

Cơ quan KTCN phối hợp với cơ quan Hải quan để thực hiện lấy mẫu đối với các lô hàng thuộc diện KTCN phải lấy mẫu tại cửa khẩu trên nguyên tắc xuất trình hàng hóa một lần, tránh trường hợp hàng hóa phải đưa vào đưa ra khỏi container nhiều lần làm mất thời gian, tăng chi phí do phải nâng hạ container, chi phí cho bốc xếp và xuất trình hàng hóa.

Cục Hải quan TP.HCM cùng với Tổng công ty Tân cảng Sài Gòn và các cơ quan KTCN tại cảng Cát Lái đã ký Quy chế phối hợp lấy mẫu hàng tại cảng nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả của KTCN, giúp cho việc thông quan hàng hóa được chính xác thông qua việc lấy mẫu KTCN được thực hiện ngay tại cảng.

Bên cạnh đó, Cục Hải quan TP. HCM đã chủ động tổ chức chuyên đề riêng về công tác KTCN trên địa bàn để ghi nhận những vướng mắc khó khăn của cộng đồng doanh nghiệp và nghiên cứu những bất cập của văn bản hiện hành để tổng hợp báo cáo kiến nghị với các đoàn công tác của Trung ương khảo sát tại đơn vị.

Nhiều kiến nghị về KTCN

Với nhiều giải pháp triển khai tích cực, đến nay đã có nhiều thay đổi tích cực đối với một số quy định về KTCN. Cụ thể, Bộ Tài chính và Bộ Khoa học và Công nghệ đã ban hành Thông tư liên tịch số 110/2016/TTLT-BTC-BKHCN cho phép sử dụng bản fax hoặc file hình ảnh Thông báo kết quả KTCN để thông quan; Bộ Công Thương ban hành Thông tư 23/2016/TT-BCT hủy bỏ kiểm tra formaldehyde và amin thơm đối với sản phẩm dệt may.

Miễn kiểm tra an toàn thực phẩm đối với loại hình gia công, sản xuất xuất khẩu (Nghị quyết 103/NQ-CP của Chính phủ); Dán nhãn năng lượng thực hiện trước khi đưa hàng hóa ra lưu thông trên thị trường, không áp dụng đối với thiết bị nhập khẩu riêng lẻ, không nhằm mục đích thương mại, sử dụng kết quả đo kiểm hiệu suất năng lượng không thời hạn (Thông tư 36/2016/TT-BCT của Bộ Công Thương).

Nhiều bộ đã ban hành Danh mục hàng hóa thuộc diện KTCN theo mã số HS. Bộ Khoa học và Công nghệ ban hành Thông tư 02/2017/TT-BKHCN ngày 31/3/2017 và Thông tư 07/2017/TT-BKHCN ngày 16/6/2017, thay đổi phương thức kiểm tra chuyên ngành hàng hóa trước khi thông quan đối với một số mặt hàng.

Bộ Xây dựng ban hành Thông tư 10/2017/TT-BXD ngày 29/9/2017 quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về sản phẩm, hàng hóa vật liệu xây dựng và hướng dẫn hoạt động chứng nhận hợp quy và công bố hợp quy đối với sản phẩm, hàng hóa vật liệu xây.

Đặc biệt, mới đây, Chính phủ ban hành Nghị định số 15/2018/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số Điều của Luật An toàn thực phẩm; Nghị định 74/2018/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 132/2008/NĐ-CP ngày 31/12/2008 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều Luật chất lượng sản phẩm, hàng hóa tại Nghị định 132/2008/NĐ-CP của Chính phủ…

Tuy nhiên, KTCN vẫn còn nhiều bất cập, đề làm thay đổi căn bản phương thức KTCN đối với hàng hóa XK, NK, Cục Hải quan TP.HCM tiếp tục kiến nghị một số nội dung:

Chính phủ trình Quốc Hội cho phép xây dựng một luật để sửa đổi một số luật liên quan đến KTCN (điều chỉnh khoản 4 Điều 34 Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa; bổ sung Khoản 1 Điều 47 và Khoản 1 Điều 48 Luật Tiêu chuẩn và Quy chuẩn kỹ thuật) theo hướng cho phép thực hiện nguyên tắc quản lý rủi ro, công nhận kết quả kiểm định lẫn nhau, kiểm tra chất lượng đối với hàng hóa XNK có trọng tâm, trọng điểm.

Cơ quan quản lý KTCN cấp trên tăng cường bố trí các nguồn lực cho các đơn vị KTCN tại các cửa khẩu lớn của thành phố. Các cơ quan KTCN tăng cường kiểm tra, chỉ đạo các bộ phận, nhân viên của mình nâng cao tinh thần trách nhiệm, thực hiện tốt nhiệm vụ được giao để ra kết quả và cập nhật kết quả KTCN lên Cổng thông tin KTCN sớm nhất.

Chính phủ chỉ đạo các bộ, ngành khẩn trương hoàn thiện các chương trình tin học phục vụ cho việc quản lý chuyên ngành, KTCN, kết nối vào Cổng thông tin một cửa quốc gia; phổ biến, tập huấn rộng rãi cho cộng đồng doanh nghiệp biết để tham gia sử dụng.

Bên cạnh đó, các doanh nghiệp nhập khẩu hàng hóa thuộc diện KTCN cần phải chủ động tìm hiểu thông tin liên quan đến những quy định về KTCN khi nhập khẩu để chuẩn bị trước khi đưa hàng về nước, hợp tác và tuân thủ nghiêm pháp luật về KTCN.

Nguồn:baohaiquan