Phó Thủ tướng yêu cầu kiểm tra thông tin “đổi 100ha đất lấy 1,39km đường”

(HQ Online)- Phó Thủ tướng Thường trực Trương Hòa Bình yêu cầu UBND tỉnh Bắc Ninh kiểm tra, làm rõ nội dung phản ánh của báo chí và các trang điện tử về các vấn đề liên quan đến việc thực hiện Dự án đầu tư xây dựng tuyến đường H2, thành phố Bắc Ninh theo hình thức hợp đồng BT.

Thời gian qua, trên một số báo, trang tin điện tử có nhiều bài phản ánh việc UBND tỉnh Bắc Ninh sử dụng gần 100 ha đất đối ứng tạo vốn thanh toán cho Dự án đầu tư xây dựng tuyến đường H2 (dài 1,39 km) tại thành phố Bắc Ninh theo hình thức hợp đồng BT, gây dư luận bức xúc.

Về việc này, Phó Thủ tướng Thường trực Trương Hòa Bình yêu cầu UBND tỉnh Bắc Ninh kiểm tra, làm rõ nội dung phản ánh của báo chí và các trang điện tử về các vấn đề liên quan đến việc thực hiện Dự án đầu tư xây dựng tuyến đường H2, thành phố Bắc Ninh theo hình thức hợp đồng BT, báo cáo Thủ tướng Chính phủ trước ngày 1/9/2018.

Nguồn:baohaiquan

Thực phẩm Nhật đổ bộ thị trường Việt Nam

(HQ Online)- Chiều 31/7, 34 doanh nghiệp Nhật Bản đã mang rất nhiều sản phẩm thuỷ hải sản tươi sống và chế biến, trái cây, thực phẩm trẻ em, thực phẩm chức năng, rượu Nhật Bản… tới giới thiệu tại chương trình “Kết thương mại thực phẩm và nông lâm thủy sản Nhật Bản” do Tổ chức thúc đẩy ngoại thương Nhật Bản (Jetro) tổ chức tại TP.HCM.

Trong 34 doanh nghiệp tham gia, có 12 doanh nghiệp muốn mở rộng kênh phân phối và 22 doanh nghiệp giới thiệu sản phẩm hoàn toàn mới tại thị trường Việt Nam.

Cụ thể, Công ty Middis mang tới buổi kết nối các sản phẩm sữa platinum, bao gồm sữa có vị trà xanh, sữa hỗ trợ làm đẹp da và sữa bổ sung dinh dưỡng dành cho người lớn. Ông Nakajima Hayato, đại diện Middis cho biết, năm 2017 công ty cũng đã tham gia chương trình kết nối của Jetro với sản phẩm sữa trẻ em Bean Stalk. Theo đó, công ty đã ký kết hợp tác phân phối với 3 công ty Việt Nam và đã xuất khẩu được số sữa Bean Stalk trị giá 100 triệu Yên sang Việt Nam trong năm 2017.

Với kết quả tích cực đó, Ông Nakajima Hayato kỳ vọng sản phẩm sữa Platinum cũng sẽ nhận được phản hồi tích cực từ người tiêu dùng Việt Nam. Ông cũng mong muốn tăng gấp đôi lượng tiêu thụ sữa Bean Stalk tại Việt Nam trong năm nay.

Năm 2017, Công ty Nông nghiệp Oitaken cũng đã xuất khẩu thành công trái lê Kosui vào thị trường Việt Nam với sản lượng khoảng 5 tấn. Năm nay, Công ty Oitaken tiếp tục giới thiệu thêm sản phẩm lê Niitaka và lê Hosui. Ông Kohei Miura, đại diện Công ty Oitaken cho biết, trước khi đến Việt Nam, trái lê Niitaka và Hosui đã được xuất khẩu tới nhiều thị trường như Đài Loan, Hồng Kông, Singapore, Thái Lan và cả Hàn Quốc. Với trọng lượng trung bình khoảng 350 gram/trái đối với lê Hosui và trên dưới 1 kg/trái đối với lê Niitaka, giá bán của hai loại trái này tại Nhật hiện tương đương với 60.000 đồng/trái và 100.000 đồng/trái.

Trong khi đó, Công ty Yukiguni Maitake giới thiệu sản phẩm nấm maitake. Đại diện công ty cho biết, đây là lần đầu tiên loại nấm này được giới thiệu tại thị trường Việt Nam và ông kỳ vọng sẽ nhận được sự đón nhận tích cực của thị trường Việt Nam. Nấm maitake có đặc điểm là chứa nhiều chất xơ, vitamin B, vitamin D và các chất có vị ngọt. Đây là loại nấm có khả năng ức chế tình trạng tăng chỉ số đường huyết.

Được biết, DNTN Tú Phượng (quận 4, TP.HCM) đã ký kết hợp tác phân phối sản phẩm nấm maitake tại thị trường Việt Nam. Trước đó, DNTN Tú Phượng cũng đã hợp tác với Công ty Yukiguni Maitake để phân phối nhiều loại trái cây như lê, táo…

Theo đánh giá của các doanh nghiệp Việt Nam tham gia chương trình kết nối, các sản phẩm thực phẩm Nhật Bản có mức giá khá cao so với mặt bằng chung tại thị trường Việt Nam. Tuy nhiên, một vài năm trở lại đây, người tiêu dùng Việt Nam có xu hướng quan tâm tới những sản phẩm an toàn cho sức khoẻ, nên các sản phẩm có nguồn gốc từ Nhật Bản cũng được tiêu thụ nhiều hơn.

Thời gian qua, Jetro thường xuyên tổ chức các chương trình kết nối giúp doanh nghiệp Nhật Bản giới thiệu các sản phẩm thực phẩm, nông lâm thuỷ sản của mình tới các nhà nhập khẩu, nhà phân phối và các nhà hàng, khách sạn Việt Nam. Qua đó đã thúc đẩy tiêu thụ thực phẩm Nhật Bản tại Việt Nam.

Theo thống kê về thương mại của Bộ Tài Chính Nhật Bản, trong 5 tháng đầu ănm nay, xuất khẩu hàng thực phẩm và nông thủy sản Nhật Bản vào thi trường Việt Nam đã tăng trưởng mạnh mẽ 24,8% so với cùng kỳ năm trước. Trước đó, trong năm 2017, xuất khẩu hàng thực phẩm và nông lâm thuỷ sản từ Nhật Bản vào Việt Nam đã vượt qua Thái Lan và đứng thứ 6 toàn cầu với kim ngạch 39,5 tỷ Yên (khoảng 350 triệu USD).

Được biết vào ngày 2/8 tới, một chương trình kết nối tương tự cũng sẽ được tổ chức tại Hà Nội.

Nguồn:baohaiquan

Kinh tế 7 tháng đầu năm qua những con số ấn tượng

(HQ Online)- Trong 7 tháng đầu năm, kinh tế Việt Nam đã đạt được những con số ấn tượng về đầu tư, sản xuất, xuất nhập khẩu, doanh nghiệp thành lập mới, thu ngân sách nhà nước cũng như khách quốc tế đến Việt Nam. 

1. Xuất nhập khẩu: Xuất siêu 3,06 tỷ USD

Trong 7 tháng năm 2018, kim ngạch hàng hóa XK ước tính đạt 133,69 tỷ USD, tăng 15,3% so với cùng kỳ năm 2017. Kim ngạch XK một số mặt hàng chủ lực tiếp tục tăng so với cùng kỳ năm trước: Điện thoại và linh kiện đạt 26,1 tỷ USD, hàng dệt may đạt 16,5 tỷ USD, điện tử, máy tính và linh kiện đạt 15,7 tỷ USD.

Kim ngạch hàng hoá NK ước tính đạt 130,63 tỷ USD, tăng 10,2% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 54,16 tỷ USD, tăng 12,7%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 76,47 tỷ USD, tăng 8,5%.

