Hải quan BR-VT: Kiến nghị tháo gỡ vướng mắc về phế liệu nhập khẩu

(HQ Online)-Theo Cục Hải quan Bà Rịa-Vũng Tàu (BR-VT), trong quá trình thực hiện thủ tục hải quan đối với phế liệu NK làm nguyên liệu sản xuất theo các quy định hiện hành, tại đơn vị đã phát sinh vướng mắc.

 

Cụ thể, liên quan đến quản lý, theo dõi phế liệu NK, cục Hải quan BR-VT cho biết, trong quá trình làm thủ tục NK phế liệu, khi tiếp nhận bản sao văn bản thông báo về lô hàng phế liệu NK để kiểm tra, thông quan theo mẫu quy định tại Phụ lục 12 ban hành kèm theo Thông tư 41/2015/TT-BTNMT, tại đơn vị đã phát sinh vướng mắc.

Theo quy định tại Thông tư, thông báo gửi cho tổ chức, cá nhân và cơ quan Hải quan bằng bản fax hoặc thư điện tử. Tuy nhiên, thông báo cấp cho nhiều lô hàng, NK tại một hoặc nhiều Chi cục khác nhau, chỉ thể hiện khối lượng của từng lô hàng không thể hiện cụ thể số vận đơn, số container, số hợp đồng hoặc có tiêu chí để cơ quan Hải quan có cơ sở kiểm tra, đối chiếu với khai báo của DN trên tờ khai hải quan.

Về vấn đề này, Cục Hải quan BR-VT đã báo cáo Tổng cục Hải quan và đã nhận được công văn hướng dẫn của của Cục Kiểm soát ô nhiễm- Bộ Tài Nguyên và Môi trường (gửi kèm công văn của Cục Giám sát quản lý, Tổng cục Hải quan). Tuy nhiên, hướng dẫn của Cục Kiểm soát ô nhiễm – Bộ Tài Nguyên và Môi trường chưa rõ ràng.

Để đảm bảo quản lý chặt chẽ phế liệu NK, tránh trường hợp DN lợi dụng văn bản thông báo để NK vượt số lượng cho phép, theo đề xuất của Cục Hải quan BR-VT: Trong văn bản thông báo, cơ quan Tài nguyên Môi trường bổ sung các tiêu chí về số vận đơn, số container, số hợp đồng… của từng lô hàng NK. Khi NK lô hàng đầu tiên theo Thông báo, Chi cục Hải quan được chỉ định tại nơi cấp phiếu theo dõi trừ lùi, trường hợp có nhiều Chi cục thì có văn bản thông báo phối hợp.

Một vướng mắc khác là việc đưa hàng về bảo quản trong thời gian chờ kết quả giám định. Theo quy định tại Thông tư 41/2015/TT-BTNMT: “Thủ tục kiểm tra điều kiện về bảo vệ môi trường, kiểm tra thực tế lô hàng phế liệu NK để thông quan được thực hiện tại cơ quan Hải quan nơi cửa khẩu nhập”. Quy định này hiện nay tại đơn vị có 2 cách hiểu chưa thống nhất.

Theo cách hiểu thứ nhất, hàng hóa là phế liệu NK phải làm các thủ tục hải quan tại Chi cục Hải quan cửa khẩu nhập, không được chuyển cửa khẩu làm thủ tục tại các Chi cục Hải quan cửa khẩu.

Với cách hiểu này, DN sau khi đăng ký tờ khai tại Chi cục Hải quan cửa khẩu nhập mang hàng về bảo quản để chờ kết quả kiểm tra chuyên ngành nếu đáp ứng được các quy định tại Nghị định 08/2015/NĐ-CP đã sửa đổi bổ sung tại Nghị định 59/2018/NĐ-CP và Thông tư 38/2015/TT-BTC đã sửa đổi, bổ sung tại Thông tư 39/2018/TT-BTC.

Cách hiểu thứ 2 là, phế liệu NK phải lưu tại cửa khẩu để kiểm tra điều kiện về bảo vệ môi trường, kiểm tra thực tế mà không được mang hàng về bảo quản.

Theo cách hiểu này, phế liệu phải lưu lại cửa khẩu sẽ phát sinh nhiều chi phí cho DN. Cục Hải quan BR-VT cho biết, trên địa bàn đơn vị quản lý đang tồn đọng số lượng lớn hàng hóa là phế liệu chưa được thông quan gồm 626 container sắt thép phế liệu, 76 container nhựa phế liệu và 27 container giấy phế liệu.

