Hải quan Đà Nẵng hoàn thành thắng lợi nhiều nhiệm vụ năm 2018

(HQ Online)-12 nhiệm vụ trọng tâm đã được Cục Hải quan Đà Nẵng đề ra tại Hội nghị tổng kết công tác năm 2018, triển khai phương hướng, nhiệm vụ năm 2019 tổ chức ngày 16/1/2018. Ông Trần Văn Miên, Phó Chủ tịch UBND TP Đà Nẵng tới dự và phát biểu chỉ đạo hội nghị.

Báo cáo tổng kết thực hiện nhiệm vụ năm 2018, Cục Hải quan Đà Nẵng thực hiện tốt công tác giám sát quản lý hải quan, giải quyết kịp thời những khó khăn vướng mắc trong quy trình thủ tục hải quan, tạo thuận lợi tối đa cho hoạt động xuất nhập khẩu và thương mại, đầu tư, du lịch trên địa bàn nhưng vẫn đảm bảo công tác quản lý nhà nước về hải quan; đẩy mạnh công tác cải cách hành chính, hiện đại hóa hải quan, ứng dụng công nghệ thông tin qua đó triển khai thực hiện tốt“Năm đẩy mạnh thu hút đầu tư” và Đề án phát triển doanh nghiệp Đà Nẵng đến năm 2020 theo chỉ đạo của Thành ủy, UBND thành phố, nâng cao mức độ hài lòng của người dân và doanh nghiệp đối với chất lượng giải quyết thủ tục hành chính công, tạo sự tin cậy của cộng đồng doanh nghiệp đối với cơ quan hải quan.

Cục Hải quan Đà Nẵng đã rất quyết tâm trong việc triển khai nhiệm vụ thu NSNN năm 2018. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, hỗ trợ DN, người nộp thuế; triển khai Đề án “Nộp thuế điện tử qua Ngân hàng phối hợp thu và thông quan 24/7”, đồng thời đẩy mạnh công tác đôn đốc thu hồi nợ thuế. Đề ra các giải pháp phấn đấu thu đạt và vượt chỉ tiêu được giao năm 2018 phù hợp với từng thời điểm trong năm; đảm bảo thu đúng, thu đủ cho ngân sách nhà nước. Góp phần thực hiện thắng lợi nhiệm vụ thu NSNN, đạt 3.962 tỷ đồng, bằng 122% chỉ tiêu pháp lệnh, bằng 107% chỉ tiêu phấn đấu.

Trong công tác chống buôn lậu, gian lận thương mại, Cục Hải quan Đà Nẵng đã quán triệt và tổ chức thực hiện kịp thời chỉ đạo của Chính phủ, của BCĐ 389 Trung ương, của Bộ Tài chính và Tổng cục Hải quan cũng như các bộ ngành liên quan trong công tác chống buôn lậu, gian lận thương mại, phòng chống ma túy năm 2018. Tăng cường chỉ đạo công tác nắm tình hình, thu thập, xử lý thông tin nghiệp vụ hải quan, công tác kiểm soát rủi ro trên các tuyến, địa bàn nhằm chủ động phòng ngừa, hạn chế rủi ro, bảo đảm phân luồng thông suốt, thông quan hàng hóa nhanh chóng, đúng pháp luật; phối hợp chặt chẽ, chủ động với các lực lượng chức năng trong và ngoài ngành.

Trong đó đặc biệt chú ý kiểm soát, ngăn chặn kịp thời các hành vi buôn lậu, vận chuyển trái phép các loại ma túy, tiền chất, chất nổ, vũ khí, công cụ hỗ trợ, tài liệu phản động. Năm 2018, Cục Hải quan Đà Nẵng đã xử lý 208 vụ việc vi phạm hành chính, xử phạt 28,49 tỷ đồng, phát hiện nhiều vụ vi phạm pháp luật về hải quan. Đặc biệt, tháng 10/2018, Cục Hải quan Đà Nẵng đã chủ trì phối hợp với Công an, Biên phòng thành phố khám xét, bắt giữ 1.803,7 kg ngà voi, 6.334,2 kg vảy tê tê vận chuyển trái phép từ Nigieria (châu Phi) về cảng Đà Nẵng.

Tại Hội nghị cũng đã tổ chức thảo luận và đề ra phương hướng nhiệm vụ năm 2019 với 12 nhiệm vụ trọng tâm. Phát biểu chỉ đạo tại Hội nghị, Phó Chủ tịch UBND thành phố Đà Nẵng Trần Văn Miên ghi nhận và biểu dương thành tích của Cục trong năm 2018, đặc biệt là trong việc thực hiện nhiệm vụ thu NSNN và chiến công bắt giữ khối lượng lớn ngà voi và vảy tê tê.

Triển khai nhiệm vụ năm 2019, ông Trần Văn Miên đề nghị Cục Hải quan Đà Nẵng tập trung thực hiện các nhiệm vụ trọng tâm như:

Tiếp tục thực hiện tốt công tác giám sát quản lý hải quan, giải quyết kịp thời những khó khăn vướng mắc trong quy trình thủ tục hải quan, tạo thuận lợi tối đa cho hoạt động xuất nhập khẩu và thương mại, đầu tư, du lịch trên địa bàn, bên cạnh đó vẫn đảm bảo công tác quản lý nhà nước về hải quan và tuân thủ đúng quy định của pháp luật.

Tiếp tục triển khai có hiệu quả công tác cải cách hành chính, hiện đại hóa hải quan, ứng dụng CNTT, thủ tục hải quan điện tử, đẩy mạnh triển khai cơ chế Một cửa quốc gia đường biển, đường hàng không, đo thời gian giải phóng hàng, hệ thống Giám sát tự động VASSCM…

Triển khai quyết liệt các giải pháp thực hiện nhiệm vụ thu NSNN năm 2019 ngay từ đầu năm, đảm bảo thu đúng, thu đủ vào ngân sách nhà nước.

Tiếp tục đẩy mạnh công tác kiểm tra sau thông quan, phúc tập hồ sơ, mã số hàng hóa, trị giá hải quan, tránh thất thu về giá, thuế, gian lận thương mại…

Tiếp tục tăng cường công tác đào tạo bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ, hạn chế sai sót xảy ra, thực hiện đúng quy trình thủ tục hải quan, đồng thời không làm chậm trễ, gây khó khăn phiền hà cho doanh nghiệp.

Tiếp tục phối hợp các cơ quan đơn vị chức năng trong và ngoài ngành trong đấu tranh chống buôn lậu, gian lận thương mại, kiểm soát ma túy, văn hóa phẩm cấm nhập khẩu, các mặt hàng trọng điểm, nhạy cảm…

Chú trọng công tác xây dựng đội ngũ cán bộ công chức có tâm, có tầm, luôn coi trọng đạo đức người cán bộ công chức hải quan, xây dựng ý thức trách nhiệm và luôn phấn đấu thực hiện tốt nhiệm vụ. Đặc biệt lưu ý thái độ phục vụ người dân, doanh nghiệp, khách xuất nhập cảnh đường biển và đường hàng không.

Cục trưởng Cục Hải quan Đà Nẵng Quách Đăng Hoà nghiêm túc tiếp thu ý kiến chỉ đạo của lãnh đạo UBND thành phố và đề nghị tập thể lãnh đạo và CBCC của Cục tiếp tục phát huy truyền thống của Cục trong nhiều năm qua, đoàn kết thống nhất, đồng tâm hiệp lực để phấn đấu hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ trong năm 2019.