2. Sản xuất toàn ngành công nghiệp tăng 10,9%

Trong 7 tháng năm 2018, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tăng 10,9% so với cùng kỳ năm trước, cao hơn mức tăng 7,1% của cùng kỳ năm 2017. Trong đó, ngành chế biến, chế tạo duy trì tốc độ tăng trưởng cao 13,1%.

3. Gần 76 nghìn DN thành lập mới

Cả nước có 75.793 DN đăng ký thành lập mới trong 7 tháng với tổng vốn đăng ký là 771,1 nghìn tỷ đồng, tăng 3,9% về số DN và tăng 11,6% về số vốn đăng ký so với cùng kỳ năm 2017.

Bên cạnh đó, còn có 18.696 DN quay trở lại hoạt động, tăng 6,5% so với cùng kỳ năm trước, nâng tổng số DN đăng ký thành lập mới và DN quay trở lại hoạt động trong 7 tháng năm nay lên gần 94,5 nghìn doanh nghiệp.

4. Giải ngân 153,7 nghìn tỷ đồng vốn đầu tư công

Vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước trong 7 tháng năm 2018 đạt 153,7 nghìn tỷ đồng, bằng 44,5% kế hoạch năm và tăng 10,6% so với cùng kỳ năm trước.

5. Thu hút hơn 23 tỷ USD vốn FDI

Đến thời điểm 20/7/2018 Việt Nam thu hút 1.656 dự án cấp phép mới với số vốn đăng ký đạt 13.205,4 triệu USD. Bên cạnh đó, có 627 lượt dự án đăng ký điều chỉnh vốn đầu tư thêm 4.947,2 triệu USD. Trong 7 tháng năm 2018 còn có 3.311 lượt góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài với tổng giá trị góp vốn là 4,79 tỷ USD. Theo đó, có hơn 23 tỷ USD vốn FDI vào Việt Nam trong 7 tháng đầu năm. Nhật Bản là quốc gia dẫn đầu vốn FDI vào Việt Nam.

Bên cạnh đó, Việt Nam đầu tư ra nước ngoài 279,6 triệu USD, trong đó lĩnh vực tài chính, ngân hàng đạt 105,8 triệu USD, chiếm 37,8% tổng vốn đầu tư.

6. Thu ngân sách đạt 681,6 nghìn tỷ đồng

Tổng thu ngân sách Nhà nước từ đầu năm đến thời điểm 15/7/2018 ước tính đạt 681,6 nghìn tỷ đồng, bằng 51,7% dự toán năm, trong đó thu nội địa đạt 540,1 nghìn tỷ đồng, bằng 49,1%; thu từ dầu thô đạt 31,7 nghìn tỷ đồng, bằng 88,2%; thu cân đối ngân sách từ hoạt động xuất, nhập khẩu đạt 107,8 nghìn tỷ đồng, bằng 60,2%.

7. Bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng

Tính chung 7 tháng năm 2018, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng ước tính đạt 2.493,4 nghìn tỷ đồng, tăng 11,1% so với cùng kỳ năm trước,

8. Chỉ số giá tiêu dùng tăng 3,45%



Chỉ số giá tiêu dùng bình quân 7 tháng năm 2018 tăng 3,45% so với bình quân cùng kỳ năm 2017. CPI tháng 7/2018 tăng 2,13% so với tháng 12/2017 và tăng 4,46% so với cùng kỳ năm trước.

Lạm phát cơ bản bình quân 7 tháng năm nay tăng 1,36% so với bình quân cùng kỳ năm 2017.

9. Khách quốc tế đến Việt Nam:



Tính chung 7 tháng năm nay, khách quốc tế đến nước ta ước tính đạt 9.080,3 nghìn lượt người, tăng 25,4% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khách đến bằng đường hàng không đạt 7.357,9 nghìn lượt người, tăng 20,2%.

Nguồn:baohaiquan

Cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước vẫn đang ì ạch

(HQ Online)- Mới đây, những con số về tình hình sắp xếp, cổ phần hóa, thoái vốn, cơ cấu lại DNNN  và phát triển DN  6 tháng đầu năm 2018 đã được Ban Chỉ đạo đổi mới và phát triển DN đưa ra. Theo đó, cùng với vài điểm sáng le lói từ 12 đại dự án thua lỗ của ngành Công Thương, bức tranh cổ phần hóa DNNN nửa đầu năm 2018 đang chứa đựng những gam màu đối lập.

Cổ phần hóa chưa tới 20% kế hoạch

Việc chuyển giao quyền đại diện chủ sở hữu về SCIC, đăng ký giao dịch trên sàn chứng khoán, chấp hành chế độ báo cáo chưa được thực hiện nghiêm túc, quyết liệt tại một số bộ, ngành, địa phương, tập đoàn, tổng công ty nhà nước. Báo cáo của Bộ Tài chính cho thấy, tính đến ngày 15/8/2017 có tới 747 DN chưa đăng ký giao dịch, niêm yết trên thị trường chứng khoán.

(Báo cáo của Ban Chỉ đạo đổi mới và phát triển DN).

Đã qua một nửa chặng đường của năm 2018, nhưng tiến độ cổ phần hóa cũng như thoái vốn DNNN hiện đang rất ì ạch so với kế hoạch đề ra. Tại cuộc họp về cổ phần hóa DNNN 6 tháng đầu năm vừa được tổ chức, báo cáo của Ban Chỉ đạo đổi mới và phát triển DN cho biết, trong 6 tháng qua đã phê duyệt phương án cổ phần hóa 19 DNNN, tổng giá trị DN là 40.672 tỷ đồng, trong đó giá trị vốn nhà nước là 23.084 tỷ đồng.

Một kết quả đáng ghi nhận là, cũng trong thời gian này đã IPO và bán cho cổ đông chiến lược 16 DN, thu về 22.457 tỷ đồng. Trong đó, có một số DN quy mô lớn như: Tổng công ty Điện lực Dầu khí Việt Nam, Tổng công ty Dầu Việt Nam, Công ty TNHH MTV Lọc hóa dầu Bình Sơn, Tập đoàn Công nghiệp Cao su Việt Nam, Tổng công ty Thương mại Hà Nội. Về thoái vốn nhà nước tại DN, nửa đầu năm đã thoái vốn nhà nước tại 42 DN với giá trị sổ sách 1.813 tỷ đồng, thu về 5.598 tỷ đồng, gấp 3 lần giá trị sổ sách.

Như vậy, tổng thu từ cổ phần hóa, thoái vốn trong 6 tháng đầu năm 2018 đạt 28.055 tỷ đồng. Lũy kế đến nay, tổng số thu từ cổ phần hóa, thoái vốn đạt khoảng 198.000 tỷ đồng (năm 2016 là 30 ngàn tỷ đồng; năm 2017 là 140 ngàn tỷ đồng và năm 2018 là hơn 28 ngàn tỷ đồng).

Tuy nhiên, nếu so với kế hoạch, kết quả này vẫn còn xa so với mục tiêu. “Tiến độ cổ phần hóa DNNN chậm so với kế hoạch đề ra. Theo kế hoạch đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, năm 2018 phải hoàn thành cổ phần hóa 85 DN, bao gồm 21 DN thuộc danh mục năm 2017 chuyển sang và 64 DN thuộc danh mục năm 2018. Tuy nhiên, đến nay mới cổ phần hóa được 19 DN”, ông Nguyễn Hồng Long, Phó trưởng Ban Chỉ đạo Đổi mới và phát triển DN nhận định.

Trong đó, điển hình cho sự chậm trễ là trường hợp của TP.HCM và Hà Nội. Theo kế hoạch năm 2018, TP.HCM phải thực hiện cổ phần hóa 39 DN, TP.Hà Nội phải thực hiện cổ phần hóa 11 DN (lần lượt chiếm 61% và 17,1% kế hoạch cổ phần hóa năm 2018 của cả nước), nhưng đến nay cả hai địa phương này chưa cổ phần hóa được DN nào.

