Kiểm tra chuyên ngành vẫn chưa thực sự tạo thuận lợi cho doanh nghiệp

(HQ Online)- Đẩy mạnh cải cách công tác quản lý, kiểm tra chuyên ngành ( KTCN) đối với hàng hóa XK, NK là vấn đề được Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo quyết liệt trong những năm qua. Xung quanh vấn đề này, phóng viên Báo Hải quan phỏng vấn ông Ngô Minh Hải, Phó Cục trưởng Cục Giám sát quản lý về hải quan (Tổng cục Hải quan).

Qua công tác quản lý của cơ quan Hải quan, ông đánh giá như thế nào về kết quả cải cách quản lý, KTCN đối với hàng hóa XK, NK trong thời gian qua?

– Trên thực tế trong công tác quản lý, KTCN thời gian qua vẫn còn những điểm chưa thực sự tạo thuận lợi cho hoạt động XK, NK. Chính vì vậy liên tiếp trong các năm từ 2014 đến 2018, Chính phủ đã có các Nghị quyết 19/NQ-CP về các nhiệm vụ và giải pháp để cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, trong đó có các nội dung chỉ đạo về cải cách về quản lý, KTCN. Thời gian qua, các bộ đã chủ động, tích cực trong việc cải cách công tác liên quan KTCN, tuy nhiên, trên thực tế phải nhìn nhận KTCN vẫn chưa thực sự tạo thuận lợi, vẫn là lực cản trong hoạt động XNK, liên quan đến cải thiện chỉ số giao dịch qua biên giới.

Thứ nhất, văn bản quy định liên quan đến quản lý, KTCN hiện nay cơ quan Hải quan đang thực hiện vẫn còn nhiều. Trong đó, nhiều danh mục hàng hóa ban hành (danh mục kiểm tra, giấy phép, điều kiện XK, NK) chưa có mã HS, nhiều mặt hàng chưa có tiêu chuẩn, quy chuẩn để thực hiện kiểm tra, còn sự chồng chéo trong kiểm tra.

Thứ hai, phương pháp thực hiện KTCN vẫn chủ yếu thủ công, chưa áp dụng mạnh mẽ ứng dụng CNTT trong kiểm tra, các cơ quan, đơn vị KTCN vẫn kiểm tra theo lô hàng, kiểm tra đi, kiểm tra lại… ảnh hưởng kéo dài thời gian thông quan.

Thứ ba, liên quan đến cơ sở vật chất, nguồn lực để thực hiện KTCN. Rất nhiều văn bản quy định thực hiện KTCN tại cửa khẩu, nhưng thực tế hầu hết ở cửa khẩu chỉ có lực lượng Hải quan, Biên phòng, Kiểm dịch, còn các lực lượng khác liên quan đến quản lý, KTCN hầu như không có ở cửa khẩu, thực hiện việc kiểm tra chủ yếu thực hiện sâu trong nội địa. Và thời gian kiểm tra vẫn trong khâu thông quan.

Thứ tư, về phía DN, không ít DN chưa nắm rõ các quy định, yêu cầu về quản lý và KTCN dẫn đến bị động trong thực hiện các quy định. Một số ít DN đã lợi dụng các quy định chưa chặt chẽ trong hoạt động KTCN để thực hiện không đúng quy định.

Thứ năm, việc phối hợp cung cấp thông tin giữa các cơ quan có liên quan đến KTCN trong thời gian qua còn hạn chế, đặc biệt là việc trao đổi giữa các cơ quan có liên quan đến KTCN và giữa các đơn vị kiểm tra với cơ quan Hải quan.

Đấy là những nguyên nhân dẫn đến công tác KTCN mặc dù có chuyển biến nhất định nhưng vẫn chưa thực sự tạo thuận lợi cho DN.

Theo ông, để thực hiện đúng tiến độ Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đề ra là giảm tỉ lệ KTCN xuống 10%, các bộ, ngành cần thực hiện các giải pháp gì?

– Để thực hiện mục tiêu của Chính phủ đặt ra trong Nghị quyết 19/NQ-CP năm 2018, tôi cho rằng các bộ cần tiếp tục rà soát, bổ sung những văn bản liên quan đến quản lý, KTCN.

Cách đây 3 năm Quyết định 2026/QĐ-TTg giao các bộ, ngành sửa 87 văn bản nhưng qua thống kê việc sửa đổi, bổ sung chậm so với tiến độ. Năm thứ nhất sửa đổi, bổ sung được 27%, năm thứ hai sửa đổi, bổ sung được hơn 40%, rất may đến năm 2018 các bộ, ngành đã sửa đổi, bổ sung được cơ bản, 95%. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện quản lý, KTCN, các bộ, ngành vẫn cần rà soát các văn bản, quy định rõ việc kiểm tra trước thông quan phải rõ mã số HS. Hiện nay theo thống kê của cơ quan Hải quan có 164 danh mục hàng liên quan đến quản lý, KTCN nhưng hiện vẫn còn 29 danh mục chưa có mã số.

Bên cạnh đó, trong việc sửa yêu cầu các bộ, sớm ban hành quy chuẩn, tiêu chuẩn kiểm tra. Theo thống kê mới nhất của cơ quan Hải quan, có tới 25% mặt hàng thuộc đối tượng kiểm tra chất lượng còn thiếu tiêu chuẩn, quy chuẩn kiểm tra. Ví dụ, lĩnh vực thuộc Bộ Tài nguyên và Môi trường, thực hiện Quyết định 73/2014/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ quy định danh mục phế liệu được phép NK từ nước ngoài làm nguyên liệu sản xuất, nhưng đến nay vẫn có đến 50% mặt hàng thuộc danh mục này chưa có tiêu chuẩn, quy chuẩn kiểm tra.

Để nâng cao hiệu quả hoạt động KTCN, hiện nay Bộ Tài chính cũng đang chủ trì phối hợp với các bộ, ngành có liên quan trình Chính phủ quy định thực hiện thủ tục hải quan thông qua Cơ chế một cửa quốc gia (NSW), Cơ chế một cửa ASEAN và KTCN đối với hàng hóa XNK.

Một giải pháp nữa tôi cho rằng rất quan trọng đó thay đổi phương pháp kiểm tra trên cơ sở áp dụng phương pháp quản lý rủi ro, đánh giá mức độ vi phạm, rủi ro của hàng hóa, DN để áp dụng cách thức quản lý, không nên kiểm tra toàn bộ mà kết quả kiểm tra tỉ lệ phát hiện rất thấp.

Tăng cường nguồn lực cho việc kiểm tra, đầu tư cơ sở vật chất, nguồn lực cần thiết theo địa bàn để thực hiện kiểm tra ngay tại cửa khẩu.

Tăng cường thông tin truyền thông, thời gian qua nhiều DN khi làm thủ tục XK, NK hàng hóa chưa nắm vững quy định pháp luật liên quan quản lý, KTCN nên rất lúng túng, dẫn đến kéo dài thời gian. DN chưa có bộ phận chuyên trách, chuyên sâu kiểm tra.

Bên cạnh đó, giải pháp sử dụng cơ chế bảo lãnh thông quan để tạo thuận lợi cho DN cũng cần nghiên cứu áp dụng. Giải pháp này ở một số nước tiên tiến trên thế giới đã sử dụng. Hiện nay, đã có chính sách bảo lãnh với thuế, nhưng có thể mở rộng áp dụng bảo lãnh đối với các chứng từ có liên quan đến việc tạo thuận lợi cho hoạt động NK, NK.

Xin cảm ơn ông!

Nguồn:baohaiquan