Nguồn:baohaiquan

Chi tiết các nhóm hàng nhập khẩu lớn nhất Việt Nam năm 2018

(HQ Online)- Trung Quốc, Hàn Quốc là những thị trường nhập khẩu hàng hóa lớn nhất của Việt Nam trong năm 2018 theo thông tin vừa được Tổng cục Hải quan công bố.

Theo Tổng cục Hải quan, tháng 12/2018 tổng kim ngạch nhập khẩu hàng hóa cả nước đạt 20,45 tỷ USD, giảm 5,3% về số tương đối và giảm 1,15 tỷ USD về số tuyệt đối so với tháng 11 trước đó.

Trong tháng này, có tới 34/53 nhóm hàng nhập khẩu chính giảm so với tháng trước. Trong đó, giảm mạnh ở các nhóm hàng: Máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện giảm 306 triệu USD; điện thoại các loại và linh kiện giảm 277 triệu USD; xăng dầu các loại giảm 130 triệu USD; vải các loại giảm 96 triệu USD; chất dẻo nguyên liệu giảm 92 triệu USD…

Năm 2018, nhập khẩu hàng hóa cả nước đạt 236,69 tỷ USD, tăng 11,1% so với năm trước.

Các mặt hàng tăng chủ yếu là: Máy vi tính sản phẩm điện tử và linh kiện tăng 4,42 tỷ USD; dầu thô tăng 2,27 tỷ USD; chất dẻo nguyên liệu tăng 1,48 tỷ USD; vải các loại và kim loại thường khác tăng 1,39 tỷ; hóa chất tăng 1,04 tỷ USD… so với năm trước.

Cụ thể, máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện đạt 42,2 tỷ USD tăng 11,7%. Với quy mô nhập khẩu này, máy vi tính sản phẩm điện tử và linh kiện vẫn duy trì vị trí dẫn đầu được xác lập kể từ năm 2017.

Các thị trường chủ yếu cung cấp nhóm hàng này cho Việt Nam gồm: Hàn Quốc với kim ngạch 17,26 tỷ USD, tăng 12,6%, chiếm 41% trong tổng kim ngạch nhập khẩu nhóm hàng này của cả nước.

Tiếp đến là thị trường Trung Quốc với 7,83 tỷ USD, tăng 10,6%; thị trường Nhật Bản với 4,06 tỷ USD, tăng 27,2%…

Máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng đạt 33,73 tỷ USD giảm nhẹ 0,5%.

Trị giá nhập khẩu của nhóm hàng này trong năm 2018 có xuất xứ từ Trung Quốc đạt 12,02 tỷ USD, tăng 10,2%; từ Hàn Quốc với 6,17 tỷ USD, giảm 29% và từ Nhật Bản với 4,43 tỷ USD, tăng 2,7%…

Điện thoại các loại và linh kiện đạt 15,87 tỷ USD giảm 3,5%.

Hàn Quốc và Trung Quốc vẫn là 2 thị trường chính cung cấp điện thoại các loại và linh kiện cho Việt Nam với trị giá chiếm đến 93,2% trị giá nhập khẩu của mặt hàng này của cả nước. Trong đó Trung Quốc là 8,58 tỷ USD, giảm 1,9%; Hàn Quốc là 6,2 tỷ USD, tăng nhẹ 0,4%.

Nhóm mặt hàng nguyên phụ liệu dệt may, da, giày (bông, xơ sợi dệt, vải các loại, nguyên phụ liệu dệt, may, da, giày) đạt 23,91 tỷ USD, tăng 13,9%.

Năm 2018, doanh nghiệp Việt Nam nhập khẩu nhóm hàng này chủ yếu có xuất xứ từ các thị trường: Trung Quốc với 10,53 tỷ USD, tăng 17,2%; Hàn Quốc với 3,14 tỷ USD, tăng 5,1%; Đài Loan với 2,43 tỷ USD, tăng 3,2%, Hoa Kỳ với 1,94 tỷ USD, tăng 22,3%…

Chất dẻo nguyên liệu và sản phẩm từ chất dẻo đạt 14,96 tỷ USD, tăng 14,7%.

Việt Nam chủ yếu nhập khẩu chất dẻo nguyên liệu và sản phẩm từ các thị trường: Hàn Quốc đạt 3,47 tỷ USD tăng 12,5%; Trung Quốc đạt 3,17 tỷ USD tăng 11,5%; Đài Loan đạt 1,52 tỷ USD tăng 16,6%…

Sắt thép các loại đạt 13,53 triệu tấn, trị giá 9,89 tỷ USD, giảm 9,8% về lượng nhưng tăng 9,0% về trị giá.

Trung Quốc tiếp tục là thị trường cung cấp sắt thép các loại lớn nhất vào Việt Nam trong năm 2018 với 6,27 triệu tấn, trị giá đạt 4,5 tỷ USD, giảm 10,2% về lượng, nhưng tăng 9,6% về trị giá.

Đứng thứ 2 là Nhật Bản với 2,23 triệu tấn​, trị giá 1,59 tỷ USD, giảm 2% về lượng và tăng 12,7% về trị giá; đứng thứ ba là Hàn Quốc với 1,7 triệu tấn, trị giá đạt 1,41 tỷ USD giảm 0,5% về lượng và tăng 15,4% về trị giá…

Hóa chất và sản phẩm từ hóa chất đạt 10,19 tỷ USD, tăng 16,9%.

Hóa chất và sản phẩm nhập khẩu về Việt Nam có xuất xứ chủ yếu từ các thị trường: Trung Quốc với 2,96 tỷ USD, tăng 19,2%; Đài Loan với 1,19 tỷ USD, tăng 27,6%; Hàn Quốc với 1,13 tỷ USD, tăng 13,7%…

Xăng dầu các loại đạt 11,43 triệu tấn, trị giá 7,64 tỷ USD, giảm 11,4% về lượng nhưng tăng 8,1% về trị giá.

Các thị trường cung cấp xăng dầu cho Việt Nam trong năm 2018 chủ yếu là: Malaysia với 3,28 triệu tấn, tăng 22,4%; Hàn Quốc với 2,42 triệu tấn, giảm 21,4%; Singapore với 2,4 triệu tấn, giảm 44,2%…

Nguồn:baohaiquan

Chi tiết các nhóm hàng xuất khẩu lớn nhất Việt Nam năm 2018

(HQ Online)- Các nhóm hàng xuất khẩu chủ lực có mức tăng thêm từ vài trăm triệu USD đến hàng tỷ USD giúp tổng kim ngạch xuất khẩu năm ngoái tiếp tục tăng trưởng hai con số.

Theo thông tin mới được Tổng cục Hải quan đưa ra, trị giá xuất khẩu hàng hóa cả nước trong tháng 12/2018 đạt 19,64 tỷ USD, giảm 9,7% so với tháng trước, tương ứng giảm 2,11 tỷ USD về số tuyệt đối.

Một số mặt hàng có biến động giảm nhiều so với tháng 11 là điện thoại các loại và linh kiện giảm 1,9 tỷ USD, tương ứng giảm 39,7%; máy ảnh, máy quay phim và linh kiện giảm 192 triệu USD, tương ứng giảm 29,9%; máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện giảm 176 triệu USD, tương ứng giảm 7%; máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng giảm 75 triệu USD, tương ứng giảm 5,2%…

Năm 2018, trị giá xuất khẩu của Việt Nam đạt 243,48 tỷ USD, tăng 13,2%, tương ứng tăng 28,37 tỷ USD so với năm trước.