Tiến độ thoái vốn nhà nước tại DN cũng chậm so với kế hoạch đề ra khi mới chỉ có 10/181 DN thực hiện thoái vốn. Cụ thể, năm 2017 có 135 DN phải thực hiện thoái vốn, nhưng chỉ mới thoái vốn được 17 DN. Năm 2018 có 181 DN phải thực hiện thoái vốn, nhưng đến nay mới thực hiện thoái vốn tại 10 DN. Một số bộ, ngành, địa phương có nhiều DN phải thực hiện thoái vốn như: Bộ Xây dựng, Hà Nội, Bình Định, Bắc Giang… vẫn đang triển khai thực hiện nhưng kết quả đạt thấp hoặc chưa có kết quả.

Chậm vì chờ đợi?

Về nguyên nhân dẫn tới tiến độ cổ phần hóa, thoái vốn DNNN chậm, ngoài lý do nhiều DN có quy mô lớn, đất đai nhiều, phạm vi hoạt động rộng nên việc xác định giá trị DN, bán cổ phần lần đầu gặp nhiều khó khăn, thời gian kéo dài, một số bộ, ngành, địa phương, tập đoàn, tổng công ty chưa nghiêm túc, quyết liệt trong chỉ đạo và triển khai thực hiện, một nguyên nhân lớn được chỉ ra đến từ việc xác định giá trị đất đai.

Theo quy định mới, các DN cổ phần hóa phải rà soát, phê duyệt phương án sử dụng đất trước khi thực hiện xác định giá trị DN, trong khi việc phê duyệt phương án sử dụng đất của DN cổ phần hóa của các địa phương chậm, đặc biệt tại các thành phố lớn như Hà Nội, TP.HCM. Một số địa phương chưa kiên quyết trong việc thu hồi, xử lý đất đai của các DN sử dụng đất không đúng mục đích, vi phạm pháp luật về đất đai. Trường hợp của Vinafood 2 là ví dụ điển hình. DN này sở hữu diện tích đất nông nghiệp hàng triệu ha, ở nhiều địa phương, trước khi cổ phần hóa, Bộ chủ quản và các địa phương phải xác định xong phương án sử dụng đất sau cổ phần hóa nhưng TP.HCM chậm xác định đã làm chậm kế hoạch cổ phần hóa của DN này.

Bên cạnh đó, một nguyên nhân đáng chú ý đó là còn tâm lý thận trọng, không dám làm, chờ đợi để chuyển giao nhiệm vụ cho Ủy ban Quản lý vốn Nhà nước tại DN. Thực tế thì đến thời điểm này, sau 6 tháng được thành lập, Ủy ban này chưa đi vào hoạt động.

Liên quan đến vấn đề này, tại hội thảo về giám sát vốn DN tại DN mới được tổ chức, TS. Nguyễn Đình Cung, Viện trưởng Viện Nghiên cứu quản lý Kinh tế trung ương (CIEM) cho rằng, ông “nhìn thấy tâm lý chần chừ, chờ đợi của các DNNN khi Ủy ban Quản lý vốn nhà nước tại DN được thành lập”. Ông nhấn mạnh, mặc dù về lý thuyết, sự chuyển dịch nguyên trạng sẽ ít mang lại xáo trộn, nhưng tâm lý chờ đợi, không muốn thực hiện khi chưa biết chắc sẽ về đâu trong các DNNN là có. Vì thế, ông nhấn mạnh cần phải để ủy ban này đi vào hoạt động càng sớm càng tốt.

Truy trách nhiệm cá nhân, xử nghiêm việc gây chậm trễ

Từ nay đến cuối năm, để cổ phần hóa, thoái vốn DNNN đạt chất lượng, tiến độ, Ban Chỉ đạo Đổi mới và phát triển DN yêu cầu các bộ, ngành, địa phương, DNNN cần nỗ lực, khẩn trương, quyết liệt triển khai các quyết nghị của Chính phủ về cổ phần hóa, thoái vốn DN. Đồng thời, cần xác định trách nhiệm cá nhân trong việc thực hiện sắp xếp, cổ phần hóa, thoái vốn nhà nước tại DN. Bộ trưởng các Bộ quản lý ngành, Chủ tịch UBND các địa phương, Chủ tịch HĐTV DNNN phải chịu trách nhiệm hành chính trước Thủ tướng Chính phủ và cần xử lý nghiêm lãnh đạo DNNN, người đại diện phần vốn nhà nước tại DN không nghiêm túc thực hiện, hoặc thực hiện không có kết quả nhiệm vụ được giao.

Với phương châm “không chạy theo tiến độ, lấy thực chất là chính, tránh chuyện dồn ép mà không đạt hiệu quả tối đa”, Phó Thủ tướng Vương Đình Huệ đã yêu cầu Văn phòng Chính phủ đôn đốc các tập đoàn, tổng công ty phản ánh các vướng mắc, khó khăn trong cổ phần hóa, thoái vốn, sắp xếp lại DNNN, kiến nghị với Chính phủ, các bộ tại Hội nghị toàn quốc về DNNN sắp tới do Thủ tướng chủ trì. Đồng thời, cần rà soát danh mục bàn giao về SCIC theo tinh thần các bộ, địa phương bàn giao hết các DNNN đã cổ phần hóa về SCIC. Phó Thủ tướng yêu cầu Bộ Tài chính công khai các DNNN đã cổ phần hóa mà không niêm yết trên thị trường chứng khoán đúng thời hạn, đồng thời sớm hoàn thiện dự thảo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ quy định thủ tục bàn giao tập đoàn, tổng công ty về Ủy ban Quản lý vốn Nhà nước tại DN.

Liên quan đến hiệu quả cổ phần hóa, ông Phan Đức Hiếu, Phó Viện trưởng CIEM cho rằng, rất mong cổ phần hóa “đúng kế hoạch, đúng tiến độ và phải khôn ngoan” và cho biết “rất kì vọng vào sự ra đời của Ủy ban Quản lý vốn Nhà nước giúp chúng ta bán cổ phần Nhà nước một cách có chiến lược tập thể và dài hạn hơn. Ví dụ như, các bộ ngành chủ quản đều bung hàng ra bán cùng một lúc thì đó không phải là cổ phần hóa có lợi. Tuy nhiên, nói vậy không có nghĩa là nên bán nhỏ giọt mà phải bán đúng theo mục tiêu của Nhà nước một cách khôn ngoan”.

Lẫn trong bức tranh kém sắc nêu trên, có những tín hiệu khá tích cực đến từ các dự án thua lỗ của ngành Công Thương. Theo đó, sau hơn một năm triển khai xử lý, trong số 6 nhà máy trước đây có hoạt động sản xuất kinh doanh thua lỗ đến nay đã có 2 nhà máy hoạt động sản xuất kinh doanh có lãi (Dự án nhà máy sản xuất phân bón DAP số 1 – Hải Phòng và Dự án nhà máy thép Việt Trung), 4 dự án còn lại đã từng bước giảm lỗ và hoạt động sản xuất kinh doanh dần đi vào ổn định (Nhà máy sản xuất đạm Ninh Bình, Nhà máy sản xuất đạm Hà Bắc, Nhà máy sản xuất phân bón DAP số 2 – Lào Cai và Công ty DQS).

Bên cạnh đó, trong số 3 dự án trước đây bị dừng sản xuất kinh doanh đến nay đã có 1 dự án vận hành sản xuất trở lại được một phần của Nhà máy (Dự án Nhà máy sản xuất xơ sợi Polyester Đình Vũ – PVTex). Tại cuộc họp do Ban Chỉ đạo Đổi mới và phát triển DN tổ chức, Thứ trưởng Bộ Công Thương Đặng Hoàng An cho biết, dự án PVTex đã có lãi trở lại và đang bắt đầu đi vào quỹ đạo hoạt động ổn định, có khả năng sẽ thoát khỏi “danh sách đen” 12 dự thua lỗ trong thời gian tới. Số liệu của Bộ Công Thương ghi nhận trong 6 tháng đầu năm 2018 DN này đã báo lãi 65 tỷ đồng.