Liên quan đến vấn đề này, Cục Hải quan BR-VT đã có văn bản đề nghị Tổng cục Hải quan hướng dẫn để có cách hiểu thống nhất về quy định nêu trên. Đồng thời để tạo thuận lợi cho DN, Cục Hải quan BR-VT đề xuất, Tổng cục Hải quan hướng dẫn đề thống nhất cách hiểu theo hướng cho phép DN mang hàng về bảo quản nếu đáp ứng điều kiện theo các quy định của pháp luật./.

Nguồn:baohaiquan

Gỡ vướng mắc cho doanh nghiệp nhập khẩu, sản xuất lắp ráp ô tô

(HQ Online)- Bộ Giao thông vận tải vừa có văn bản gửi Văn phòng Chính phủ báo cáo kết quả làm việc của Đoàn công tác liên ngành hỗ trợ doanh nghiệp thực hiện số 116/2017/NĐ-CP quy định điều kiện sản xuất, lắp ráp, nhập khẩu và kinh doanh dịch vụ bảo hành, bảo dưỡng ô tô (Nghị định 116). 

Xem xét chấp nhận VTA



Đoàn công tác liên ngành gồm đại diện Bộ Giao thông vận tải, Bộ Công Thương, Bộ Tài chính đã làm việc với 17 doanh nghiệp nhập khẩu, sản xuất ô tô và trao đổi các nội dung liên quan.

Cụ thể, các doanh nghiệp có ý kiến cho rằng sau thời gian thực hiện Nghị định 116/2017/NĐ-CP quy định điều kiện sản xuất, lắp ráp, nhập khẩu và kinh doanh dịch vụ bảo hành, bảo dưỡng ô tô và Thông tư 03/2018/TT-BGTVT hướng dẫn thực hiện Nghị định, doanh nghiệp đã gặp một số vướng mắc và hiện đang được các bộ ngành tích cực hỗ trợ tháo gỡ.

Tuy nhiên, ngày 22/3/2018, các doanh nghiệp lại nhận được văn bản số 2601/VPCP-CN của Chính phủ chỉ đạo các bộ, ngành liên quan nghiên cứu, xây dựng các hàng rào kỹ thuật phù hợp để quản lý chất lượng đối với xe nguyên chiếc nhập khẩu.

Vì vậy, các doanh nghiệp tỏ ra quan ngại về định hướng chính sách sắp tới của Việt Nam lại tiếp tục thay đổi sẽ gây ảnh hưởng đến chiến lược kinh doanh của họ. Doanh nghiệp kiến nghị Chính phủ cần duy trì ổn định chính sách lâu dài để doanh nghiệp yên tâm đầu tư ở Việt Nam.

Bên cạnh đó, các doanh nghiệp cũng kiến nghị Chính phủ khi ban hành chính sách mới không nên hồi tố đối với các yêu cầu đã đáp ứng các quy định trước ngày có hiệu lực của Nghị định 116 và chính sách khi ban hành cần có lộ trình đủ dài để các doanh nghiệp chuẩn bị, đáp ứng.

Liên quan đến nhập khẩu ô tô nguyên chiếc, doanh nghiệp có thể được cấp “Giấy chứng nhận chất lượng an toàn kỹ thuật và bảo về môi trường” (VTA) đối với các xe nhập khẩu từ Thái Lan và Indonesia, nhưng với các xe nhập khẩu từ Nhật Bản, doanh nghiệp không thể có được do Chính phủ Nhật Bản không cấp cho xe xuất khẩu. Các doanh nghiệp kiến nghị cho phép sử dụng báo cáo thử nghiệm của cơ sở sản xuất xe.

Đối với các loại xe nhập khẩu từ châu Âu đã có VTA, doanh nghiệp kiến nghị cơ quan chức năng xem xét chấp nhận VTA này để làm thủ tục nhập khẩu xe về Việt Nam. Lý do là châu Âu áp dụng tiêu chuẩn khí thải Euro 6 cao hơn Việt Nam.

Bên cạnh đó, các doanh nghiệp cũng cho rằng, việc kiểm tra, thử nghiệm cho từng lô xe nhập khẩu kéo dài thời gian, tốn kém chi phí (nhất là thử nghiệm khí thải) và không công bằng giữa xe nhập khẩu, xe sản xuất lắp ráp trong nước.