Trong đó, 8 nhóm hàng tăng trưởng mạnh là hàng dệt may tăng 4,37 tỷ USD; điện thoại các loại và linh kiện tăng 3,81 tỷ USD; máy móc thiết bị dụng cụ và phụ tùng tăng 3,64 tỷ USD; máy vi tính sản phẩm điện tử và linh kiện tăng 3,43 tỷ USD, giày dép các loại tăng 1,56 tỷ USD, máy ảnh máy quay phim và linh kiện tăng 1,44 tỷ USD, sắt thép các loại tăng 1,4 tỷ USD; gỗ và sản phâm gỗ tăng 1,21 tỷ USD…

Cụ thể, điện thoại các loại và linh kiện tiếp tục là nhóm hàng xuất khẩu lớn nhất trong năm 2018 với trị giá đạt 49,08 tỷ USD, tăng 8,4% so với năm 2017.

Trung Quốc tiếp tục là thị trường đứng đầu trong nhập khẩu điện thoại các loại và linh kiện từ Việt Nam năm 2018 với kim ngạch đạt 9,38 tỷ USD tăng 31,1% so với. Tiếp đến là thị trường Hoa Kỳ với kim ngạch chỉ đạt 5,41 tỷ USD, tăng 46,1%.

Hàng dệt may, đạt 30,49 tỷ USD, tăng 16,7%.

Trong đó, kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may sang thị trường Hoa Kỳ đạt 13,7 tỷ USD, tăng 11,6%; Liên minh châu Âu (EU) đạt 4,16 tỷ USD, tăng 9,9%; Nhật Bản đạt 3,81 tỷ USD, tăng 22,6%; Hàn Quốc đạt 3,3 tỷ USD, tăng 24,9%; Trung Quốc đạt 1,5 tỷ USD, tăng mạnh 39,6% so với năm trước tương ứng tăng 437 triệu USD về số tuyệt đối.

Máy vi tính sản phẩm điện tử và linh kiện trị đạt 29,32 tỷ USD, tăng 12,9%.

Các thị trường xuất khẩu chính là Trung Quốc đạt 8,36 tỷ USD, tăng 21,9%; EU đạt 5,47 tỷ USD, tăng 18,6%; Hoa Kỳ đạt 2,86 tỷ USD, giảm 16,7%…

Nhóm hàng nông sản (gồm hàng rau quả, hạt điều, hạt tiêu, chè, cà phê, gạo, sắn và sản phẩm sắn, cao su) đạt 17,8 tỷ USD, tăng nhẹ 0,2%.

Trung Quốc, EU, khối ASEAN, Hoa Kỳ là các thị trường xuất khẩu chính của hàng nông sản. Xuất khẩu sang các thị trường này chiếm tỷ trọng lần lượt là 35,7%; 15,3%; 11,5% và 10,7%.

Cụ thể, Trung Quốc đạt 6,36 tỷ USD, giảm 4,5%; EU đạt 2,73 tỷ USD, giảm 7,3%; ASEAN đạt 2,05 tỷ USD, tăng 54,1%; Hoa Kỳ đạt 1,92 tỷ USD, giảm 5,6%.

Máy móc, thiết bị, dụng cụ và phụ tùng đạt 16,55 tỷ USD, tăng 28,2%.

Các thị trường xuất khẩu chủ yếu là Hoa Kỳ với 3,41 tỷ USD, tăng 40,3%; EU đạt trị giá 2,27 tỷ USD, tăng 21,9%; Nhật Bản đạt 1,84 tỷ USD tăng 7,1%; Ấn Độ đạt 1,7 tỷ USD, tăng gấp 5,3 lần…

Giày dép các loại đạt 16,24 tỷ USD, tăng 10,6%.

Xuất khẩu nhóm hàng này trong năm 2018 sang thị trường Hoa Kỳ đạt 5,82 tỷ USD, tăng 13,9%; EU đạt 4,72 tỷ USD, tăng nhẹ 1,5%; Trung Quốc đạt 1,49 tỷ USD, tăng 30,8%; Nhật Bản đạt 853 triệu USD, tăng 13,5%…

Hàng thủy sản đạt 8,8 tỷ USD, tăng 5,8%.

Năm 2018, hàng thủy sản chủ yếu được xuất khẩu sang các thị trường: Hoa Kỳ đạt 1,63 tỷ USD, tăng 15,7%; EU đạt 1,47 tỷ USD, tăng nhẹ 0,7%; Nhật Bản đạt 1,39 tỷ USD, tăng 6,4%…

Gỗ và sản phẩm gỗ đạt 8,91 tỷ USD, tăng 15,7%.

Gỗ và sản phẩm gỗ được xuất khẩu chủ yếu đến các thị trường: Hoa Kỳ với trị giá 3,9 tỷ USD, tăng 19,3%; Nhật Bản với 1,15 tỷ USD, tăng 12,2%; Trung Quốc với 1,07 tỷ USD, tăng nhẹ 0,4%…

Phương tiện vận tải và phụ tùng đạt 7,96 tỷ USD, tăng 13,5%.

Các thị trường nhập khẩu phương tiện vận tải và phụ tùng từ Việt Nam gồm: Nhật Bản với trị giá đạt 2,48 tỷ USD, tăng 14,1%; Hoa Kỳ đạt 1,32 tỷ USD, tăng 11,7%; Singapore đạt trị giá 394 triệu USD, tăng 80,4%; Thái Lan đạt 379 triệu USD, tăng 14%…

Máy ảnh, máy quay phim và linh kiện đạt 5,24 tỷ USD, tăng 37,8%.

Trong năm 2018, máy ảnh, máy quay phim và linh kiện chủ yếu được xuất khẩu sang các thị trường: Trung Quốc với 2,8 tỷ USD, tăng 34,1%; Hồng Kông đạt 1,3 tỷ USD; tăng 25,4%; Hàn Quốc đạt 338 triệu USD, tăng gấp 2,5 lần…

Sắt thép các loại đạt 6,26 triệu tấn, trị giá 4,55 tỷ USD, tăng 33,1% về lượng và tăng 44,5% về trị giá.

Campuchia, Hoa Kỳ, Indonesia, Malaysia và EU là 5 thị trường lớn nhất nhập khẩu nhóm hàng này của Việt Nam.

Cụ thể, lượng xuất khẩu sắt thép sang Campuchia là 1,4 triệu tấn, tăng 51,2%; Hoa Kỳ đạt 906 nghìn tấn, tăng 73,1%; Indonesia đạt 688 nghìn tấn, tăng 12,3%; Malaysia đạt 604 nghìn tấn, tăng 52%; EU đạt 484 nghìn tấn, tăng 3,8% so với năm trước.

Nguồn:baohaiquan

Việt Nam “rót” 432 triệu USD đầu tư ra nước ngoài năm 2018

(HQ Online)- Theo báo cáo của Bộ KH&ĐT, lĩnh vực tài chính ngân hàng dẫn đầu về vốn đầu tư của Việt Nam ra nước ngoài với tổng vốn đăng ký mới và tăng thêm là 105,7 triệu USD.