Nguồn:baohaiquan

Bộ Tài nguyên và Môi trường có 11 thủ tục được kết nối Cổng thông tin một cửa quốc gia

(HQ Online)- Bộ Tài nguyên và Môi trường cho biết, hiện đã hoàn thành triển khai đối với 11 thủ tục hành chính dưới hình thức dịch vụ công trực tuyến mức độ 4 và kết nối với Cổng thông tin một cửa quốc gia.

Trong đó có 4 thủ tục hành chính đã chính thức kết nối Cổng thông tin một cửa quốc gia từ năm 2016,7 thủ tục hành chính đã kết nối thử nghiệm thành công từ tháng 2/2018 và sẽ triển khai chính thức theo kế hoạch của Tổng cục Hải quan.

Bộ Tài nguyên và Môi trường cũng đã ban hành quy định về cung cấp dịch vụ công trực tuyến thuộc thẩm quyền giải quyết của Bộ; đồng thời, đã cung cấp được dịch vụ công trực tuyến mức độ 3, 4 cho 82 thủ tục hành chính trên Hệ thống dịch vụ công trực tuyến của Bộ. Đây là cơ sở quan trọng để liên thông các thủ tục hành chính góp phần thực hiện Cơ chế một cửa quốc gia, Cơ chế một cửa ASEAN.

Theo đó, người dân và doanh nghiệp thực hiện nộp đầy đủ hồ sơ điện tử khi thực hiện thủ tục hành chính trên Hệ thống một cửa quốc gia theo quy định của pháp luật chuyên ngành. Đặc biệt, người dân và doanh nghiệp có thể phản ánh, kiến nghị và đánh giá cán bộ, công chức trong quá trình thực hiện thủ tục hành chính qua Hệ thống dịch vụ công trực tuyến của Bộ.

Trong thời gian qua, Bộ Tài nguyên và Môi trường cũng đã chỉ đạo các đơn vị liên quan trực thuộc phối hợp với Tổng cục Hải quan và các Bộ, ngành liên quan tuyên truyền, hỗ trợ, hướng dẫn, tạo điều kiện thuận lợi cho người dân, doanh nghiệp tiếp cận, thực hiện các thủ tục hành chính thuộc Cơ chế một cửa quốc gia tại Bộ.

Việc này đã mang lại cho người dân và doanh nghiệp và cho công tác quản lý nhà nước, như: Tiết kiệm chi phí, giảm thời gian cho người dân, doanh nghiệp và của cơ quan quản lý nhà nước trong quá trình thực hiện thủ tục hành chính. Đồng thời nâng cao trách nhiệm, chất lượng, hiệu quả công việc và đổi mới phương pháp làm việc của cơ quan quản lý nhà nước theo hướng điện tử hóa, góp phần hiện đại hóa hành chính và thực hiện Chính phủ điện tử của Bộ Tài nguyên và Môi trường.

Nguồn:baohaiquan

Nước nào đứng đầu danh sách xuất khẩu phế liệu vào Việt Nam?

(HQ Online)-Trong 6 tháng đầu năm, phế liệu nhựa, giấy, sắt thép từ Nhật Bản và Mỹ xuất khẩu vào thị trường Việt Nam chiếm tỉ trọng cao nhất. Trong đó, riêng Nhật Bản, phế liệu nhựa chiếm 24,8%; phế liệu giấy chiếm 17,3%; phế liệu sắt, thép chiếm 29,7%.

Lượng phế liệu Việt Nam NK từ Mỹ lần lượt là: Phế liệu nhựa, chiếm 14%; phế liệu giấy chiếm 39,6%; phế liệu sắt thép chiếm 18,7%.

Theo thông tin từ Tổng cục Hải quan, trong 6 tháng đầu năm 2018, Việt Nam đã NK trên 4 triệu tấn phế liệu nhựa, phế liệu giấy, phế liệu sắt thép, tổng trị giá trên 1,2 tỉ USD, trong đó sắt thép phế liệu chiếm trên 958 triệu USD.

Trong 6 tháng đầu năm, có 240 DN NK phế liệu nhựa, giấy, sắt thép.

Các thị trường xuất khẩu phế liệu nhựa, giấy, sắt thép vào Việt Nam ngoài Mỹ và Nhật Bản còn có các nước như: Thái Lan, Hàn Quốc, Trung Quốc, Philippines, Úc, Đức, Ý, Canada…

Trong khi đó, hiện nay tại một số cảng ở Cát Lái, Hải Phòng đang tồn một lượng lớn các container phế liệu. Tại Cát Lái tính đến 25/7 tồn 3.579 container; tại cảng Hải Phòng, tính đến 5/7 tồn 1.485 container (trong đó 1.342 container là phế liệu nhựa).

Đối với hàng hóa là phế liệu đang tồn đọng trong địa bàn hoạt động hải quan, cơ quan Hải quan tiến hành rà soát, thu thập phân tích thông tin, phân loại và xử lý theo quy định của pháp luật. Trường hợp hàng hóa NK quá 90 ngày kể từ ngày đến cửa khẩu nhưng không có người đến nhận thì, cơ quan Hải quan sẽ đăng tải thông tin công khai trên các phương tiện thông tin đại chúng, quá thời hạn không có người đến nhận chủ phương tiện vận tải, người điều khiển vận tải hoặc người được chủ phương tiện vận tải ủy quyền phải vận chuyển hàng hóa đó ra khỏi lãnh thổ Việt Nam.

Để đảm bảo công tác quản lý giám sát mặt hàng phế liệu NK thực hiện đúng quy định của pháp luật về hải quan và pháp luật về bảo vệ môi trường, Tổng cục Hải quan đã hướng dẫn hải quan địa phương thực hiện các biện pháp siết chặt phế liệu NK theo đúng quy định pháp luật về hải quan, pháp luật về bảo vệ môi trường.

Theo Quyền Cục trưởng Cục Giám sát quản lý về hải quan Âu Anh Tuấn, phế liệu là mặt hàng có rủi ro cao, theo quy định pháp luật về hải quan, pháp luật về bảo vệ môi trường hàng hóa NK khai báo phế liệu thuộc đối tượng kiểm tra thực tế hàng hóa.

Cơ quan Hải quan kiểm tra thực tế theo quy định tại Luật Hải quan, trong đó quy định việc kiểm tra bằng nhiều hình thức. Trường hợp bằng mắt thường và các trang thiết bị tại hiện trường không xác định được hàng hóa có đủ điều kiện NK hay không, cơ quan Hải quan sẽ lấy mẫu đại diện của lô hàng để phân tích, đánh giá chính xác nội dung khai báo của DN có đúng với thực tế hàng hóa NK hay không?

Ông Tuấn cho biết, trong thời quan qua, cơ quan Hải quan đã thực hiện lấy mẫu kiểm tra trên 1000 lô hàng phế liệu NK, hiện đã ra kết quả thông báo đối với trên 700 mẫu, phát hiện 11 trường hợp khai phế liệu nhưng không đáp ứng điều kiện quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường.

Nguồn:baohaiquan

Bất thường: Số DN khai khoáng tăng nhưng thu ngân sách giảm mạnh

Theo báo cáo mới nhất của Bộ Tài nguyên và Môi trường (TN&MT), mặc dù số doanh nghiệp được cấp phép khai khoáng tăng nhanh nhưng số vi phạm cũng tăng và thu ngân sách lại sụt giảm.