Do đó, doanh nghiệp kiến nghị xem xét mở rộng khái niệm lô hàng để giảm số lượng mẫu phải kiểm tra thử nghiệm. Đồng thời cho phép sử dụng kết quả thử nghiệm khí thải trong thời gian 6 tháng thay vì từng lô như hiện nay; Xem xét đầu tư thêm cơ sở thử nghiệm khí thải ở khu vực phía Nam và đầu tư thiết bị thử nghiệm xe dẫn động bốn bánh toàn thời gian (4×4 full time) để rút ngắn thời gian thử nghiệm.

Không chuyển luồng đỏ khi thực hiện thủ tục hải quan



Về thủ tục thông quan hàng hóa, các doanh nghiệp cho rằng, việc kiểm tra, thử nghiệm sẽ kéo dài thời gian thông quan lô hàng quá 30 ngày kể từ ngày mở tờ khai, vì vậy doanh nghiệp đề nghị cơ quan hải quan không tiến hành xử phạt, không chuyển luồng đỏ khi thực hiện thủ tục hải quan.

Ngoài ra, việc tải dữ liệu lên Cổng Thông tin một cửa quốc gia gặp nhiều khó khăn do bị giới hạn về dung lượng của tài liệu hồ sơ điện tử tải lên. Khi nhận hồ sơ, cơ quan tiếp nhận nên hướng dẫn doanh nghiệp một lần, tránh trường hợp hướng dẫn thành nhiều lần mới hoàn thiện làm cho thời gian hoàn tất hồ sơ bị kéo dài.

Liên quan đến sản xuất, lắp ráp xe trong nước, doanh nghiệp kiến nghị tiếp tục thừa nhận giấy chứng nhận linh kiện đã cấp theo quy định ECE – Ủy ban Kinh tế châu Âu và kết quả đánh giá COP theo quy định đang áp dụng hiện nay mà không cần phải thử nghiệm, chứng nhận tại Việt Nam như yêu cầu trong Nghị định 116.

Đặc biệt, các doanh nghiệp đề nghị Bộ Giao thông vận tải sớm xây dựng và ban hành Thông tư hướng dẫn, quy định về kiểm tra chất lượng đối với ô tô sản xuất, lắp ráp trong nước (thay thế thông tư 30/2011/TT-BGTVT và 54/2014/TT-BGTVT) đảm bảo cho doanh nghiệp có đủ thời gian ít nhất 6 tháng trước thời điểm áp dụng 17/4/2019 theo Nghị định 116 để chuẩn bị các điều kiện liên quan, đáp ứng với quy định mới. tiếp tục thừa nhận giấy chứng nhận, kết quả đánh giá COP của nước ngoài đối với linh kiện để sản xuất, lắp ráp ô tô.

Nguồn:baohaiquan

Gỡ vướng mắc về hoàn thuế

(HQ Online)- Để tạo điều kiện cho các DN cũng như các đơn vị liên quan, Tổng cục Hải quan đã chủ động trả lời một số vướng mắc liên quan đến hoàn thuế.

Cục Thuế Đồng Tháp phản ánh, thủ tục hải quan thông quan và thủ tục hoàn thuế GTGT đối với ngành lương thực chưa rõ ràng như phụ phẩm của ngành lương thực là tấm, cám, trấu…

Về vấn đề Cục Thuế Đồng Tháp phản ánh, Tổng cục Hải quan cho biết, hiện nay thủ tục hải quan thực hiện theo quy định tại Luật Hải quan 2014, Nghị định 08/2015/NĐ-CP của Chính phủ và quy định tại Thông tư 38/2015/TT-BTC của Bộ Tài chính. Tại các văn bản nêu trên đã hướng dẫn cụ thể đối với việc thực hiện thủ tục hải quan để thông quan hàng hóa, đề nghị đơn vị căn cứ nội dung các văn bản trên để thực hiện.

Liên quan đến thuế GTGT mặt hàng phụ phẩm của ngành lương thực như tấm, cám, trấu, ngày 31/10/2014, Bộ Tài chính đã có công văn số 15895/BTC-CST hướng dẫn thuế GTGT đối với sản phẩm trồng trọt, theo đó, các mặt hàng cám mỳ, tấm mỳ, cám gạo (được tạo ra từ quá trình xay xát thóc hoặc xay xát lúa mỳ) là phế phẩm, phụ phẩm của sản phẩm trồng trọt nên được xác định là sản phẩm chưa qua chế biến thành sản phẩm khác theo hướng dẫn tại Điểm b1 Khoản 3 Điều 4 Thông tư số 83/2014/TT-BTC. Do đó, tấm, cám, trấu thuộc đối tượng không chịu thuế GTGT ở khâu tự sản xuất bán ra, ở khâu NK và không phải kê khai, tính nộp thuế GTGT ở khâu kinh doanh thương mại theo hướng dẫn tại Khoản 1 Điều 4 và khoản 5 Điều 5 Thông tư 219/2013/TT-BTC và Điểm b1 khoản 3 Điều 4 Thông tư số 83/2014/TT-BTC.