Theo đó, trong năm 2018, cả nước có 149 dự án được cấp mới giấy chứng nhận đăng ký đầu tư ra nước ngoài, với tổng vốn đầu tư bên Việt Nam 376,1 triệu USD.

Cũng trong năm 2018 có 35 lượt dự án điều chỉnh vốn với tổng vốn đầu tư bên Việt Nam tăng thêm 56 triệu USD. NHư vậy, tính chung trong 12 tháng năm 2018, tổng vốn đầu tư Việt Nam ra nước ngoài cấp mới và tăng thêm đạt 432,1 triệu USD.

Bộ KH&ĐT cho biết, trong năm 2018, lĩnh vực tài chính ngân hàng dẫn đầu về vốn đầu tư của Việt Nam ra nước ngoài với tổng vốn đăng ký mới và tăng thêm là 105,7 triệu USD, chiếm 24,4% tổng vốn đầu tư.

Lĩnh vực bán buôn, bán lẻ đứng thứ hai với 82,9 triệu USD và chiếm 19,1% tổng vốn đầu tư. Lĩnh vực nông, lâm nghiệp, thủy sản đứng thứ ba với 52,3 triệu USD, chiếm 12,1% tổng vốn đầu tư, còn lại là các dự án thuộc các lĩnh vực khác.

Trong năm 2018, Việt Nam đã đầu tư sang 38 quốc gia, vùng lãnh thổ. Trong đó, Lào là địa bàn dẫn đầu với 81,5 triệu USD, chiếm 18,8% tổng vốn đầu tư. Australia xếp thứ hai với 55,5 triệu USD, chiếm 12,8% tổng vốn đầu tư.

Đứng thứ ba Hoa Kỳ với tổng vốn đầu tư 52,9 triệu USD, chiếm 12,2% tổng vốn đầu tư và tiếp theo là Campuchia, Slovakia, Cuba.

Nguồn:baohaiquan

5 nhóm hàng xuất khẩu “chục tỷ USD” năm 2018

(HQ Online)- Số nhóm hàng xuất khẩu chủ lực không thay đổi so với năm 2017 nhưng trị giá tăng thêm của từng nhóm lên đến hàng tỷ USD, góp phần quan trọng giúp nước ta lập kỷ lục về xuất siêu.

Theo Tổng cục Hải quan, năm 2018, tổng trị giá xuất nhập khẩu hàng hoá của Việt Nam ước đạt 482,23 tỷ USD, tăng 12,6% so với năm 2017 (theo kế hoạch, ngày 10/1/2019, Tổng cục Hải quan mới công bố số liệu sơ bộ về hoạt động xuất nhập khẩu năm 2018-PV).Trong đó, tổng trị giá xuất khẩu ước đạt 244,72 tỷ USD, tăng 13,8%; tổng trị giá nhập khẩu ước đạt 237,51 tỷ USD, tăng 11,5%.

Cán cân thương mại hàng hóa của Việt Nam ước thặng dư 7,21 tỷ USD, cao hơn 5,1 tỷ USD so với con số xuất siêu của năm 2017 (với 2,11 tỷ USD).

Góp phần quan trọng vào kết quả xuất khẩu và mức thặng dư thương mại là 5 nhóm hàng xuất khẩu chủ lực với kim ngạch từ 10 tỷ USD trở lên.

Điện thoại các loại và linh kiện tiếp tục là nhóm hàng xuất khẩu lớn nhất với trị giá ước đạt hơn 50 tỷ USD, tăng tới 10,5% so với năm trước.

Thị trường xuất khẩu chủ yếu của nhóm hàng này (cập nhật hết tháng 11 của Tổng cục Hải quan) là: Liên minh châu Âu (EU 28 nước) đạt 12,7 tỷ USD, tăng 12,5%; Trung Quốc với 8,4 tỷ USD, tăng 53,5%; Hoa Kỳ với 5,2 tỷ USD, tăng 47,1%; Hàn Quốc: 4,14 tỷ USD, tăng 13,1%; Tiểu Vương quốc Ả Rập Thống Nhất: 3,64 tỷ USD, giảm 1,5%… so với cùng kỳ 2017.

Dệt may là nhóm hàng xuất khẩu lớn thứ 2 với trị giá ước đạt 30,45 tỷ USD, tăng 16,6% so với năm trước.

Hoa Kỳ là thị trường xuất khẩu lớn nhất của ngành hàng này với kim ngạch đạt 12,45 tỷ USD, tăng 11,8% và chiếm tỷ trọng 45%;.

Các thị trường lớn khác là EU đạt trị giá 3,78 tỷ USD, tăng 11,5%; Nhật Bản đạt trị giá 3,48 tỷ USD, tăng 24,3%; Hàn Quốc đạt trị giá 3,05 tỷ USD, tăng 24,7%…

Máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện ước đạt 29,45 tỷ USD, tăng 13,4%, là nhóm hàng đứng vị trí thứ 3.

Các thị trường xuất khẩu chính là Trung Quốc đạt 7,66 tỷ USD, tăng 23,9%; EU đạt 5,06 tỷ USD, tăng 19,5%; Hoa Kỳ đạt 2,64 tỷ USD, giảm 17,3%; Hàn Quốc với 2,3 tỷ USD, tăng 40,1%…

Máy móc thiết bị, dụng cụ, phụ tùng với tốc độ tăng trưởng cao nhất (trong 5 nhóm hàng chủ lực) lên đến 28%, với tổng kim ngạch ước đạt 16,53 tỷ USD đã vượt giày dép trở thành nhóm hàng xuất khẩu lớn thứ tư.

Hoa Kỳ là thị trường xuất khẩu lớn nhất với 3,08 tỷ USD, tăng 39%; EU đạt trị giá 2,07 tỷ USD, tăng 23,1%; Nhật Bản với 1,69 tỷ USD tăng 8,1%; Ấn Độ với 1,63 tỷ USD, tăng gấp 5,5 lần…

Giày dép đứng thứ 5 với kim ngạch ước đạt 16,3 tỷ USD, tăng 11% so với năm trước.

Xuất khẩu nhóm hàng này trong 11 tháng/2018 tập trung vào thị trường Hoa Kỳ đạt trị giá 5,26 tỷ USD, tăng 14,5%; EU đạt trị giá 4,25 tỷ USD, tăng nhẹ 1,6%; Trung Quốc đạt trị giá 1,35 tỷ USD, tăng 30,2%; Nhật Bản đạt 767 triệu USD, tăng 14,1%…

Với tổng kim ngạch 142,73 tỷ USD, 5 nhóm hàng trên đóng góp tới 58,3% tổng kim ngạch xuất khẩu cả nước năm 2018.

Nguồn:baohaiquan

Kỷ lục xuất khẩu nông sản 2018

(HQ Online)- Vượt qua nhiều khó khăn, 2018 được đánh giá là năm thắng lợi rực rỡ của xuất khẩu nông, lâm, thủy sản nói chung khi giá trị xuất khẩu các mặt hàng chủ lực đều tăng; thị phần xuất khẩu được duy trì, củng cố, mở rộng.