Số DN được cấp nhiều, số vi phạm cũng lớn

Theo thống kê này, tính đến hết tháng 12/2017, cả nước có 2.889 tổ chức, cá nhân đang thăm dò, khai thác khoáng sản theo 4.214 giấy phép do các cơ quan Trung ương và UBND các tỉnh thành cấp phép. Trong đó, Bộ TN&MT cấp phép theo thẩm quyền là 560 giấy (60 giấy phép thăm dò và 510 giấy phép khai thác khoáng sản). 3.644 giấy phép còn lại do các UBND tỉnh thành trong cả nước cấp.

Thông tin từ Tổng cục Thuế cũng cho biết, tính đến hết tháng 1/2017, tổng số tiền cấp quyền khai thác khoáng sản nộp ngân sách Nhà nước là 4.287 tỷ đồng. Trong đó thu từ giấy phép thuộc thẩm quyền Bộ TN&MT là 2.780 tỷ đồng, theo thẩm quyền của UBND các tỉnh là 1.570 tỷ đồng. 6 tháng đầu năm 2018, khoản thu này vào khoảng 3.130 tỷ đồng.

“Đến cuối năm 2017, cả nước có 579 tổ chức cá nhân tạm dừng triển khai dự án với lý do khó khăn về tài chính, giá bán khoáng sản trên thị trường liên tục giảm, không tiêu thụ được sản phẩm hoặc khó khăn khi bồi thường, giải phóng mặt bằng…”, thông tin từ Bộ TN&MT cho hay.

Trong số đó, Nghệ An có 53 đơn vị dừng hoạt động khai thác, Thái Nguyên 45 đơn vị, Bình Thuận 38 đơn vị, Yên Bái 30, Quảng Ngãi 28. Hà Tĩnh 25, Ninh Bình 20, Thanh Hóa 15… Còn lại là thuộc các tỉnh thành, địa phương khác như Phú Thọ, Quảng Nam, Bắc Giang, Hải Dương, Ninh Thuận, Hà Nội, Quảng Ninh, Lài Cai, Lâm Đồng…

Cũng theo số liệu thống kê của Bộ TN&MT, tính đến hết năm 2017, có khoảng 510 giấy phép do chính bộ này cấp còn hiệu lực hoạt động với 300 doanh nghiệp khai thác khoáng sản trên phạm vị 50 tỉnh thành. Trong đó, giấy phép cấp trước năm 2017 là 443 giấy phép; năm 2017 cấp mới là 32 giấy phép, 3 giấy phép chuyển nhượng và 7 giấy phép gia hạn.

Năm 2017, do ảnh hưởng của thị trường nguyên liệu khoáng sản chưa phục hồi nên sản lượng khai thác của Việt Nam cũng bị tác động mạnh. Cụ thể, sản lượng khai thác năm 2016 gồm vàng, nước khoáng, than, đồng, niken, thiếc, đá hoa trắng, đá xét xi mặt, trong đó than đạt 36,8 triệu tấn, giảm 1,7 triệu tấn; thiếc đạt 3,7 triệu tấn, giảm 1,9 triệu tấn…

Các khoáng sản có trữ lượng tăng gồm sắt, chì, kẽm, bauxit, mangan, titan, apatit. Trong đó, quặng sắt đạt 5 triệu tấn, tăng 1,8 triệu tấn, quặng chì – kẽm đạt 210.000 tấn, tăng 14.700 tấn, bauxit đạt 4,1 triệu tấn, tăng 0,3 triệu tấn…

Giấy phép tăng nhưng thu ngân sách lại sụt giảm rất mạnh

Đáng chú ý, tính đến hết năm 2017, khoảng 404 giấy phép thăm dò, khai thác khoáng sản do UBND các tỉnh cấp có hiệu lực. Trong đó cấp mới năm 2017 là 335 giấy phép. Những địa phương đứng đầu về số lượng giấy phép khai thác khoáng sản gồm Thanh Hóa với 28 giấy phép; Tây Ninh với 18 giấy phép, Quảng Ngãi 24 giấy phép, Phú Yên 36 giấy phép, Kon Tum 19 giấy phép.

Thống kê cũng cho thấy, tại các tỉnh thành nêu trên có tới 144.000 lao động địa phương tham gia làm việc tại các đơn vị khai thác khoáng sản với thu nhập khoảng 57 triệu đồng/mỗi người/năm. So với năm 2016, số lượng lao động làm việc trong lĩnh vực này đã giảm khoảng 1.000 người nhưng thu nhập bình quân lại tăng khoảng 7 triệu đồng/người một năm.

Về đóng góp cho ngân sách Nhà nước, số liệu thống kê cũng cho thấy, năm 2017, tổng thu ngân sách từ thuế tài nguyên của các địa phương đạt 8.723 tỷ đồng, giảm khoảng 2.600 tỷ đồng so với năm 2016. Nếu tính thêm tiền cấp quyền khai thác khoáng sản, phí bảo vệ môi trường trong khai thác khoáng sản mà doanh nghiệp đã nộp trong năm 2017 thì tổng thu ngân sách từ khoáng sản tại các địa phương này vào khoảng 12.870 tỷ đồng.

Một số địa phương tiếp tục duy trì nguồn thu từ khoáng sản gồm Quảng Ninh khoảng 5.091 tỷ đồng; Lào Cai 1.101 tỷ đồng, Thái Nguyên 1.152 tỷ đồng, Đồng Nai 319 tỷ đồng, Bình Dương 392 tỷ đồng, Hà Nam 416,5 tỷ đồng, Nghệ An 355,4 tỷ đồng.

Nguồn:baohaiquan

Sẽ đánh giá độc lập kết quả thực hiện Cơ chế một cửa của các bộ, ngành

Thiết lập cơ chế giám sát, báo cáo và đánh giá độc lập về kết quả thực hiện Cơ chế một cửa quốc gia (NSW) là 1 trong 5 giải pháp quan trọng trong dự thảo Kế hoạch hành động thúc đẩy NSW, Cơ chế một cửa ASEAN (ASW), cải cách công tác kiểm tra chuyên ngành đối với hàng hóa XNK và tạo thuận lợi thương mại giai đoạn 2018 – 2020, đang được Bộ Tài chính xây dựng, trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt.

Tại Hội nghị trực tuyến toàn quốc về “Thúc đẩy NSW, ASW và tạo thuận lợi thương mại” được tổ chức tuần qua, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc yêu cầu Bộ Tài chính khẩn trương hoàn thiện dự thảo và trình Thủ tướng ban hành Kế hoạch hành động trong tháng 8.

Kế hoạch hành động được xem là động lực để đẩy nhanh thực hiện NSW, ASW trong thời gian tới. Một nội dung quan trọng trong dự thảo nhận được nhiều sự quan tâm là giải pháp để thúc đẩy thực hiện các cơ chế một cửa. Theo dự thảo được Bộ Tài chính xây dựng, có 5 nhóm giải pháp quan trọng được đề cập.

Nhóm giải pháp thứ nhất là hoàn thiện cơ sở pháp lý và cải cách thủ tục hành chính. Đối với việc hoàn thiện cơ sở pháp lý với những nội dung trọng tâm là xây dựng và trình Chính phủ ban hành Nghị định quy định thực hiện thủ tục hành chính thông qua NSW, ASW và kiểm tra chuyên ngành đối với hàng hóa XNK.

Việc ban hành Nghị định sẽ tạo hành lang pháp lý đầy đủ cho việc sử dụng, trao đổi chứng từ điện tử, hồ sơ điện tử đối với thủ tục hành chính trong nước và các nước, khối – cộng đồng kinh tế; tạo hành lang pháp lý đầy đủ cho việc trao đổi dữ liệu giữa các cơ quan Chính phủ trên nền tảng Cổng thông tin một cửa quốc gia để phục vụ công tác quản lý nhà nước; đảm bảo đầy đủ cơ sở pháp lý cho việc cung cấp dịch vụ công mức độ 4 thông qua NSW…

Nhóm giải pháp thứ hai, liên quan đến xây dựng, triển khai hệ thống CNTT. Theo đó, việc xây dựng và phát triển hệ thống CNTT phục vụ triển khai NSW, ASW sẽ hướng tới mục tiêu xử lý tập trung thông qua Cổng thông tin một cửa quốc gia, trên nền tảng công nghệ tiên tiến phù hợp với xu thế phát triển của cuộc cách mạng công nghệ 4.0 nhằm đáp ứng tiến độ triển khai theo cam kết của Chính phủ, tiết kiệm và đảm bảo hiệu quả đầu tư, tận dụng nguồn lực cũng như tăng cường khả năng bảo mật, an toàn thông tin.