Trường hợp DN khấu trừ hoàn thuế GTGT đầu vào mặt hàng phụ phẩm của ngành lương thực tấm, cám, trấu thì liên hệ với cơ quan Thuế nội địa để được hướng dẫn giải quyết. Trường hợp DN nộp nhầm, nộp thừa thuế GTGT hàng NK đối với mặt hàng trên đáp ứng quy định tại Điều 49 Thông tư 38/2015/TT-BTC thì liên hệ với cơ quan Hải quan để được hướng dẫn.

Công ty TNHH ABB hỏi, DN có xuất một số máy biến thế ra thị trường nước ngoài bao gồm than máy và các phụ kiện kèm theo. Trong một vài trường hợp cụ thể, DN phải chuyển than máy đi trước và phụ kiện được gửi theo chuyến hàng sau, tuy nhiên số phụ kiện có nguồn gốc NK được gửi sau không được xem xét để làm thủ tục hoàn thuế.

Về vấn đề DN hỏi, Tổng cục Hải quan cho biết, căn cứ Khoản 1 Điều 19 Luật thuế XK, thuế NK thì các trường hợp hoàn thuế gồm:

“a) Người nộp thuế đã nộp thuế NK, thuế XK nhưng không có hàng hóa NK, XK hoặc NK, XK ít hơn so với hàng hóa NK, XK đã nộp thuế;

b) Người nộp thuế đã nộp thuế XK nhưng hàng hóa XK phải tái nhập được hoàn thuế XK và không phải nộp thuế NK;

c) Người nộp thuế đã nộp thuế NK nhưng hàng hóa NK phải tái xuất được hoàn thuế NK và không phải nộp thuế XK;

d) Người nộp thuế đã nộp thuế đối với hàng hóa NK để sản xuất, kinh doanh nhưng đã đưa vào sản xuất hàng hóa XK và đã XK sản phẩm”.

Cũng theo Khoản 2 Điều 19 Luật thuế XK, thuế NK thì: “Hàng hóa quy định tại các Điểm a, b và c Khoản 1 Điều này được hoàn thuế khi chưa qua sử dụng, gia công, chế biến”.

Khoản 1 Điều 34 Nghị định số 134/2016/NĐ-CP của Chính phủ quy định, hàng hóa NK đã nộp thuế NK nhưng phải tái xuất được hoàn thế NK và không phải nộp thuế XK. Theo đó, người nộp thuế đã nộp thuế NK đối với hàng hóa NK để sản xuất, kinh doanh nhưng đã đưa vào sản xuất hàng hóa XK và đã XK sản phẩm ra nước ngoài, hoặc XK vào khu phi thuế quan, được hoàn thuế NK đã nộp.

Cơ sở để xác định hàng hóa được hoàn thuế, hồ sơ hoàn thuế thực hiện theo quy định tại khoản 3, khoản 5 Điều 36 Nghị định số 134/2016/NĐ-CP.

Tổng cục Hải quan đề nghị DN nghiên cứu các quy định nêu trên để thực hiện. Trường hợp vướng mắc đề nghị DN liên hệ với cơ quan Hải quan nơi đăng ký tờ khai để được hướng dẫn cụ thể hoặc cung cấp hồ sơ gửi Tổng cục Hải quan để xem xét giải quyết.

Công ty TNHH kỹ nghệ Felix (Hải Phòng) thắc mắc, phế liệu được thu hồi trong quá trình sản xuất, nằm trong định mức sản xuất, có nguồn gốc NK nhưng đã XK (tờ khai đăng ký theo loại hình B11) chưa rõ, có thuộc trường hợp không phải nộp thuế XK quy định tại khoản 5 Điều 114 Thông tư số 38/2015/TT-BTC ngày 25/3/2015 của Bộ Tài chính không?