Khó khăn chất chồng

Theo Bộ NN&PTTN, bối cảnh năm 2018 có nhiều biến động, tiêu biểu là cuộc chiến tranh thương mại Mỹ – Trung; sự gia tăng bảo hộ thông qua các tiêu chuẩn về quản lý chất lượng và an toàn vệ sinh thực phẩm của các thị trường nông sản lớn của Việt Nam bao gồm Mỹ, EU, Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc… đối với các sản phẩm nông nghiệp nhập khẩu. Thị trường nông sản thế giới năm 2018 ghi nhận sự sụt giảm mạnh về giá cả các mặt hàng cây công nghiệp trong bối cảnh cạnh tranh gay gắt giữa các nước xuất khẩu khiến cho nguồn cung tăng nhanh trong khi nhu cầu thế giới giảm hoặc tăng trưởng chậm.

Không chỉ khó khăn về giá cả và nhu cầu, các thị trường xuất khẩu lớn của Việt Nam ngày càng đặt ra các tiêu chuẩn kỹ thuật khắt khe đối với nông sản nhập khẩu. Cụ thể như: Thị trường Trung Quốc không chỉ nâng cao tiêu chuẩn về chất lượng nông sản nhập khẩu mà còn tăng cường quản lí và siết chặt thương mại biên giới.

Thị trường EU vẫn giữ cảnh báo thẻ vàng đối với thủy sản khai thác nhập khẩu từ Việt Nam, đồng thời dự thảo các quy định mới về các chất sử dụng trên sản phẩm giống cây trồng.

Trong khi đó, thị trường Hoa Kỳ tiếp tục duy trì và gia tăng các biện pháp bảo hộ thông qua áp thuế chống bán phá giá đối với các mặt hàng thủy sản Việt Nam; tiếp tục chương trình Thanh tra đối với cá da trơn theo Đạo luật Nông nghiệp (Farm Bill); đang triển khai mạnh mẽ việc áp dụng Đạo luật Lacey Act đối với nhóm hàng gỗ và sản phẩm gỗ.

Ngoài ra, trong năm 2018, thị trường Nhật Bản và Hàn Quốc cũng thường xuyên rà soát, điều chỉnh các quy định về an toàn thực phẩm và gia tăng tần suất kiểm tra hàng nông, thủy sản nhập khẩu, gây bất lợi đến tiến độ xuất khẩu của Việt Nam vào các thị trường này.

Vượt khó thu kỷ lục

Tuy nhiên, Bộ NN&PTNT nêu rõ: Vượt lên khó khăn, kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thủy sản nói chung trong 11 tháng năm 2018 đạt 36,3 tỷ USD, tăng 9,1% so với cùng kỳ năm 2017. Ước tính cả năm con số này sẽ đạt trên 40 tỷ USD. Đây là con số kỷ lục của ngành nông nghiệp Việt Nam, khẳng định vị thế cường quốc về xuất khẩu nông sản trên thế giới (đứng thứ 15 và đã xuất sang thị trường hơn 180 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới).

Đại diện Bộ NN&PTNT cho hay: Một trong những điểm nổi bật của xuất khẩu nông, lâm, thủy sản 2018 là thị phần xuất khẩu đều duy trì, củng cố và mở rộng. 5 thị trường xuất khẩu các mặt hàng nông, lâm, thủy sản chính của Việt Nam là Trung Quốc, Mỹ, Nhật Bản, ASEAN và Hàn Quốc chiếm thị phần lần lượt là 22,9% (tăng 3,6% so với năm 2017); 17,9% (tăng 9,4%); 19,1% (tăng 7,1%); 10,64% (tăng 11,0%) và 6,9% (tăng 29,4%). Các thị trường mới nổi, thị trường ngách (Trung Đông, châu Phi, Đông Âu) đều được lực chọn phát triển bài bản, có tính bổ trợ cho các thị trường trọng điểm.

Bên cạnh đó, điểm nổi bật phải kể đến là giá trị xuất khẩu các mặt hàng chủ lực đều tăng, điển hình là gạo, rau quả, cá tra, đồ gỗ và lâm sản. Cụ thể: Đối với mặt hàng gạo, khối lượng gạo XK 11 tháng năm 2018 ước đạt 5,7 triệu tấn và 2,9 tỷ USD, tăng 5,6% về khối lượng và tăng 17,7% về giá trị so với cùng kỳ năm 2017. Tiếp đó là rau quả với giá trị XK 11 tháng năm 2018 ước đạt 3,5 tỷ USD, tăng 11,6% so với cùng kỳ năm 2017…

Đánh giá về những kết quả đạt được trong năm 2018, Bộ trưởng Bộ NN&PTNT Nguyễn Xuân Cường cho rằng: Có được thành tích trên là nhờ cả hệ thống chính trị cùng vào cuộc, từ người nông dân tới doanh nghiệp, các hợp tác xã… Việt Nam đã chủ động từng bước nâng cao chất lượng nhiều mặt hàng nông sản theo các tiêu chuẩn quốc tế. Mặt khác, Việt Nam cũng đã tích cực, chủ động trao đổi, đàm phán để tháo gỡ các rào cản kỹ thuật lẫn thương mại đối với các thị trường lớn là EU, Mỹ, Trung Quốc.

Bộ trưởng Nguyễn Xuân Cường nêu rõ: Thời gian tới, ngành cần tiếp tục đẩy mạnh tổ chức lại sản xuất gắn với chuỗi giá trị, theo các vùng sản xuất hàng hóa tập trung; tập trung khuyến khích chế biến sản phẩm để nâng cao giá trị gia tăng của nông sản hàng hóa. Trong đó, ngành cần tổ chức, xây dựng được các chuỗi liên kết từ sản xuất đến chế biến, tiêu thụ sản phẩm với nòng cốt, trung tâm là các chủ thể: Nông dân, hợp tác xã, doanh nghiệp; đẩy mạnh việc xây dựng, quảng bá thương hiệu từng loại nông sản hàng hóa.

“Mục tiêu tổng quát của tái cơ cấu ngành giai đoạn tới là xây dựng nền nông nghiệp thông minh, hội nhập quốc tế, thích ứng với biến đổi khí hậu, nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững gắn với xây dựng nông thôn mới phồn vinh, văn minh”, Bộ trưởng Nguyễn Xuân Cường nhấn mạnh.

Nguồn:baohaiquan

Đón sự kiện lớn kết năm 2018, tỷ giá USD/VND hạ nhiệt

“Ở thời điểm này, vốn VND có giá hơn. Mà thị trường giờ cũng đã quen rồi”, lãnh đạo một ngân hàng thương mại trao đổi với VnEconomy về diễn biến tỷ giá USD/VND, sau khi khép lại ngày đầu tiên đón sự kiện Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED) tăng lãi suất.

Thị trường Mỹ đêm qua thì không nhẹ nhàng như vậy.

2h sáng (giờ Việt Nam), Phố Wall chứng kiến cú rơi thẳng đứng cực mạnh của chỉ số DJIA, chỉ vài phút sau phán quyết của FED công bố.

Phán quyết, vì khác với những quyết định trước đó trong năm, kết quả cuộc họp lần này của FED đi cùng với kỳ vọng khác của giới đầu tư nói chung.

Mặc dù thị trường đã dự báo trước khả năng cơ quan này sẽ tiếp tục tăng lãi suất đồng USD lần thứ tư trong năm, nhưng một kỳ vọng khác đã nhen nhóm lên trước thềm sự kiện: có thể FED sẽ ngừng tăng lãi suất, hoặc tăng nốt lần này và dừng trong năm 2019.