Đồng thời sẵn sàng về mặt kỹ thuật để thực hiện ASW theo lộ trình và đảm bảo trao đổi, xử lý chứng từ thương mại với các nước, khối – cộng đồng kinh tế; giữa DN với DN nhằm tạo thuận lợi thương mại và tăng cường khả năng canh tranh quốc gia.

Một nội dung quan trọng khác trong nhóm giải pháp về CNTT là thí điểm thuê dịch vụ của bên thứ ba trong cung cấp các tiện ích cho cả DN và các cơ quan nhà nước trong thực hiện thủ tục hành chính thông qua NSW, ASW.

Nhóm giải pháp thứ ba là xây dựng và triển khai đề án quản lý hoạt động thương mại điện tử đối với hàng hóa XNK qua biên giới. Nhóm giải pháp này tập trung vào xây dựng và triển khai đề án tổng thể nhằm mục đích kết nối các cơ quan Chính phủ và các bên trong chuỗi cung ứng (bao gồm ngân hàng thương mại, bảo hiểm, DN xuất nhập khẩu và logistics…) liên quan đến các hoạt động thương mại điện tử đối với hàng hóa XNK qua biên giới trên nền NSW, ASW.

Thực hiện mục tiêu trên cần hoàn thiện chính sách quản lý hoạt động thương mại điện tử qua biên giới đối với hàng hóa XNK; nghiên cứu, ban hành các thủ tục hành chính nhằm quản lý hoạt động thương mại điện tử đối với hàng XNK qua biên giới; thiết lập cơ chế thanh toán, bảo lãnh và xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về giao dịch và thương mại điện tử đối với hàng hóa XNK qua biên giới.

Nhóm giải pháp thứ tư, liên quan đến đào tạo, tuyên truyền và hỗ trợ. Nội dung quan trọng của nhóm giải pháp này là xây dựng tài liệu tuyên truyền, hướng dẫn thực hiện NSW, ASW; xây dựng cơ chế và tổ chức hỗ trợ người sử dụng trên Cổng thông tin một cửa quốc gia; xây dựng kế hoạch, triển khai đào tạo, tuyên truyền, nâng cao nhận thức cho người dân, DN về NSW.

Mặt khác, cần tổ chức hỗ trợ tốt cho các cơ quan, tổ chức, DN tham gia NSW; tổ chức đào tạo đội ngũ cán bộ chuyên trách về CNTT ở các cơ quan quản lý nhà nước các cấp để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ về CNTT; đào tạo, tập huấn cho công chức các bộ, ngành thực hiện xử lý thông tin trên Cổng thông tin một cửa quốc gia…

Giải pháp trọng tâm thứ năm, được đề cập là thiết lập cơ chế giám sát, báo cáo và đánh giá độc lập. Giải pháp này nhằm xây dựng và thiết lập cơ chế giám sát việc tổ chức thực hiện các nhiệm vụ của các bộ, ngành theo chương trình, kế hoạch của Chính phủ thông qua việc công bố ấn phẩm về các báo cáo thường niên liên quan đến đo lường thời gian thực hiện các thủ tục hành chính và thông quan hải quan; đánh giá mức độ hài lòng của cộng đồng DN trong quá trình thực hiện các dịnh vụ công thông qua NSW.

Nguồn:baohaiquan

Mới chỉ có 8% doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp

(HQ Online)- Câu hỏi làm sao để có thể thu hút nhiều hơn nữa các DN đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn là vấn đề quan trọng trong bối cảnh Việt Nam là quốc gia có nhiều tiềm năng, lợi thế về phát triển nông nghiệp nhưng tỷ lệ DN đầu tư vào nông nghiệp vẫn hết sức khiêm tốn. Đây là vấn đề được  mổ xẻ tại Hội nghị toàn quốc về Thúc đẩy DN đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp được tổ chức ngày 30/7, tại Lâm Đồng.

 

Nhiều “đại gia” đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn

Theo báo cáo của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NH&PTNT), thời gian qua ngày càng nhiều DN, tập đoàn lớn trong nước quan tâm tìm hiểu và đã đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn với quy mô lớn, đặc biệt là các mô hình sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao.

Tính đến quý 2/2018 có khoảng 7.600 DN nông nghiệp; nếu tính cả DN chế biến nông lâm thủy sản và DN thương mại hàng lương thực thực phẩm, số lượng đã tăng từ 12.113 DN năm 2005 lên tổng số 42.000 DN tính đến hết quý 2/2018. Một con số khác lạc quan hơn được Bộ Kế hoạch và Đầu tư cho biết, đó là hiện có tới 49.000 DN đầu tư vào nông nghiệp.

Theo Bộ NN&PTNT, bên cạnh sự tăng lên của các DNNVV trong nông nghiệp, một số tập đoàn lớn ngoài lĩnh vực nông lâm thủy sản cũng đẩy mạnh đầu tư vào nông nghiệp, như tập đoàn Vingroup, Masan, Himlam, Viettel, FLC, Hoàng Anh Gia Lai, Pan group… Những DN này cũng áp dụng nhiều quy trình sản xuất hiện đại, áp dụng công nghệ mới và đã cho những kết quả ban đầu khá tốt.

Với các dự án đầu tư bài bản, các DN đã bước đầu tạo được hiệu ứng lan tỏa, thu hút thêm nhiều nhà đầu tư mới, thắp lửa tinh thần khởi nghiệp cho nông dân trở thành doanh nhân trên chính mảnh đất của họ. Về quy mô vốn và hiệu quả đầu tư, trong vòng 10 năm (2005 – 2015), tổng vốn đầu tư vào khu vực nông nghiệp của DN tăng gấp 4 lần (từ mức 44.273,1 tỷ đồng lên mức 231.334 tỷ đồng).

Khẳng định vai trò hết sức quan trọng của các DN đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp là yếu tố then chốt thúc đẩy liên kết chuỗi giá trị trong nông nghiệp, có vai trò trọng yếu trong XK nông sản, tạo dựng thương hiệu Việt trên thị trường quốc tế và có đóng góp lớn cho ngân sách nhà nước…, Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Nguyễn Chí Dũng cho rằng, để tiếp tục tạo điều kiện thuận lợi cho các DN phát huy hơn nữa vai trò của mình trong lĩnh vực nông nghiệp, cần phải có đánh giá toàn diện về hiện trạng của các DN đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp.

Tuy nhiên, theo đánh giá, dù số lượng DN nông nghiệp tăng lên nhưng vẫn còn chiếm tỷ trọng rất nhỏ, khoảng trên 1% trong tổng số các DN của cả nước. Nếu tính thêm cả DN chế biến nông lâm thủy sản và DN thương mại các mặt hàng lương thực thực phẩm thì chiếm khoảng 8%. Theo số liệu thống kê, các DN đầu tư vào nông nghiệp chủ yếu ở quy mô nhỏ và siêu nhỏ, chiếm 92,35%, tiếp đến là DN có quy mô lớn với 5,59% và DN có quy mô vừa với 2,06%.

Yêu cầu cắt giảm 50% điều kiện kinh doanh



Tại hội nghị, đại diện Câu lạc bộ nông nghiệp công nghệ cao thuộc Hội doanh nhân trẻ Việt Nam cho biết, một trong những nguyên nhân khiến tình trạng nông nghiệp Việt Nam chưa xứng tầm với tiềm năng có nguyên nhân đến từ vấn đề tích tụ đất đai và việc sử dụng tài nguyên thiếu tính bền vững.