DN cũng đề nghị Tổng cục Hải quan hướng dẫn cụ thể trường hợp DN NK nguyên liệu để sản xuất hàng XK và thu hồi được phế liệu (từ 100% nguyên liệu NK) nằm trong định mức, khi DN làm thủ tục XK phế liệu có phải nộp thuế XK không (chia làm hai giai đoạn: giai đoạn từ 1/9/2016 trở về trước và từ 1/9/2016 trở đi).

Về vướng mắc nêu trên, Tổng cục Hải quan (Cục Thuế XNK) đã có công văn số 4477/TXNK-CST ngày 15/11/2017 trả lời Cục Hải quan TP. Hải Phòng về xử lý thuế XK đối với phế liệu thu được từ quá trình sản xuất sản phẩm XK từ nguyên liệu NK của Công ty TNHH Kỹ nghệ Felix.

Cụ thể trước ngày 1/9/2016: Tổng cục Hải quan đã có công văn số 5334/TCHQ-TXNK ngày 8/6/2016 hướng dẫn thực hiện theo hướng: Căn cứ Khoản 4 Điều 15 Nghị định 87/2010/NĐ-CP ngày 13/8/2010 của Chính phủ, Khoản 5 Điều 114 Thông tư số 38/2015/TT-BTC ngày 25/03/2015 của Bộ Tài chính, thì “Hàng hoá NK đã nộp thuế NK để sản xuất hàng hoá XK ra nước ngoài hoặc xuất vào khu phi thuế quan được hoàn thuế NK tương ứng với tỷ lệ sản phẩm thực tế XK và không phải nộp thuế XK đối với hàng hóa XK có đủ điều kiện xác định là được chế biến từ toàn bộ nguyên liệu, vật tư NK”.

Căn cứ Khoản 3 Điều 128 Thông tư số 38/2015/TT-BTC ngày 25/3/2015 của Bộ Tài chính: Trường hợp hàng hóa XK có đủ điều kiện xác định là được chế biến từ toàn bộ nguyên liệu NK thuộc đối tượng không phải nộp thuế XK theo quy định thì hồ sơ xét không thu thuế XK bao gồm:

“a) Công văn đề nghị không thu thuế XK đối với hàng hóa XK được sản xuất, chế biến từ toàn bộ nguyên liệu NK: 1 bản chính, trong đó nêu rõ:

a.1) Số tờ khai hải quan hàng hóa XK đã làm thủ tục hải quan đề nghị không thu thuế; tên hàng, số thứ tự dòng hàng, số lượng hàng hóa trên tờ khai hải quan (đối với trường hợp đề nghị không thu thuế một phần của tờ khai hải quan); số tờ khai hải quan hàng hóa NK; số hợp đồng có liên quan đến hàng hóa XK đề nghị không thu thuế;

a.2) Số lượng nguyên liệu NK đã sử dụng để sản xuất, gia công hàng hóa XK;

a.3) Số tiền thuế XK đề nghị không thu;”

Theo trình bày, trường hợp của DN NK 100% nguyên liệu thép không gỉ từ nước ngoài để SX XK sản phẩm trong đó có phế liệu thép không gỉ, DN cam kết phế liệu thép không gỉ thu được từ hoạt động sản xuất có nguồn gốc 100% nguyên liệu NK và hoàn toàn không có nguồn gốc từ tài nguyên khoáng sản được khai thác tại Việt Nam. Do đó, đề nghị DN xuất trình hồ sơ NK thép không gỉ, XK số phế liệu thép không gỉ với cơ quan Hải quan nơi làm thủ tục XK để kiểm tra xác định cụ thể, đối chiếu quy định nêu trên để xử lý theo quy định.

Cũng theo Tổng cục Hải quan, từ ngày 1/9/2016, các trường hợp miễn thuế đã được quy định cụ thể tại Điều 16 Luật Thuế XK, thuế NK; từ Điều 5 đến Điều 29 Nghị định số 134/2016/NĐ-CP của Chính phủ. Trong đó trường hợp miễn thuế đối với nguyên liệu, vật tư, linh kiện NK để sản xuất hàng hóa XK được quy định tại Khoản 7 Điều 16 Luật Thuế XK, thuế NK; Điều 12 Nghị định số 134/2016/NĐ-CP, không quy định miễn thuế XK đối với hàng hóa là phế liệu XK thu được từ quá trình sản xuất sản phẩm XK từ nguyên liệu NK.

Báo Hải quan sẽ tiếp tục thông tin về giải đáp các vướng mắc về hoàn thuế trong số báo sau.

Nguồn:baohaiquan