Kỳ vọng trên một phần được “thắp lên” sau khi Tổng thống Mỹ Donald Trump liên tục có phản ứng, như một áp lực nào đó để FED ngừng quá trình tăng lãi suất; một số chuyên gia hàng đầu của Mỹ cũng lên tiếng trước thềm cuộc họp theo chiều hướng này.

Nhưng, FED tiếp tục độc lập và cứng rắn, với quyết định tăng thêm 0,25 điểm phần trăm lãi suất, cũng như tiếp tục hé mở khả năng tăng thêm hai lần nữa trong năm 2019 (hạ tần suất so với dự kiến ba lần đưa ra ở kỳ họp trước).

Trước thềm cuộc họp, với kỳ vọng lãi suất ngừng tăng hoặc có sự ôn hòa hơn của FED, chỉ số DJIA tăng mạnh, tăng tới hơn 300 điểm sát nút thời điểm công bố. Nhưng, như trên, chỉ vài phút sau phán quyết của FED được công bố, DJIA rơi thẳng đứng, mất hết số điểm tăng được trước đó. Và nếu tính cả chiều giảm với thời điểm -500 điểm, chỉ số này mất tới hơn 800 điểm – một phản ứng mạnh mẽ.

Với thị trường Việt Nam, bên cạnh phản ứng trên sàn chứng khoán, những con mắt quan tâm hẳn cũng nhìn về cặp tỷ giá USD/VND hôm nay – ngày đầu tiên đón quyết định tăng lãi suất của FED.

Thế nhưng, trên biểu niêm yết của các ngân hàng thương mại, giá USD bán ra đầu giờ sáng thậm chí còn giảm một bước khoảng 20 VND so với đóng cửa hôm qua. Một phần, giá bán này bắt nhịp cú rơi khá mạnh, tới 25 VND, của giá USD trên thị trường liên ngân hàng phiên liền trước.

Cuối ngày, giá USD bán ra của các ngân hàng thương mại vẫn ổn định, thậm chí giảm thêm một nhịp nữa, ở quanh 23.325 VND, giảm 35 VND so với mức 23.360 VND phổ biến đầu tuần này.

Ngày đầu tiên, trên thị trường chứng khoán Việt Nam các chỉ số diễn biến tương đối cân bằng, thậm chí có xu hướng hồi phục lên thay vì có phản ứng tiêu cực; tỷ giá USD/VND cũng có bước hạ nhiệt như trên. Cả hai chỉ báo có độ nhạy này đều không có nhiều xáo trộn.

Một ngày chưa vội khẳng định xu hướng. Nhưng theo góc nhìn của một lãnh đạo ngân hàng thương mại khi trao đổi với VnEconomy, đây là lần thứ tư trong năm nay FED tăng lãi suất, thị trường đã quen, đã dự báo trước và đã phản ánh trước.

Theo người trong cuộc này, ở thời điểm này, vốn VND mới là có giá, do yếu tố mùa vụ thường thấy cuối năm, cũng như trong xu hướng tăng lãi suất VND thể hiện gần đây. Hoạt động chuyển đổi ngoại tệ sang VND đáp ứng nhu cầu thanh toán, chi trả cuối năm cũng thể hiện rõ.

Trong ngày đầu tiên, Ngân hàng Nhà nước giữ nguyên tỷ giá trung tâm giữa VND với USD, nhưng trước đó cũng đã có chuỗi tăng từng bước để đón đầu sự kiện FED tăng lãi suất.

Mặt khác, theo vị lãnh đạo ngân hàng trên, điểm quan trọng nhất vẫn là việc cân đối, điều tiết gián tiếp của Ngân hàng Nhà nước trên thị trường liên ngân hàng, cũng như các nguồn liên quan. Trong đó, điểm hoán đổi lãi suất giữa VND với USD được giữ hợp lý trong thời gian qua và hiện nay.

Trước đó, nhà điều hành cũng đã phát đi tín hiệu đảm bảo cung ngoại tệ nếu thị trường cần, quan việc thực hiện bán ngoại tệ kỳ hạn cho các tín dụng.

Và như thể hiện những tháng gần đây, sau biến động tỷ giá USD/VND từ cuối tháng 6/2018, rủi ro tỷ giá bộc lộ, hoạt động vay ngoại tệ có hướng dịch chuyển sang vay VND, tín dụng ngoại tệ đã giảm mạnh. Cùng đó, Ngân hàng Nhà nước vừa công định hướng về chính sách tín dụng ngoại tệ từ năm tới, theo hướng thu hẹp dần đối tượng.

Như vậy, ngày đầu tiên đón sự kiện FED tăng lãi suất đã trôi qua mà không có xáo trộn lớn về tỷ giá USD/VND.

Đó dự kiến cũng là sự kiện lớn cuối cùng, khép lại một năm 2018 đầy biến động, đặc biệt từ các yếu tố bên ngoài như FED bốn lần tăng lãi suất, chiến tranh thương mại Mỹ – Trung, đồng Nhân dân tệ giảm giá kỷ lục, lợi suất trái phiếu Chính phủ Mỹ biến động mạnh…

Nhưng về cơ bản tỷ giá USD/VND vẫn biến động trong tầm kiểm soát của Ngân hàng Nhà nước, không nhiều xáo trộn lớn và chỉ một vài thời điểm có biểu hiện căng thẳng trong năm.

Trong bối cảnh đó, tính chung 2018, Ngân hàng Nhà nước vẫn mua ròng được lượng lớn ngoại tệ và dự trữ ngoại hối quốc gia của Việt Nam tiếp tục có một năm cải thiện với kỷ lục mới.

Nguồn:baohaiquan

Đại diện Nhật Bản, Hàn Quốc kiến nghị tại Diễn đàn VBF 2018

(HQ Online)- Tại Diễn đàn Doanh nghiệp thường niên (VBF) 2018 được tổ chức sáng 4/12, tại Hà Nội, đại diện hai Hiệp hội DN đến từ hai quốc gia thường xuyên dẫn đầu nguồn vốn FDI vào Việt Nam đã có những kiến nghị giải pháp giúp Việt Nam tận dụng được các cơ hội trong bối cảnh xu hướng dịch chuyển thương mại và đầu tư toàn cầu.

 

Kiến nghị tại Diễn đàn về thúc đẩy hình thức đối tác công tư (PPP) trong lĩnh vực hạ tầng, ông Ryu Hang Ha, Chủ tịch Hiệp hội DN Hàn Quốc tại Việt Nam (KOCHAM) cho biết, lĩnh vực phát triển đô thị thông minh, công nghệ thông tin và cơ sở hạ tầng công cộng là lợi thế của Hàn Quốc, cũng sẽ là những lĩnh vực hợp tác nhiều tiềm năng.

Hình thức đối tác công tư PPP là phương thức thực hiện dự án trong đó các DN tư nhân có lợi nhuận từ việc đầu tư, xây dựng, bảo trì và vận hành cơ sở hạ tầng công cộng, trong khi Chính phủ giảm thuế và hỗ trợ một phần về tài chính.

Để thúc đẩy đầu tư vào hình thức PPP, theo đại diện KOCHAM, các nhà đầu tư cần được cho phép có nhiều lựa chọn khác nhau để huy động vốn đầu tư. Tuy nhiên, hiện nay, các quy định nghiêm ngặt, ví dụ quy định hiện hành là tổ chức phát hành trái phiếu phải có lợi nhuận trong năm trước thì mới được phát hành trái phiếu, và phải có tài sản an toàn (tiền mặt), quy định này đã trở thành trở ngại cho việc đầu tư.