Theo đó, Luật Đất đai 2013 và đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp đã bộc lộ một số vướng mắc về cơ chế, chính sách, cản trở quá trình phát triển nông nghiệp quy mô lớn và nâng cao hiệu quả sử dụng đất.

Quá trình tích tụ đất đai diễn ra chậm, manh mún vì vướng các quy định về hạn mức giao đất đang là yếu tố cản trở người dân và DN đầu tư dài hạn vào nông nghiệp, trong khi 96% diện tích đất nông nghiệp đã được giao cho các hộ gia đình.

Chưa có quy định rõ ràng về việc hỗ trợ DN thuê lại hoặc nhận góp vốn bằng quyền sử dụng đất nông nghiệp của nông dân nên việc triển khai các dự án đầu tư của DN sản xuất quy mô lớn còn gặp rất nhiều khó khăn.

Bên cạnh đó, để đầu tư nghiên cứu, ứng dụng công nghệ cao trong nông nghiệp, đòi hỏi đầu tư một lượng vốn rất lớn, thời gian thu hồi vốn lâu. Các DN phần lớn có quy mô nhỏ, khó tiếp cận được nguồn vốn lớn dẫn đến công nghệ lạc hậu, khó cạnh tranh, chi phí sản xuất cao dẫn đến lợi nhuận thấp.

Khẳng định nông nghiệp Việt Nam còn nhiều dư địa để phát triển, đặc biệt là phát triển các sản phẩm hữu cơ, sản phẩm chế biến, có giá trị gia tăng cao và các sản phẩm ứng dụng công nghệ cao, lãnh đạo Bộ KH&ĐT cho rằng, thực trạng DN đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp hiện nay giống như một bức tranh nhiều màu sắc, trong đó “còn nhiều mảng màu cần làm cho tươi sáng hơn trong tương lai”, đồng thời đưa ra nhiều giải pháp nhằm thúc đẩy DN đầu tư vào nông nghiệp.

Trong đó, Bộ trưởng Nguyễn Chí Dũng nhấn mạnh, cần nhanh chóng có giải pháp tạo quỹ đất, quy hoạch các vùng đất nông nghiệp, vùng nguyên liệu minh bạch, ổn định. Nghiên cứu, sửa đổi chính sách tạo điều kiện cho việc chuyển đổi đất nông nghiệp, thúc đẩy tích tụ, tập trung đất nông nghiệp, đảm bảo hài hòa lợi ích của Nhà nước, người nông dân và DN. Bên cạnh đó, phải thúc đẩy DN đầu tư, ứng dụng khoa học, công nghệ tiên tiến, hiện đại phục vụ sản xuất, kinh doanh trong nông nghiệp.

Phát biểu kết luận hội nghị, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc nhấn mạnh, Chính phủ và cộng đồng DN cần chung sức để đưa Việt Nam vươn lên vị trí hàng đầu thế giới về nông sản.

“Tại hội nghị này, tôi đặt hàng cho ngành nông nghiệp trong 10 năm tới phải đứng vào tốp 15 các nước phát triển nhất thế giới, trong đó lĩnh vực chế biến nông sản đứng vào tốp 10 thế giới. Nông nghiệp Việt Nam là một trung tâm chế biến sâu của nông nghiệp thế giới, là một trung tâm logistics của thương mại nông sản toàn cầu”.

Để hiện thực hóa tầm nhìn trên, Thủ tướng cho rằng, cốt lõi là sự phát triển của các DN đầu tư trong ngành nông nghiệp. Thủ tướng yêu cầu các bộ, ngành, địa phương tổ chức thực hiện tốt Nghị định 57 của Chính phủ về cơ chế, chính sách khuyến khích DN đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn vừa ban hành tháng 4/2018.

Cụ thể, Bộ KH&ĐT khẩn trương ban hành Thông tư hướng dẫn thực hiện Nghị định 57 để các DN có cơ sở được thụ hưởng ngay các chính sách ưu đãi của Chính phủ. Đặc biệt, đẩy mạnh rà soát, điều chỉnh, giảm các thủ tục hành chính trong lĩnh vực nông nghiệp. Cắt giảm 50% thủ tục hành chính thuộc lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn.

Bộ Công Thương hoàn thiện sửa đổi Nghị định 159 về XK gạo nhằm đơn giản hóa các điều kiện, thủ tục, tháo gỡ khó khăn cho DN trong XK gạo với tinh thần chung là tạo mọi điều kiện cho thương mại, nhất là XNK…

Nguồn:baohaiquan

Hải quan đã chủ động kiểm tra, kiểm soát phế liệu nhập khẩu

(HQ Online)- Việc điều tra, làm rõ các sai phạm liên quan đến hoạt động NK phế liệu không chỉ ở các đơn vị chống buôn lậu thuộc Tổng cục Hải quan mà toàn bộ cơ quan Hải quan các cấp đều thực hiện các biện pháp tăng cường kiểm tra, kiểm soát, nhằm phát hiện các dấu hiệu vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường, pháp luật hải quan.

Khó khăn trong quản lý giấy phép

Tại buổi họp báo chuyên đề về công tác quản lý hải quan đối với phế liệu NK (chiều 30/7, tại Hà Nội) do Tổng cục Hải quan tổ chức, Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Hải quan Mai Xuân Thành và đại diện các đơn vị vụ, cục thuộc Tổng cục Hải quan đã cung cấp thông tin cũng như trả lời nhiêu câu hỏi của các phóng viên về thực trạng quản lý phế liệu hiện nay, những giải pháp cơ quan Hải quan đã thực hiện trong thời gian qua, cũng như những vấn đề khó khăn trong thực hiện chính sách pháp luật về bảo vệ môi trường.

Phóng viên Truyền hình Nhân dân đặt câu hỏi về kẽ hở pháp luật trong quản lý phế liệu NK và những khó khăn trong phát hiện hành vi gian lận liên quan đến mặt hàng này?

Phó Tổng cục trưởng Mai Xuân Thành cho biết: Phế liệu là mặt hàng NK đặc thù theo quy định của Bộ Tài nguyên và Môi trường; việc lấy mẫu phế liệu để kiểm tra theo quy định tại Thông tư số 43/2010/TT-BTNMT ngày 29/12/2010 của Bộ Tài nguyên và Môi trường phải đáp ứng yêu cầu lấy mẫu tối thiểu ở 5 vị trí khác nhau của lô hàng, khối lượng mẫu nhiều: sắt, thép phế liệu tối thiểu là 100 kg, giấy và nhựa phế liệu tối thiểu là 10 kg mỗi container…).

Điều đó có nghĩa muốn phát hiện chính xác hàng hóa có đạt yêu cầu hay không, cơ quan Hải quan cũng như các tổ chức được Bộ Tài nguyên và Môi trường chỉ định tham gia chứng nhận phù hợp qui chuẩn về môi trường đối với phế liệu NK làm nguyên liệu sản xuất phải mở toàn bộ hàng hóa trong container, mất nhiều thời gian kiểm tra, phát sinh khó khăn trong bố trí, chi phí kho bãi.

Tiếp đó, cơ quan Hải quan cũng gặp khó khăn vì không thể xác định ngay được DN nào thực sự được Bộ Tài nguyên và Môi trường cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện về bảo vệ môi trường trong NK phế liệu làm nguyên liệu sản xuất. Vì hiện nay không có thông tin trên Hệ thống một cửa cửa quốc gia. Cơ quan Hải quan không có cơ sở đối chiếu khi DN mang chứng từ đến làm thủ tục.

Theo Phó Tổng cục trưởng Mai Xuân Thành, giải pháp khắc phục vấn đề này là Bộ Tài nguyên và Môi trường phải cung cấp lên Hệ thống một cửa quốc gia danh sách DN được cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện về bảo vệ môi trường trong NK phế liệu làm nguyên liệu sản xuất và văn bản Thông báo về lô hàng phế liệu nhập khẩu để cơ quan Hải quan có cơ sở kiểm tra, đối chiếu, tránh trường hợp làm giả, tẩy xóa, sửa đổi nội dung.

Trả lời câu hỏi về vi phạm của Công ty TNHH Dịch vụ Thương mai XNK Đức Đạt và trách nhiệm của cơ quan quản lý đến đâu khi xảy ra vụ việc này, đại diện Cục Điều tra chống buôn lậu cho biết: Cục Điều tra chống buôn lậu là đơn vị được Tổng cục Hải quan giao trực tiếp điều tra và khởi tố vụ án. Trong vụ việc này, cơ quan Hải quan đã phát hiện dấu hiệu bất thường của công ty này từ tháng 12/2017 khi DN này thực hiện thủ tục cùng lúc tại 3 cục hải quan khác nhau.

Cục Điều tra chống buôn lậu đã trực tiếp rút hồ sơ hoạt động XNK của DN này để nghiên cứu kỹ, đồng thời thực hiện các nghiệm vụ xác minh tại các đơn vị, địa bàn có liên quan. Sau khi thu thập đủ cơ sở chứng minh hành vi vi phạm của Công ty TNHH Dịch vụ Thương mại XNK Đức Đạt là sử dụng các giấy tờ, tài liệu giả gồm Giấy chứng nhận đủ điều kiện nhập khẩu phế liệu số 1094/GCN-STNMT ngày 14/9/2015 và các văn bản Thông báo lô hàng phế liệu nhập khẩu để kiểm tra, thông quan để nhập khẩu qua cảng Sài Gòn Khu vực 1, Khu vực 3 – TP. HCM và cảng Cái Mép, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu đối với 635 tờ khai, với tổng khối lượng là 13.046,252 kg, tổng trị giá theo khai báo 35.537.993.380 VNĐ, Cục Điều tra chống buôn lậu, Tổng cục Hải quan đã ra Quyết định số 07/QĐ-ĐTCBL và Quyết định số 08/QĐ-ĐTCBL ngày 17/7/2018 về việc khởi tố vụ án hình sự đối với Công ty TNHH Dịch vụ Thương mại XNK Đức Đạt về tội Vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới và chuyển hồ sơ vụ việc cho cơ quan Công an tiếp tục điều tra làm rõ.

Liên quan đến câu hỏi của phóng viên về việc có dấu hiệu tiếp tay, làm sai của công chức ở cơ sở không? Đại diện Cục Điều tra chống buôn lậu cho biết, trong thời gian ngắn, cơ quan Hải quan mới điều tra được sai phạm của DN, hiện tại cơ quan điều tra đang tiếp tục điều tra để làm rõ những vi phạm có liên quan. Về phía cơ quan Hải quan, Tổng cục Hải quan đã chỉ đạo các đơn vị thực hiện đầy đủ trách nhiệm trong việc thực hiện thủ tục đối với hàng hóa XNK nói chung và phế liệu nói riêng, trường hợp phát hiện sai phạm sẽ bị xử lý nghiêm theo quy định.

Hải quan thực hiện các biện pháp thắt chặt

Thông tin tại buổi họp báo, quyền Cục trưởng Cục Giám sát quản lý về hải quan Âu Anh Tuấn cho biết, thời gian gần đây, trên các phương tiên thông tin đại chúng phản ánh về hoạt động nhập khẩu, mua bán phế liệu ở nước ta có chiều hướng tăng mạnh, ngày càng diễn biến phức tạp, nguy cơ ô nhiễm và ảnh hưởng môi trưởng sống, gây bức xúc trong dư luận.

Nhiều lô hàng phế liệu nhập khẩu không đáp ứng các điều kiện quy định về bảo vệ môi trường trong nhập khẩu phế liệu làm nguyên liệu sản xuất nên doanh nghiệp không đến làm thủ tục hải quan hoặc không được cơ quan Hải quan giải quyết thủ tục thông quan dẫn đến tình trạng có một lượng lớn các loại phế liệu nhập khẩu đang tồn đọng tại các cảng biển Việt Nam.

Để đảm bảo công tác quản lý giám sát mặt hàng phế liệu nhập khẩu thực hiện đúng quy định của pháp luật về hải quan và pháp luật về bảo vệ môi trường, thực hiện ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại công văn số 5290/VPCP-KTTH ngày 5/6/2018 về việc quản lý chặt chẽ nhập khẩu phế liệu vào Việt Nam, Tổng cục Hải quan đã chỉ đạo các cơ quan Hải quan địa phương, các đơn vị nghiệp vụ của ngành Hải quan tăng cường thanh tra, kiểm tra việc chấp hành các quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường trong nhập khẩu phế liệu, xử lý nghiêm những trường hợp có hành vi gian lận, nhập khẩu phế liệu không đáp ứng về điều kiện, yêu cầu về bảo vệ môi trường theo đúng quy định của pháp luật. Chủ động xây dựng và triển khai ngay các kế hoạch kiểm soát rủi ro, phòng chống buôn lậu, kiểm tra sau thông quan, giám sát quản lý đối với mặt hàng phế liệu nhập khẩu.

Đồng thời, Bộ Tài chính (Tổng cục Hải quan) đã có công văn số 4202/TCHQ-PC ngày 17/7/2018 chỉ đạo, hướng dẫn cơ quan Hải quan địa phương thực hiện các biện pháp siết chặt phế liệu nhập khẩu trong đó có biện pháp ngăn chặn từ xa khi hàng hóa vẫn còn trên tàu, chưa dỡ hàng xuống cảng đối với hàng hóa là chất thải, phế liệu không đáp ứng điều kiện, quy chuẩn môi trường vào lãnh thổ trên cơ sở rà soát, phân tích thông tin hàng hóa khai báo trên bản lược khai hàng hóa (manifest) trước khi hàng đến.

Tổng cục Hải quan (Cục Điều tra chống buôn lậu) đang chủ trì triển khai kế hoạch “Điều tra, xác minh, xử lý vi phạm trong hoạt động nhập khẩu phế liệu”, tổ chức điều tra, xác minh các trường hợp có dấu hiệu nghi vấn trong hoạt động nhập khẩu phế liệu từ tháng 1/2016 đến tháng 5/2018 và xử lý các trường hợp vi phạm theo qui định của pháp luật, tập trung vào đấu tranh làm rõ các hành vi vi phạm: Làm giả giấy xác nhận khẩu phế liệu, sửa chữa thời gian thực hiện, khối lượng, chủng loại phế liệu được xác nhận nhập khẩu; làm giả, sửa chữa thông báo nhập khẩu phế liệu của các cơ quan có thẩm quyền; làm giả, sửa chữa giấy xác nhận ký quỹ nhập khẩu phế liệu; cung cấp văn bản chứng nhận phù hợp quy chuẩn kỹ thuật về môi trường đối với lô hàng phế liệu nhập khẩu không hợp lệ (làm giả hoặc pháp nhân cung cấp văn bản chứng nhận không có chức năng).

Thông kế mới nhất của Tổng cục Hải quan cho thấy, số liệu container tồn tại cảng Cát Lái – TP. Hồ Chí Minh tính đến ngày 25/7/2018 là 3.579 container trong đó: 30-90 ngày là 594 container; quá 90 ngày là 2.423 container ; số container còn lại là chưa quá 30 ngày.

Tại cảng Hải Phòng, tính đến ngày 5/7/2018 số container tồn là 1.485 container (trong đó 1.342 container là phế liệu nhựa, tăng thêm 228 container so với ngày 5/6/2018); 632 container tồn từ 30-90 ngày; 853 container tồn quá 90 ngày.

Nguồn:baohaiquan