Ông Ryu Hang Ha cho biết, trong Nghị định 63/2018/NĐ-CP sửa đổi quy định về PPP cũng có những khía cạnh tích cực như tinh giản các thủ tục hành chính cho các dự án PPP.

“Tuy nhiên điểm quan trọng nhất là ‘sự đảm bảo của Chính phủ’ đối với việc chia sẻ rủi ro giữa Chính phủ và nhà đầu tư vẫn chưa được sửa đổi”, đại diện KOCHAM đánh giá.

Do đó, đại diện KOCHAM cho rằng, việc hoàn thiện các cơ sở pháp lý để công nhận các phương thức huy động vốn khác nhau của DN tư nhân và “sự bảo đảm của Chính phủ” để có thể giảm thiểu rủi ro của các nhà đầu tư có khả năng giúp các dự án PPP trong lĩnh vực cơ sở hạ tầng sẽ được thực hiện tích cực hơn nữa.

Các dự án PPP cũng là nội dung trọng tâm đầu tiên mà ông Koji Ito, Chủ tịch Hiệp hội DN Nhật Bản tại Việt Nam đề cập tới trong các kiến nghị gửi tới VBF 2018.

Ông Koji Ito cho rằng, trong mấy năm qua, Chính phủ Việt Nam đã có một số biện pháp tăng cường thắt chặt vay vốn vì tỉ lệ nợ công trên GDP hiện đã gần chạm mức trần 65% mà Chính phủ đề ra.

“Tuy nhiên, chúng tôi cho rằng phát triển cơ sở hạ tầng là một yêu cầu quan trọng đối với tăng trưởng kinh tế về dài hạn của Việt Nam, trong đó áp dụng linh hoạt các cơ chế PPP chắc chắn là một trong những cách hiệu quả nhất để thực hiện mục tiêu này”, ông Koji Ito nói.

Để đảm bảo, Chính phủ đã có một số biện pháp khuyến khích PPP mà chúng tôi rất hoan nghênh. Chẳng hạn, việc ban hành Nghị định 63 vào tháng 5/2018 đã giúp đơn giản hóa thủ tục đầu tư PPP, như việc bỏ quy định phải xin Chứng nhận đăng ký đầu tư cho các dự án.

Tuy nhiên, để nâng cao hiệu quả của công tác khuyến khích đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng của Việt Nam, đại diện Hiệp hội DN Nhật Bản đề xuất 4 nội dung liên quan đến Nghị định này để Chính phủ xem xét. Cụ thể là:

Thứ nhất, cần quy định rõ “luật nước ngoài” được cho phép sử dụng làm luật áp dụng;

Thứ hai, cho phép giải quyết tranh chấp bởi trọng tài nước ngoài đối với toàn bộ các dự án đầu tư cơ sở hạ tầng, trong đó có các dự án liên quan đến bất động sản.

Thứ ba, cho phép nhà đầu tư và các đơn vị triển khai dự án được thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản trên đất và quyền khai thác các công trình dự án.

Thứ tư, Chính phủ Việt Nam cần san sẻ một phần rủi ro liên quan đến việc ngừng thanh toán và chứng nhận ngoại hối.

Nguồn:baohaiquan

Việt Nam xếp thứ 9 về Chỉ số thương mại bền vững 2018

(HQ Online)- Ngày 23/11, tại Hà Nội, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) phối hợp với Hinrich Foundation (tổ chức phi lợi nhuận chuyên nghiên cứu và phát triển chính sách thương mại ở châu Á) công bố “Chỉ số Thương mại bền vững 2018”.

Chỉ số thương mại bền vững năm 2018 đánh giá mức độ sẵn sàng của 19 nền kinh tế châu Á và Mỹ khi tham gia vào thương mại bền vững với 28 chỉ báo trên 3 lĩnh vực được coi là trụ cột: kinh tế, xã hội và môi trường. Trong đó, riêng kinh tế có 14 chỉ báo chính và 4 chỉ báo phụ. Lĩnh vực môi trường bao gồm 6 chỉ báo và xã hội 4 chỉ báo.

Hồng Kông (Trung Quốc) được xếp đầu bảng Chỉ số với hạ tầng kỹ thuật và lực lượng lao động tốt; tăng trưởng ổn định trên lĩnh vực giáo dục và ổn định chính trị. Sau đó là Singapore, Hàn Quốc, Nhật Bản… Đứng cuối cùng của bảng xếp hạng là Myanmar.

Việt Nam đứng thứ 9 trên bảng xếp hạng, tăng 2 điểm so với năm 2016 và tăng 6 điểm về mức thu nhập quốc gia, xếp hạng GDP tính theo đầu người của Việt Nam đứng thứ 15 trong bảng xếp hạng. Việt Nam cũng là một trong những quốc gia có biểu hiện tốt nhất trên bảng chỉ số này.

Theo Hinrich Foundation chỉ số của Việt Nam được cải thiện nhất là các chỉ số giảm bớt rào cản thuế quan, phi thuế quan và thu hút đầu tư nước ngoài. Cùng với 12 quốc gia khác, Việt Nam đạt mức điểm cao về mức độ mở cửa thị trường. Đây là dấu hiệu tốt cho thấy sự mở cửa thương mại và trao đổi hàng hóa xuyên biên giới.

Về xã hội, Việt Nam đã vươn lên vị trí thứ 8 và cao hơn các nước có thu nhập trung bình như Trung Quốc, Thái Lan, Malaysia. Đây là thành quả của việc hạn chế bất bình đẳng và cải thiện tiêu chuẩn lao động (được xây dựng trên chỉ số việc hạn chế lao động cưỡng bức, lao động trẻ em và cải thiện quyền của người lao động).

Tuy nhiên về môi trường, Việt Nam lại lại xếp thứ 16, giảm 5 bậc so với năm 2016, giảm 10,4 điểm và 5 bậc so với năm 2016, do tỷ lệ phá rừng vẫn ở chỉ số cao.

Phát biểu tại buổi công bố, ông Stephen Olson, chuyên gia nghiên cứu quỹ Hinrich Foundation nhận định, Việt Nam là một quốc gia tiêu biểu với nhiều tiến độ vững chắc hướng tới thương mại bền vững.

Đồng thời, Việt Nam cũng đã có nhiều nỗ lực trong thu hút vốn đầu tư nước ngoài. Với các tập đoàn đa quốc gia ngày càng coi trọng các yếu tố bền vững trong quyết định đầu tư, những chính sách thương mại bền vững đã giúp Việt Nam nâng cao tỷ lệ vốn FDI trong GDP. Việt Nam đã trở thành một mắt xích quan trọng trong chuỗi cung ứng trong khu vực Đông Á cùng với Nhật Bản, Hàn Quốc và Singapore.

Để đảm bảo thương mại là yếu tố thúc đẩy tăng trưởng bền vững ở Việt Nam và tiếp tục trở thanh điểm nóng thu hút vốn đầu tư nước ngoài, ông Stephen Olson khuyến cáo, Việt Nam cần nhìn lại những chỉ số môi trường quan trọng, nhất là tỷ lệ phá rừng hiện đang nằm trong danh sách những chỉ số cao nhất.

Ngoài ra, giảm thiểu chi phí thương mại cũng là một ưu tiên cần được xem xét và cần khắc phục những điểm yếu có tính chất cơ bản như giảm trừ các chi phí thương mại liên quan đến cơ sở hạ tầng, hậu cần và các chi phí khác từ hệ thống pháp lý và quản lý; giảm bớt những rủi ro trong quá trình thanh toán thương mại, giảm tỷ lệ phá rừng và ô nhiếm nguồn nước do sản xuất thương mại và đặc biệt là vấn nạn tham nhũng.

Nguồn:baohaiquan

Bộ Giao thông kết nối 100% thủ tục vào NSW trong năm 2018

(HQ Online)- Đây là nội dung quan trọng được đưa ra trong Kế hoạch hành động thúc đẩy Cơ chế một cửa quốc gia (NSW), Cơ chế một cửa ASEAN (ASW), cải cách công tác kiểm tra chuyên ngành đối với hàng hoá XNK và tạo thuận lợi thương mại giai đoạn 2018-2020 của Bộ Giao thông vận tải (GTVT) vừa được bộ này ban hành tại Quyết định 2413/QĐ-BGTVT.

Sử dụng chứng từ điện tử trong thực hiện thủ tục hành chính

Theo kế hoạch, Bộ GTVT đưa ra mục tiêu, tất cả các thủ tục hành chính liên quan đến quản lý nhà nước của Bộ đối với hàng hóa XNK, quá cảnh; người và phương tiện vận tải xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh được thực hiện thông qua NSW dưới hình thức dịch vụ công trực tuyến mức độ 4.

Bộ tham gia và triển khai đầy đủ ASW theo đúng cam kết và lộ trình thực hiện của các nước ASEAN; sẵn sàng về mặt kỹ thuật để kết nối và trao đổi thông tin với các đối tác thương mại khác ngoài ASEAN theo các hiệp định và thỏa thuận mà Việt Nam là thành viên.

Đối với công tác kiểm tra chuyên ngành, Bộ GTVT quyết tâm cải cách toàn diện công tác này theo nguyên tắc chỉ kiểm tra tại cửa khẩu đối với các mặt hàng tác động đến an toàn xã hội, an ninh quốc gia, môi trường đạo đức xã hội, thuần phong mỹ tục, phải kiểm dịch hoặc ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe người dân.

Đối với các mặt hàng khác, việc kiểm tra chất lượng hợp chuẩn hợp quy chuyển sang hậu kiểm hoặc dựa trên đánh giá mức độ tuân thủ của DN, mức độ rủi ro của hàng hóa theo từng thời kỳ và phải dựa trên hệ thống các tiêu chuẩn, quy chuẩn cụ thể; trường hợp không thể ban hành quy chuẩn, tiêu chuẩn kỹ thuật phải có phương pháp kiểm tra công khai minh bạch.

Cụ thể, hết năm 2018, hoàn thành triển khai 100% thủ tục hành chính thông qua NSW.

Đến hết năm 2020, 100% các thủ tục hành chính của Bộ GTVT thực hiện thông qua NSW được thu phí, lệ phí (nếu có) bằng phương thức điện tử.

Đáng chú ý, các chứng từ điện tử (giấy phép điện tử, giấy chứng nhận điện tử và các giấy tờ điện tử tương đương) được cấp thông qua NSW được sử dụng khi thực hiện các thủ tục hành chính khác có liên quan.

Bên cạnh đó, Bộ GTVT thực hiện trao đổi và công nhận lẫn nhau về các chứng từ thương mại được cấp dưới dạng điện tử với các nước ASEAN và trao đổi, xử lý chứng từ thương mại với các nước, khối – cộng đồng kinh tế theo các thỏa thuận và cam kết quốc tế mà Việt Nam là thành viên.

Theo Bộ GTVT, năm 2019, tất cả các lô hàng thuộc diện kiểm tra chuyên ngành trước thông quan (thuộc thẩm quyền quản lý của Bộ) phải có đầy đủ tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, tiêu chí kiểm tra.

Trong Kế hoạch, Bộ GTVT đưa ra mục tiêu là một trong những bộ dẫn đầu về triển khai NSW.

Thí điểm thuê dịch vụ CNTT

Theo Bộ GTVT, để đạt được các mục tiêu kể trên, thời gian tới, Bộ tập trung rà soát để đề xuất sửa đổi, bổ sung các nghị định, quy định về thủ tục hành chính trong lĩnh vực kiểm tra chuyên ngành đối với hàng hoá XNK, quá cảnh; người và phương tiện xuất nhập cảnh, quá cảnh.

Hoạt động trên được thực hiện theo hướng cắt giảm các thủ tục hành chính không cần thiết; đơn giản hóa quy trình thực hiện thủ tục hành chính; đơn giản hóa bộ hồ sơ, chứng từ theo hướng áp dụng tối đa chứng từ điện tử; sử dụng lại các thông tin, chứng từ điện tử, quyết định hành chính đã được lưu trên Cổng thông tin một cửa quốc gia thay vì yêu cầu nộp hoặc xuất trình các thông tin, chứng từ, quyết định hành chính (bằng bản giấy).

Đồng thời, đảm bảo đầy đủ cơ sở pháp lý cho việc cung cấp dịch vụ công mức độ 4 thông qua NSW; rà soát các văn bản quy định về điều kiện, tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, tiêu chí kiểm tra chuyên ngành để sửa đổi, bổ sung theo hướng công khai minh bạch; khuyến khích xã hội hóa các hoạt động kiểm tra chuyên ngành.

Bộ GTVT cũng chú trọng xây dựng, nâng cấp hệ thống CNTT phục vụ triển khai NSW, ASW theo hướng xử lý tập trung trên nền tảng công nghệ thống nhất nhằm tiết kiệm, đảm bảo hiệu quả đầu tư, tận dụng nguồn lực cũng như tăng cường khả năng bảo mật, an toàn thông tin.

Đáng chú ý, trong kế hoạch, Bộ GTVT đề cập đến việc thí điểm thuê dịch vụ của bên thứ ba trong cung cấp các tiện ích CNTT cho các cơ quan nhà nước trong thực hiện thủ tục hành chính thông qua NSW và ASW.

Một giải pháp nữa được Bộ GTVT đặc biệt quan tâm là công tác đào tạo, tuyên truyền và hỗ trợ.

Theo đó, Bộ tiếp tục xây dựng kế hoạch, triển khai đào tạo, tuyên truyền, nâng cao nhận thức cho người dân, doanh nghiệp về NSW, ASW.

Bên cạnh đó, tập trung tổ chức đào tạo đội ngũ cán bộ chuyên trách về CNTT ở Trung tâm CNTT và ở các cục, tổng cục để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ; đào tạo, tập huấn cho CBCC xử lý thông tin trên các hệ thống phần mềm nghiệp vụ để giải quyết thủ tục hành chính…

Đến ngày 10/11/2018, Bộ GTVT đã hoàn thành xây dựng và chính thức kết nối 70 thủ tục hành chính vào Cơ chế một cửa quốc gia. Đây là đơn vị có số lượng thủ tục tham gia kết nối nhiều nhất đến thời điểm hiện tại, chiếm gần 54% tổng số thủ tục hành chính của các bộ, ngành tham gia NSW trong cùng thời điểm (70/130 thủ tục).

Để kết nối 100% thủ tục vào NSW, Bộ GTVT phấn đấu hoàn thành kết nối 5 thủ tục còn lại trong tháng 11 này.

Nguồn:baohaiquan